Công văn

CÔNG VĂN

CỦA TOÀÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 24/1999/KHXX
NGÀY 17 THÁNG 3 NĂM 1999 VỀ VIỆC GIẢI ĐÁP BỔ SUNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

Kính gửi: Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp

Tại Hội nghị công tácngành Toà án năm 1998 (từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2 năm 1999), Toà án nhân dântối cao đã có bản giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động,hành chính và tố tụng. Tuy nhiên, tại Hội nghị này một số Toà án có ý kiến đềnghị được giải đáp bổ sung một số vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn xét xử.Trong lời bế mặc Hội nghị, Chánh án Toà án nhân dân tối cao thay mặt Uỷ banThẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã giải đáp sơ bộ về những vấn đề đó. Để ápdụng đúng và thống nhất pháp luật trong công tác xét xử, Toà án nhân dân tối caogiải đáp những vấn đề được nêu bổ sung tại Hội nghị như sau:

I. VỀ HÌNH SỰ

1. Đề nghị giải thíchcụm từ "người nào thấy người khác" quy định tại Điều 107 Bộ luật Hìnhsự. "Thấy" quy định trong điều luật này là "mắt nhìn thấy"hay là chỉ cần "biểt rõ"?

Theo Từ điển tiếng Việt năm 1992 thì "Thấy" có thểđược hiểu theo các cách khác nhau: nhậnbiết được bằng mắt nhìn (nhìn thấy); nhận biết được bằng giác quan nói chung(nghe thấy); nhận ra được, biết được qua nhận thức (thấy được khuyết điểm); cócảm giác, cảm thấy (thấy vui). Để truy cứu một người về "tội cố ý khôngcứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng" (Điều 107Bộ luật Hình sự) thì "Thấy" ở đây không phải hiểu theo nghĩa rộng nhưcác cách khác nhau được giải thích trong Từ điển tiếng Việt năm 1992, nhưngcũng không phải hiểu theo nghĩa hẹp là chỉ "nhìn thấy"."Thấy" quy định trong Điều 107 Bộ luật Hình sự hoặc là "mắt nhìnthấy" hoặc là tuy mắt không nhìn thấy nhưng "có đầy đủ căn cứ biếtrõ" người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy cóđiều kiện mà không cứu giúp dẫn đến chết người.

2. Người được miễntrách nhiệm hình sự có phải là người không phạm tội hay không, có phải là hànhvi của họ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự và chỉ có thể bị xử lýhành chính hay không? Khi tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tộithì có phải quyết định hình phạt bổ sunghay không, nếu điều luật có quy định hình phạt bổ sung đối với tội đó; tráchnhiệm dân sự (nếu có) sẽ giải quyết như thế nào?

Về vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại mục VIII Nghịquyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự" (Xem cuốn Cácvăn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; năm 1990; trang 22), nay cần nhấn mạnhthêm là "miễn trách nhiệm hình sự" và "Không phạm tội" làhai trường hợp hoàn toàn khác nhau.

- Miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người phạmtội mà khi họ thực hiện hành vi phạm tội nếu căn cứ vào tình hình hoặc căn cứvào nhân thân của họ tại thời điểm đó, thì họ phải bị truy cứu trách nhiệm hìnhsự, nhưng khi tiến hành điều tra hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hìnhmà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Vídụ: Một người trộm cắp tài sản của công dân có giá trị 1 triệu đồng. Nếu tạithời điểm họ thực hiện hành vi trộm cắp đó, thì họ phải bị truy cứu trách nhiệmhình sự theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự, thế nhưng sau khi Viện kiểm sáttruy tố ra trước Toà án thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử họ đã lập công lớntrong việc dập tắt một đám cháy và đã bị thương tích nặng. Trong trường hợp nàyhọ có thể được miễn trách nhiệm hình sự vì bản thân họ không còn nguy hiểm choxã hội nữa. Miễn trách nhiệm hình sự cũng có thể được áp dụng đối với ngườiphạm tội, nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tựthú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tộiphạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.

- Không phạm tội là trường hợp hành vi của họ không cấuthành tội phạm (như phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; những hành vi tuycó dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đángkể...), hay họ không thực hiện hành vi phạm tội đó mà là do người khác thựchiện..., có nghĩa là ngay tại thời điểm mà họ thực hiện hành vi đó hay ngay tạithời điểm có hành vi phạm tội xảy ra căn cứ vào các quy định của pháp luật thìhọ không phạm tội.

Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu tráchhình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung; tuy nhiên, tuỳ trường hợp cụ thểToà án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp đối với họ và giải quyếttrách nhiệm dân sự (nếu có). Tuỳ trường hợp cụ thể người được miễn trách nhiệmhình sự có thể bị xử lý hành chính.

3. Đối với người chiếmđoạt tài sản là tiền rồi dùng tiền đó mua vé xổ số và trúng thưởng, thì có ápdụng Điều 33 Bộ luật Hình sự để tịch thu khoản tiền trúng thưởng đó hay không?

Theo điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự thì Toà án quyếtđịnh tịch thu sung quỹ Nhà nước "những vật, tiền bạc mà người phạm tội dothực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có". Trongtrường hợp một người chiếm đoạt tài sản là tiền rồi dùng tiền đó mua vé xổ sốvà trúng thưởng thì khoản tiền trúng thưởng đó là do mua vé xổ số mà có, tức làthuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự; do đó,Toà án quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước. Việc quyết định tịch thu sung quỹNhà nước khoản tiền trúng thưởng này không những đúng theo quy định tại điểm bkhoản 1 Điều 33 Bộ luật Hình sự mà là hết sức cần thiết nhằm đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm.

4. Người phạm tội vềma tuý bị Toà án đã tuyên phạt tử hình, thì đối với họ có cần thiết phải tuyênhình phạt bổ sung là phạt tiền nữa hay không?

Theo quy định tại Điều 185o Bộ luật Hình sự thì người phạmtội ngoài việc phải chịu hình phạt chính còn phải chịu hình phạt bổ sung làphạt tiền. Như vậy, việc quyết định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớingười phạm tội là bắt buộc. Việc thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền có thểđược thực hiện trước hoặc sau khi thi hành hình phạt tử hình. Nếu sau khi đãthi hành xong án tử hình mà vẫn còn tài sản của người bị thi hành án tử hình,thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn tiếp tục thi hành hình phạt tiền đối với họtrong phạm vi khối tài sản mà họ để lại; nếu họ không còn bất cứ một thứ tàisản nào để thi hành hình phạt tiền, thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ ra quyếtđịnh đình chỉ thi hành án phạt tiền đối với họ.

5. Một người mua chấtma tuý để sử dụng và khi đang đi trên đường thì bị bắt với số lượng mà theohướng dẫn thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này cầntruy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội về tội "vận chuyển trái phépchất ma tuý" hay về tội "tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Trước hết cần phân biệt thế nào "tàng trữ tráiphép" và thế nào"vận chuyển trái phép" theo hướng dẫn tại khoản2 mục II phần B Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT /TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày2-1-1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Bộ luật Hình sự" (Xem cuốn các văn bản hình sự, dân sự, kinh tế và tốtụng; năm 1998; trang 48). Trong trường hợp cụ thể được nêu ra trên đây nếu cóđầy đủ căn cứ xác định rằng người đó mua chất ma tuý để sử dụng với số lượngđến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng có nghĩa là có căn cứ khẳngđịnh người đó mua chất ma tuý cất giữ để sử dụng dần; do đó, đối với trường hợpmua chất ma tuý để sử dụng với số lượng đến mức phải bị truy cứu trách nhiệmhình sự mà đang cất giữ ở trong người cho dù phát hiện được trong trường hợp họđang đi trên đường thì cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ về tội"tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tuy nhiên, so sánh Điều 185c vàĐiều 185d Bộ luật Hình sự, thì các tình tiết định khung tăng nặng, các khunghình phạt là như nhau; do đó, đối với trường hợp nêu trên, nếu Viện kiểm sát đãtruy tố về tội "vận chuyển trái phép chất ma tuý", thì Toà án vẫn cóthể kết án bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.

6. Đối với người cóhành vi mua thuốc phiện một lần và đã bán cho nhiều người, mà tổng số thuốcphiện của các lần bán cộng lại là dưới 500 gam, thì có xét xử theo quy định tạiđiển b khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hình sự hay không? Nếu Viện kiểm sát truy tố vàToà án cũng xét xử trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 185đ và coitình tiết "phạm tội nhiều lần" là tình tiết tăng nặng theo điểm ikhoản 1 Điều 39 Bộ luật Hình sự, thì có đúng hay không? Nếu mọi trường hợp muathuốc phiện một lần rồi bán cho nhiều người, đều bị coi là "phạm tội nhiềulần" và bị xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hìnhsự, thì đề nghị hướng dẫn việc áp dụng hình phạt đối với 2 trường hợp cụ thểsau đây: trường hợp mua 3,75 gam thuốc phiện, bán cho nhiều người và trường hợpmua 400 gam thuốc phiện, bán cho nhiều người vì số lượng thuốc phiện của trườnghợp thứ 2 gấp hơn 100 lần trường hợp thứ nhất trong khi mức hình phạt quy địnhđối với những trường hợp thuộc khoản 2 Điều 185đ là từ 10 năm tù đến 15 năm tù.

Theo tinh thần hướng dẫn tại điểm a khoản 4 mục II phần BThông tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2-1-1998 của Toà ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn ápdụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hìnhsự", thì người mua bán thuốc phiện có trọng lượng dưới 500 gam bị truy cứutrách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 185đ Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần lưuý rằng hướng dẫn này mới chỉ căn cứ vào trọng lượng chất ma tuý mà chưa xét đếncác tình tiết định khung hình phạt khác. Theo tinh thần hướng dẫn tại điểm cmục 8 Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT /TANDTC-VKSNDTC-BCA ngày 5-8-1998 củaToà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, thì phảiáp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội nhiều lần" quy địnhtại điểm b khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hình sự trong các trường hợp: mua tráiphép chất ma tuý từ hai lần trở lên nhằm bán trái phép cho người khác, khôngphân biệt bán một lần hoặc bán nhiều lần; mua trái phép chất ma tuý một lần vàbán lại trái phép số lượng chất ma tuý đó từ hai lần trở lên cho người khác,không phân biệt bán lại từ hai lần trở lên cho một người hoặc cho nhiều người;mua trái phép chất ma tuý một lần và bán lại trái phép số lượng chất ma tuý đótrong cùng một lúc cho hai người trở lên. Như vậy, đối với trường hợp người muatrái phép thuốc phiện có trọng lượng dưới 500 gam đem bán lại cho nhiều ngườilà trường hợp "phạm tội nhiều lần" và phải bị truy cứu trách nhiệmhình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hình sự; nếu có thêmmột tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hìnhsự (ví dụ: sử dụng người chưa thành niên vào việc phạm tội) thì phải bị truycứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 3 Điều 185đ Bộ luật Hình sự. Do đó,đối với các trường hợp nêu trên nếu Viện kiểm sát chỉ truy tố và Toà án cũngchỉ xét xử theo khoản 1 Điều 185đ Bộ luật Hình sự và coi tình tiết "phạmtội nhiều lần" là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39Bộ luật Hình sự là không đúng.

Trong các trường hợp nêu trên mặc dù đều bị truy cứu tráchnhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185đ Bộ luật Hình sự, nhưng khi quyết định hìnhphạt Toà án phải căn cứ vào nguyên tắc quyết định hình phạt quy định tại Điều37 Bộ luật Hình sự, nếu so sánh các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trong cáctrường hợp này như nhau, chỉ có số lượng thuốc phiện khác nhau, thì số lượngthuốc phiện càng lớn càng phải xử phạt nghiêm khắc hơn.

7. Tại điểm b mục 9Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA ngày 5-8-1998 của Toà ánnhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an "Hướng dẫn ápdụng một số quy định tại chương VIIA Các tội phạm về ma tuý của Bộluật Hình sự" có hướng dẫn:

"Người nào đã bịkết án về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ luật Hình sự,nhưng chưa được xoá án mà lại tàng trữ trái phép hoặc vận chuyển trái phép mộttrong các chất ma tuý được hướng dẫn trên đây (được hướng dẫn tại dấu (*) thứnhất tiết b điểm 4 mục II phần B của Thông tư liên tịch số 01/1998) nếu khôngthuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theokhoản 1 Điều 185c hoặc khoản 1 Điều 185d tương ứng"; Nếu thuộc trường hợptái phạm nguy hiểm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 185choặc khoản 2 Điều 185d tương ứng.

Đề nghị giải thíchtrong các trường hợp tàng trữ trái phép chất ma tuý, vận chuyển trái phép chấtma tuý là thuốc phiện có trọng lượng dưới một gam (1g) hoặc hêrôin có trọnglượng dưới không phẩy một gam (0,1g), nhưng đã bị kết án mà chưa được xoá án,thì trong trường hợp nào xét xử theo khoản 1 Điều 185c (hoặc khoản 1 Điều 185d)và trong trường hợp nào xét xử theo khoản 2 Điều 185c (hoặc khoản 2 Điều 185d);cụ thể là:

a- Đã bị kết án mộtlần về tội phạm về ma tuý, nhưng chưa được xoá án;

b- Đã bị kết án mộtlần về tội phạm về ma tuý và một lần về tội phạm khác, nhưng chưa được xoá án;

c- Đã bị kết án hailần đều không phải về tội phạm về matuý.

Theo hướng dẫn tại tiết b điểm 4 Mục II Phần B của Thông tưliên tịch số 01/1998 và tại điểm b mục 9 của Thông tư liên tịch số 02/1998, thìngười nào tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép chất ma tuý là thuốc phiệncó trọng lượng dưới một gam (1g) hoặc hêrôin có trọng lượng dưới không phẩy mộtgam (0,1g) chỉ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi họ đã bị kếtán về một trong các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ luật Hình sự,nhưng chưa được xoá án. Nếu trước đó họ chỉ bị kết án một hoặc nhiều lần về tộiphạm (các tội phạm) khác không phải là về một trong các tội phạm về ma tuý, thìhọ vẫn không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phépchất ma tuý hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý. Như vậy, điều kiện bắt buộcđể truy cứu trách nhiệm hình sự người nào tàng trữ trái phép hoặc vận chuyểntrái phép chất ma tuý là thuốc phiện có trọng lượng dưới một gam (1g) hoặchêrôin có trọng lượng dưới không phẩy một gam (0,1g) là trước đó họ đã bị kếtán về một trong các tội phạm về ma tuý, nhưng chưa được xoá án.

Trong trường hợp theo hướng dẫn trên đây họ phải bị truy cứutrách nhiệm hình sự, thì việc xác định họ không thuộc trường hợp tái phạm nguyhiểm hay thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm để xét xử họ theo khoản 1 hay theokhoản 2 Điều 185c hoặc theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 185d không phải căn cứ vàosố lần họ đã bị kết án, nhưng chưa được xoá án mà phải căn cứ vào Điều 40 Bộluật Hình sự. Cũng có thể trước đó họ chỉ mới một lần bị kết án về một trongcác tội phạm về ma tuý, nhưng chưa được xoá án song trong trường hợp này thì họkhông phải là tái phạm nguy hiểm nên chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 185c hoặckhoản 1 Điều 185d Bộ luật Hình sự, song trong trường hợp khác họ là tái phạmnguy hiểm và phải bị xét xử theo khoản 2 Điều 185c hoặc khoản 2 Điều 185d Bộluật Hình sự.

Ví dụ 1: Một người đã bị kết án một năm tù theo khoản 1 Điều185l Bộ luật Hình sự về "tội sử dụng trái phép chất ma tuý" và chưađược xoá án, nay tàng trữ trái phép 0,5 gam thuốc phiện, thì trong trường hợpnày theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật Hình sự họ chỉ là tái phạm màkhông phải là tái phạm nguy hiểm; do đó, họ chỉ bị kết án theo khoản 1 Điều185c Bộ luật Hình sự. Tình tiết tái phạm chỉ là tình tiết tăng nặng trách nhiệmhình sự đối với họ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 39 Bộ luật Hình sự

Ví dụ 2: Một người đã bị kết án ba năm tù theo khoản 1 Điều185đ Bộ luật Hình sự về "tội mua bán trái phép chất ma tuý" và chưađược xoá án, nay tàng chữ trái phép 0,5 gam thuốc phiện, thì trong trường hợpnày theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 40 Bộ luật Hình sự họ là tái phạmnguy hiểm; do đó, họ phải bị kết án theo điểm n khoản 2 Điều 185c Bộ luật Hìnhsự.

Ví dụ 3: Một người đã bị kết án một năm tù theo khoản 1 Điều 109 Bộ luật Hình sự về tộicố ý gây thương tích và chưa được xoá án, thì lại bị kết án một năm tù theokhoản 1 Điều 185l Bộ luật Hình sự về tội sử dụng trái phép chất ma tuý và cũngchưa được xoá án, nay lại tàng trữ trái phép 0,5 gam thuốc phiện, thì trongtrường hợp này theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 40 Bộ luật Hình sự họ làtái phạm nguy hiểm và, do đó, họ phải bị xét xử theo điểm n khoản 2 Điều 185cBộ luật Hình sự.

II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Hồ sơ thi hành ánphạt tù của Toà án gồm những giấy tờ gì?

Theo quy định tại Điều 15 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù, thìhồ sơ thi hành án phạt tù của Toà án bước đầu phải có bản sao bản án, quyếtđịnh phạt tù đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết địnhđó của Toà án. Ngoài hai loại giấy tờ này, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà cónhững loại giấy tờ khác. Ví dụ, nếu sau khi ra quyết định thi hành án phạt tùmà người bị kết án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 231 Bộ luậtTố tụng hình sự mà được hoãn thi hành án phạt tù thì trong hồ sơ thi hành ánphạt tù được bổ sung quyết định hoãn thi hành án phạt tù. Nếu sau khi ra quyếtđịnh thi hành án phạt tù mà người bị kết án đã vào trại giam, thì trong hồ sơthi hành án phạt tù được bổ sung văn bản thông báo của giám thị trại giam nơingười bị kết án chấp hành hình phạt tù về việc đã tiếp nhận người bị kết án tùđã vào trại giam.

Nói chung trong quá trình thi hành án phạt tù mà Toà án haycác cơ quan khác có thẩm quyền ra bất kỳ một quyết định, văn bản nào có liênquan đến việc thi hành án phạt tù thì phải được bổ sung vào hồ sơ, như bản saoquyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt từ; bản sao quyết định giảm thời hạnchấp hành hình phạt tù; bản sao quyết định đặc xá v.v...

2. Đối với trường hợpxét xử sơ thẩm không có mặt bị cáo, đương sự tại phiên toà, thì đến thời điểmnào mà vẫn không có kháng cáo của những người này bản án sơ thẩm bắt đầu cóhiệu lực đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm?

Theo hướng dẫn tại khoản 1 Mục II Thông tư liên ngành số 04/TTLN ngày 26-12-1996 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tốicao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ "Hướng dẫn áp dụng thời hiệu thi hành bản ánhình sự", thì bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạnkháng cáo, kháng nghị. Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hìnhsự, thì "Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án".Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. Thời hạn kháng nghịcủa Viện Kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trựctiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Như vậy theo các quy định và hướngdẫn trên đây, thì đối với trường hợp xét xử sơ thẩm không có mặt bị cáo, đươngsự tại phiên toà, thì việc xác định thời điểm nào mà vẫn không có kháng cáo củahọ, bản án sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực pháp luật cần phân biệt như sau:

- Nếu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm màToà án cấp sơ thẩm đã giao bản sao bản án cho họ hoặc đã niêm yết tại trụ sởchính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc, thì thời điểmbản án hình sự sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực đối với họ bắt đầu từ ngày hết thờihạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên, (tức là bắt đầu từ ngày thứ 31 kể từngày tuyên án).

- Nếu sau 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm mà Toà án cấpsơ thẩm mới giao bản sao bản án cho họ hoặc mới niêm yết tại Trụ sở chính quyềnxã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc, thì thời điểm bản án hìnhsự sơ thẩm bắt đầu có hiệu lực đối với họ bắt đầu từ ngày thứ 16, kể từ ngày niêmyết (nếu những người khác có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án đối với họ màkhông có kháng cáo, kháng nghị).

3. Một người phạm tộicố ý gây thương tích thuộc khoản 1 Điều 109 Bộ luật Hình sự và vụ án đối với họđã được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Người phạm tội đã bị truy tố vàToà án cấp sơ thẩm đã xét xử và kết án bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, người bịhại có đơn gửi Toà án cấp phúc thẩm xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, thì Toà áncấp phúc thẩm giải quyết như thế nào?

Đối với trường hợp vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầucủa người bị hại và sau đó người bị hại rút yêu cầu, thì khoản 2 Điều 88 Bộluật Tố tụng hình sự chỉ quy định: "Trong trường hợp người bị hại rút yêucầu trước ngày mở phiên toà thì vụ án phải được đình chỉ. Trong trường hợp cầnthiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện Kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếptục tiến hành tố tụng đối với vụ án". Tuy khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụnghình sự chỉ quy định chung chung là "Trong trường hợp người bị hại rút yêucầu trước ngày mở phiên toà" mà không quy định cụ thể là trước ngày mởphiên toà nói chung (sơ thẩm, phúc thẩm, kể cả giám đốc thẩm) hay chỉ là trướcngày mở phiên toà sơ thẩm, song cần hiểu là chỉ trong trường hợp vụ án đượckhởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà trước ngày mở phiên toà sơ thẩm ngườibị hại rút yêu cầu và Viện Kiểm sát hoặc Toà án xét thấy không cần thiết phảitiếp tục tiến hành tố tụng thì vụ án phải được đình chỉ. Nếu chúng ta hiểu theonghĩa rộng "trước ngày mở phiên toà" có thể là trước ngày mở phiêntoà sơ thẩm, có thể là trước ngày mở phiên toà phúc thẩm, (cũng có thể là kể cảtrước ngày mở phiên toà giám đốc thẩm), thì trong trường hợp vị cáo không khángcáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, mà chỉ có người bịhại có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án (có thể là trong thời hạn kháng cáo,có thể là sau khi hết thời hạn kháng cáo), thì rõ ràng vụ án không đượcthụ lý để xét xử phúc thẩm và trongtrường hợp này đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án không được xem xét; do đó, nếusau khi Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử sơ thẩm và trong thời hạn kháng cáo mà người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởitố vụ án, thì coi đây là đơn kháng cáo của người bị hại. Trong trường hợp này,Toà án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án và giải quyết theo thủ tục chung. Tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà Toà án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự miễntrách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo. Trong trường hợp xét thấycần thiết thì có thể không chấp nhận đơn kháng cáo của người bị hại mà vẫn giữnguyên các quyết định của bản án sơ thẩm. Trong trường hợp sau khi Toà án cấpsơ thẩm đã xét xử sơ thẩm và trong hạn kháng cáo, kháng nghị không có khángcáo, kháng nghị, chỉ có sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị người bị hạimới có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án, thì vụ áníẽ được xem xét lại theotrình tự giám đốc thẩm.

4. Viện kiểm sát truytố bị cáo về tội cướp tài sản của công dân và Toà án đã ra quyết định đưa vụ ánra xét xử bị cáo về tội cướp tài sản của công dân. Sau khi kết thúc việc xéthỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và đề nghị kết tội bịcáo về tội danh nhẹ hơn là gây rối trật trật tự công cộng. Khi nghị án Hội đồngxét xử thấy có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội cướp tài sản của công dân,thì Hội đồng xét xử có quyền kết án bị cáo về tội cướp tài sản của công dânkhông?

Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Toàán chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát truytố và Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đồng thời, theo tinh thần củaquy định tại Điều 169, Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong trường hợp Kiểmsát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơnthì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án. Mặt khác, theo quy định tại khoản3 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự thì khi nghị án, chỉ được căn cứ vào cácchứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; do đó, trong trường hợpđược nêu trên đây khi nghị án Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ căn cứ kết tội bịcáo về tội cướp tài sản của công dân, thì Hội đồng xét xử có quyền không chấpnhận đề nghị của Viện kiểm sát và tuyên bố bị cáo phạm tội cướp tài sản củacông dân. Điều đó là hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật Tố tụng hìnhsự. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyếtđịnh truy tố tại phiên toà, thì Hội đồng xét xử phải thực hiện đúng các quyđịnh tại khoản 2 Điều 195, khoản 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự và hướngdẫn tại Mục III Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quyđịnh trong Bộ luật Tố tụng hình sự" (Xem cuốn các văn bản về hình sự, dânsự và tố tụng; năm 1990; tr.136).

5. Trong một vụ ánhình sự khi xét xử phúc thẩm (hay giám đốc thẩm), Toà án cấp phúc thẩm (hay cấpgiám đốc thẩm) đã quyết định huỷ phần dân sự và giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấpsơ thẩm xét xử lại đối với phần dân sự, thì thủ tục thế nào? Nếu trong vụ án đócó ba người phải nộp tiền tạm ứng án phí mà chỉ có một người nộp tiền tạm ứngán phí còn lại hai người khác không nộp, thì toà án có giải quyết luôn tất cảđối với yêu cầu của cả ba người hay không?

Vấn đề này cần phân biệt như sau:

a- Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm (hay Toà án cấpgiám đốc thẩm) quyết định huỷ các quyết định về phần dân sự trong bản án hìnhsự và giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại vụ án về phầndân sự theo thủ tục chung, thì Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử lại vụ ántheo thủ tục tố tụng tố tụng hình sự, mặc dù chỉ xét xử về phần dân sự. Trongtrường hợp này, tuy các đương sự trong vụ án hình sự không nộp tiền tạm ứng ánphí dân sự, nhưng Toà án vẫn tiến hành giải quyết phần dân sự của vụ án hìnhsự.

b- Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm (hay Toà án cấpgiám đốc thẩm) quyết định huỷ các quyết định về phần dân sự để giải quyết lạitrong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu, thì việc giải quyết phần dân sự khicó yêu cầu theo thủ tục chung về tố tụng dân sự. Trong trường hợp này nếu chỉcó một người nộp tiền tạm ứng án phí dân sự, thì cần phân biệt như sau:

- Nếu cả ba người đều có yêu cầu Toà án giải quyết phần dânsự cho họ, mà các yêu cầu của ba người này có liên quan với nhau (ví dụ: cả bangười có yêu cầu đòi bồi thường chiếc ô tô là tài sản của chung của họ bị chiếmđoạt) thì dù chỉ có một người nộp tiền tạm ứng án phí dân sự, Toà án vẫn thụ lýđể giải quyết trong cùng một vụ án dân sự các yêu cầu của cả ba người.

- Nếu cả ba người đều có yêu cầu Toà án giải quyết phần dân sự cho họ, nhưngcác yêu cầu của ba người này hoàn toàn độc lập với nhau (ví dụ: người thứ nhấtyêu cầu bồi thường chiếc xe đạp, người thứ hai yêu cầu đòi bồi thường chiếc máykhâu và người thứ ba yêu cầu đòi bồi thường chiếc xe máy), thì chỉ có người nàonộp tiền tạm ứng án phí dân sự theo yêu cầu của mình, Toà án mới thụ lý để giảiquyết theo thủ tục chung.

6. Theo quy định tạiĐiều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự thì một trong những loại bản án, quyết định cóhiệu lực pháp luật được thi hành là "Những bản án và quyết định của Toàán cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, khángnghị theo trình tự phúc thẩm" (điểm b khoản 1). Vậy trong một vụ án cónhiều bị cáo, có bị cáo kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị, có bị cáo khôngkháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, thì bản án sơ thẩm đó đã có hiệu lựcpháp luật hay chưa? Cần hiểu bản án có hiệu lực pháp luật hay phần bản án cóhiệu lực pháp luật.

Khoản 1 Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:"Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thihành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 226 Bộ luật này. Khi có khángcáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thihành". Như vậy, theo quy định này thì những phần của bản án sơ thẩm khôngbị kháng cáo, kháng nghị là có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành; nếutoàn bộ bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì toàn bộ bản án sơthẩm có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành. Do đó, trong một vụ án cónhiều bị cáo, có bị cáo kháng cáo hay bị kháng cáo, kháng nghị, có bị cáo khôngkháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, thì toàn bộ bản án sơ thẩm đó chưacó hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này khái niệm "những bản án vàquyết định" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sựcần phải hiểu là phần bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, khángnghị.

III. VỀ DÂN SỰ

1. Trong trường hợpvay tài sản là vàng và có thoả thuận trả lãi suất bằng tiền, nếu có tranh chấpthì việc tính lãi suất như thế nào? Có thể quy vàng ra tiền để tính lãi suấttheo số tiền đó được không?

Về vấn đề này tại khoản 5 Mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính "Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tàisản" đã hướng dẫn: "Trong trường hợp đối tượng hợp đồng vay tài sảnlà vàng, thì lãi suất chỉ được chấp nhận khi Ngân hàng Nhà nước có quy định vàcách tính lãi suất không phân biệt như các trường hợp đã nêu tại khoản 4 trênđây, mà chỉ tính bằng mức lãi suất Ngânhàng nhà nước quy định". (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tếvà tố tụng; năm 1998; tr.163). Như vậy, khi các bên có tranh chấp và có yêu cầuToà án giải quyết việc vay tài sản là vàng và có lãi suất, thì Toà án cần xácđịnh lại xem việc giao dịch vay vàng vào thời điểm nào và tại thời điểm đó Ngânhàng Nhà nước có quy định việc cho vay vàng có lãi suất hay không? Nếu tại thờiđiểm giao dịch vay vàng không có quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc chovay vàng có lãi suất, thì Toà án không chấp nhận việc tính lãi suất. Nếu tạithời điểm giao dịch vay vàng có quy định của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vayvàng có lãi suất, thì Toà án chấp nhận việc tính lãi suất và mức lãi suất chỉđược tính bằng mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước quy định, không tính lãi suấtbằng tiền và cũng không quy vàng ra tiền để tính lãi suất theo số tiền.

2. Khi quyết định việcđóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con, thì Toà án căn cứ vào đâu và mứcđóng góp phí tổn tối thiểu là bao nhiêu?

Trước hết phải khẳng định rằng việc quyết định người khôngnuôi giữ con phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con là căn cứ vào Điều45 Luật hôn nhân và gia đình "... Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ vàquyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con.Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấutrừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó...". Trongtrường hợp các bên không thoả thuận được với nhau về việc đóng góp phí tổn nuôidưỡng, giáo dục con, thì việc quyết định mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáodục con phải tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Toà án phải xem xét đến khảnăng kinh tế nói chung và thu nhập nói riêng của người phải đóng góp phí tổncũng như khả năng kinh tế nói chung và thu nhập nói riêng của người nuôi dưỡngcon. Tuy nhiên, căn cứ vào mức sống của nhân dân ta trong hoàn cảnh của đấtnước ta hiện nay, Toà án nhân dân tối cao tạm thời hướng dẫn là mức đóng gópphí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới 1/2 (một phần hai) mứclương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm đối với mộtngười con.

3. Trong trường hợpToà án đã xử cho vợ chồng ly hôn và giao con là người chưa thành niên cho vợ(hoặc chồng) trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, nay người được nuôi dưỡng con đixuất cảnh và muốn đưa con đi cùng, nhưng người không được nuôi giữ con khôngđồng ý nên xảy ra tranh chấp và đương sự yêu cầu Toà án giải quyết, thì cầngiải quyết như thế nào?

Theo quy định tại Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình, thì"Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặcmức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con"; do đó, trong trường hợptrên đây, nếu người không được nuôi giữ con đã có đơn yêu cầu Toà án giải quyếtthay đổi việc nuôi giữ con, thì Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tục chung;nếu họ chưa có đơn thì Toà án hướng dẫn cho họ làm đơn yêu cầu Toà án giảiquyết thay đổi việc nuôi giữ con và khi họ đã có đơn, thì Toà án thụ lý để giảiquyết theo thủ tục chung. Khi xem xét yêu cầu thay đổi việc nuôi giữ con, thìToà án cũng phải căn cứ vào tinh thần quy định tại Điều 45 Luật hôn nhân và giađình để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cần thay đổi việc nuôigiữ con; cụ thể là: "... Việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom,nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, về nguyêntắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ". Trong trường hợp họkhông làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi việc nuôi giữ con, mà chỉ yêucầu người được nuôi giữ không được đưa con đi xuất cảnh với mục đích cản trởviệc xuất cảnh của người được xuất cảnh, thì đây là loại việc không thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án.

IV. VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Khi có người khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc không chấp nhận yêucầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ về hộ tịch, thì Toà án có đưa cơ quanhộ tịch vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn hay không?

Theo tinh thần hướng dẫn tại mụcIV Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dântối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết cácvụ án dân sự, thì đương sự có quyền khiếu nại cơ quan hộ tịch về việc khôngchấp nhận yêu cầu sửa đổi những điều ghi trong giấy tờ hộ tịch như thay đổi họ,tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh hoặc sửa chữa bổ sung các sai sót như nhầmtên của cha, mẹ trong giấy khai sinh... Thẩm quyền giải quyết loại việc này làToà án cấp huyện nơi có trụ sở của cơ quan hộ tịch bị khiếu nại. Đối với loạiviệc này, Toà án phải đưa cơ quan hộ tịch vào tham gia tố tụng với tư cách làbị đơn; nếu Toà án đã gửi giấy triệu tập hai lần mà cơ quan hộ tịch đó không cửngười tham gia tố tụng, thì căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Pháp lệnhthủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Toà án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tụcchung.

2. Trong các trường hợp xin xác định là cha hoặc là mẹ cho con, thì cóbắt buộc phải giám định máu, giám định gien của người con và người cần xác địnhlà cha hoặc là mẹ cho con hay không? Nếu không bắt buộc phải giám định, thì cóthể xảy ra trường hợp cùng việc đó khi họ có yêu cần cơ quan hộ tịch, thì cóquan hộ tịch không xác định là cha hoặc là mẹ cho con, nhưng khi họ yêu cầu Toàán, thì Toà án lại xác định là cha hoặc là mẹ cho con.

Vấn đề này cần phân biệt nhưsau:

- Trong trường hợp có yêu cầunhận cha, mẹ cho con và người được yêu cầu nhận là cha, là mẹ cho con cũng nhậnrằng mình là cha, là mẹ của người con đó, thì theo quy định của Luật hôn nhânvà gia đình, họ chỉ cần yêu cầu cơ quan hộ tịch công nhận và ghi vào sổ khaisinh. Nếu cơ quan hộ tịch từ chối việc công nhận và ghi vào sổ khai sinh, thìtheo quy định tại khoản 5 Điều 10 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sựvà hướng dẫn tại Mục IV Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩmphán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự", họ có quyền khiếu nại và yêucầu Toà án giải quyết việc cơ quan hộ tịch từ chối việc công nhận và không ghivào sổ khai sinh của cha, mẹ cho con. Nếu họ có yêu cầu, thì Toà án thụ lý đểgiải quyết theo thủ tục chung. Trong trường hợp này Toà án cần phải xem xét kỹlý do mà cơ quan hộ tịch từ chối việc công nhận và không ghi vào sổ khai sinhcha, mẹ cho con. Nếu chỉ vì lý do là chưa có giám định máu, giám định gien,nhưng các bên liên quan vẫn không ai có ý kiến gì khác, không có tranh chấp thìToà án chấp nhận yêu cầu khiếu nại của đương sự mà không cần giám định máu,giám định gien.

- Trong trường hợp có tranh chấpvề nhận con, nhận cha, nhận mẹ thì Toà án nhân dân nơi thường trú của người congiải quyết vụ án (Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình) và trong trường hợp này,việc giám định máu, giám định gien là cần thiết.

V. VỀ KINH TẾ

1. Bị can, bị cáo đang bị tạm giam có được uỷ quyền cho người khác đạidiện cho mình tham gia tố tụng tại Toà án trong quá trình giải quyết các tranhchấp kinh tế phát sinh từ các quan hệ kinh tế do họ xác lập khi chưa bị bắt tạmgiam không?

Nếu có tranh chấp kinh tế và có yêu cầu Toà án giải quyết màToà án xác định tư cách của bị can, bị cáo đang bị tạm giam là đương sự trongvụ án kinh tế đó, thì theo quy định tại Điều 9 và Điều 20 Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án kinh tế bị can, bị cáo đang bị tạm giam là đương sự trongvụ án kinh tế đó có thể uỷ quyền cho Luật sư hoặc người khác đại diện cho mìnhtham gia tố tụng. Việc uỷ quyền này phải được lập thành văn bản và cần có chứngnhận của Trại tạm giam hoặc Trại giam.

2. Trong quá trìnhgiải quyết một số vụ án kinh tế mà có một trong các đương sự là bị can hoặc bịcáo đang bị tạm giam và họ không uỷ quyền cho người khác thay mình tham gia tốtụng, việc trích xuất họ đến Toà án để tiến hành hoà giải cũng không thực hiệnđược, thì Toà án có thể tiến hành hoà giải tại Trại tạm giam nơi họ đang bị tạmgiam không?

Theo tinh thần quy định tại các điểm c và đ khoản 1 Điều 11khoản 1 Quy chế về tạm giữ, tạm giam (Ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07-11-1998 của Chính phủ) thì Giám thị Trại tạm giam cónhiệm vụ tổ chức cho người đang bị giam, giữ thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa họ theo quy định của pháp luật; giao người bị tạm giam, tạm giữ theo lệnhtrích xuất của người có thẩm quyền; do đó, về nguyên tắc khi Toà án có lệnhtrích xuất bị can, bị cáo đang bị tạm giam là đương sự trong vụ án kinh tế đểtiến hành hoà giải, thì Giám thị Trại tạm giam phải tổ chức thực hiện. Tuynhiên, trong trường hợp vì những lý do chính đáng nào đó mà việc trích xuấtkhông thực hiện được, thì Toà án có thể tổ chức việc hoà giải và tiến hành hoàgiải tại Trạm tạm giam.

3. Trong quá trìnhgiải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm phápluật hình sự và theo Luật phá sản doanh nghiệp thì Toà án phải chuyển hồ sơ choViện kiểm sát để xem xét về hình sự, nhưng Luật phá sản doanh nghiệp không quyđịnh là trong trường hợp này Toà án sau khi chuyển hồ sơ thì ra quyết định tạmđình chỉ hay đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp?Nếu đình chỉ thì chi phí cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanhnghiệp được giải quyết như thế nào?

Cũng trường hợp trên,nếu Viện kiểm sát chuyển trả hồ sơ lại cho Toà án với lý do là người có tráchnhiệm hình sự đã chết, nên không xem xét về hình sự, thì Toà án phải tiếp tụcgiải quyết như thế nào? Trước đây khi chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát Toà án đãra quyết định tạm đình chỉ chờ quyết định khởi tố của Viện kiểm sát. Nếu Toà ánkhông tiếp tục giải quyết phá sản thì hồ sơ chuyển trả lại cho ai? Các chi phícho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp giải quyết như thế nào?

Về trả lời câu hỏi này trước hết chúng ta phải căn cứ vàocác quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.

Theo quy định tại Điều 10 Luật phá sản doanh nghiệp, thìtrong khi giải quyết các vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, nếu phát hiệndoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án thông báo cho các chủ nợ,doanh nghiệp đó biết để nộp đơn yêu cầu giải quyết việc phá sản doanh nghiệp.Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật phá sản doanh nghiệp, thìtrong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nếu phát hiệncó dấu hiệu phạm tội thì Thẩm phán cung cấp tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dâncùng cấp xem xét để khởi tố về mặt hình sự. Mặt khác, theo quy định tại cácđiều 16, 29, 31, 33 và 35 Luật phá sản doanh nghiệp, thì trong các căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việcgiải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp không có căn cứ nào là khiphát hiện có dấu hiệu phạm tội.

Xuất phát từ các quy định trên đây của Luật phá sản doanhnghiệp, thì trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp,nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm, một mặt Thẩm phán vẫn tiếp tục giải quyếtyêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; mặt khác, cung cấp tài liệu cho Việnkiểm sát (có thể là bản sao) xem xét để khởi tố về mặt hình sự, chứ không đượcra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố việcphá sản doanh nghiệp và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát.

Nếu thực tiễn có trường hợp cụ thể nào đó mà Toà án đã raquyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sảndoanh nghiệp và đã chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thì Toà án đó ra ngay quyếtđịnh rút quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ đó và yêu cầu Viện kiểm sátchuyển trả hồ sơ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để tiếp tụcgiải quyết theo thủ tục chung (kể cả chi phí cho việc giải quyết yêu cầu tuyênbố phá sản doanh nghiệp).

Trong trường hợp Viện kiểm sát chuyển trả hồ sơ lại cho Toàán với lý do người có trách nhiệm hình sự đã chết, thì việc giải quyết yêu cầutuyên bố phá sản doanh nghiệp vẫn tiếp tục. Nếu không phải là doanh nghiệp tưnhân thì vẫn giải quyết theo thủ tục chung. Nếu là doanh nghiệp tư nhân mà chủcủa doanh nghiệp bị chết và người thừakế từ chối thừa kế hoặc không có người thừa kế, thì Thẩm phán áp dụng khoản 6Điều 36 Luật phá sản doanh nghiệp ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

VI. VỀ LAO ĐỘNG

1. Đối với các vụ ánlao động, nếu người khởi kiện làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết, nhưng chưa quahoà giải tại cơ sơ hoặc chưa được Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh giảiquyết thì Toà án có thụ lý để giải quyếthay không?

Để quyết định việc thụ lý hay không thụ lý đơn kiện để giảiquyết các tranh chấp lao động chưa qua hoà giải tại sơ sở hoặc chưa được Hộiđồng Trọng tài lao động cấp tỉnh giải quyết, Toà án cần phải căn cứ vào Điều 11Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Theo quy định tại Điều 11này, thì chỉ có các tranh chấp lao động cá nhân sau đây chưa qua hoà giải tạicơ sở, Toà án vẫn có thẩm quyền giải quyết.

- Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sathải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

- Tranh chấp về bồi thườngthiệt hại cho người sử dụng laođộng.

Đối với các tranh chấp lao động cá nhân khác bắt buộc phảiqua hoà giải tại cơ sở (Hội động hoà giải sở hoặc hoà giải viên lao động của cơquan lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và việc hoà giải đókhông thành, thì Toà án mới thụ lý để giải quyết.

Đối với các tranh chấp lao động tập thể, thì trong mọitrường hợp phải được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động khôngđồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động và có yêu cầu Toà án giảiquyết, thì Toà án mới thụ lý để giải quyết.

Cần lưu ý là khi thụ lý để giải quyết các tranh chấp laođộng trên đây, cần chú ý đến thời hạn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 32Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.

VII. VỀ HÀNH CHÍNH

1. Vấn đề thi hành ánhành chính được thực hiện như thế nào? làm thế nào để bảo đảm hiệu lực thi hànhán hành chính?

Cơ chế bảo đảm hiệu lực thi hành án hành chính cũng như vấnđề thi hành án hành chính đã được quy định cụ thể tại Điều 74 Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án hành chính như sau:

"1- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tácthi hành án hành chính trong phạm vi cả nước.

2- Cá nhân, cơ quan nhà nước tổ chức có nghĩa vụ chấp hànhbản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành. Thủ trưởng cơ quannhà nước cấp trên trực tiếp có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thi hành ánhành chính; trong trường hợp cần thiết có quyền buộc phải chấp hành quyết địnhcủa Toà án về vụ án hành chính. Người nào thiếu trách nhiệm trong việc thi hànhán hành chính hoặc cố tình không chấp hành bản án, quyết định của Toà án về vụán hành chính, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luậthoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Các quyết định về phần tài sản, quyền tài sản trong cácbản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính được thi hành theo Pháp lệnhThi hành án dân sự".

2. Các quyết định hànhchính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại khoản 5Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổsung) là những quyết định nào hành, vi nào?

Căn cứ vào Điều 13 Luật đất đai quy định nội dung quản lý nhà nước về đất đai và căncứ vào Điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, (đã được sửađổi, bổ sung), thì các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vựcquản lý đất đai quy định tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết cácvụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung) bao gồm những quyết định, hành visau đây:

a. Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quyđịnh tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính làquyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩmquyền trong cơ quan hành chính nhà nước về việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều13 Luật đất đai được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thểvề một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.

b. Hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quyđịnh tại khoản 5 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính làhành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quannhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụvề nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy định tại Điều 13 Luật đất đai.

3. "Người bịkiện" uỷ quyền cho ai thì Toà án mới chấp nhận, vì thực tiễn cho thấy cóngười được uỷ quyền tham gia tố tụng, nhưng chỉ đến Toà án để nghe mà khôngphát biểu ý kiến hoặc không dám phát biểu chính kiến của mình về việc giảiquyết vụ án hành chính.

Theo quy định tại Điều 6 và Điều 22 Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án hành chính, thì đương sự có thể uỷ quyền bằng văn bản cho luậtsư hoặc người khác đại diện cho mình tham gia tố tụng, trừ một số đối tượng cụthể quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 22 của Pháp lệnhnày; do đó, "người bị kiện" (cũng là đương sự) có thể uỷ quyền bằngvăn bản cho bất kỳ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng, nếu người đókhông thuộc một trong số đối tượng này. Tuy nhiên, để tránh tình trạng bên đượcuỷ quyền tham gia tố tụng, nhưng không thực hiện được nhiệm vụ của mình và bênuỷ quyền từ chối nghĩa vụ do bên được uỷ quyền xác lập trong phạm vi uỷ quyền,thì Toà án chỉ chấp nhận việc uỷ quyền khi có văn bản uỷ quyền và được chứngthực hợp pháp. Trong văn bản uỷ quyền đó phải ghi đầy đủ quyền, nghĩa vụ tốtụng của đương sự được uỷ quyền và cam đoan của bên uỷ quyền phải thực hiện cácnghĩa vụ do bên được uỷ quyền xác lập trong phạm vi uỷ quyền. Trong trường hợpvăn bản uỷ quyền chưa làm đúng như hướng dẫn trên đây, thì Toà án cần giảithích cho họ biết và yêu cầu làm lại văn bản uỷ quyền theo hướng dẫn trên đây.

4. Các khiếu kiện kháctheo quy định của pháp luật quy định tại khoản 10 Điều 11 Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án hành chính bao gồm các khiếu kiện nào?

Quy định này cần hiểu là, ngoài các vụ án hành chính cụ thểđược quy định tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 9 Điều 11 Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án hành chính, thì nếu trong một văn bản quy phạm pháp luậtnào đó có quy định có loại quyết định hành chính, hành vi hành chính nào đó nếucó khiếu kiện là vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân, thì Toà án căn cứ vào khoản10 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thụ lý để giảiquyết. Ví dụ: Hiện nay theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 63/CP ngày24-10-1996 của Chính phủ "quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp"và theo Luật khiếu nại, tố cáo, thì nếucác khiếu nại các quyết định liên quan đến việc chấp nhận đơn yêu cầu cấp Văn bằngbảo hộ, cấp hoặc từ chối cấp Văn bằng bảo hộ mà trong thời hạn pháp luật quyđịnh Cục Sở hữu công nghiệp không giải quyết hoặc đã giải quyết mà người khiếunại không đồng ý, thì họ có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo pháp luật tốtụng hành chính.

5. Có cần phải phânbiệt giá trị nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác từ bao nhiêu trở lênnếu có khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụngbiện pháp buộc tháo dỡ Toà án mới thụ lý để giải quyết hay không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án hành chính thì không phân biệt giá trị nhà ở, công trình, vậtkiến trúc kiên cố khác từ bao nhiêu trở lên, nếu có khiếu kiện quyết định hànhchính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ Toà án mớithụ lý để giải quyết. Chỉ cần xác định rằng đó là nhà ở, công trình, vật kiếntrúc kiên cố, nếu có khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trongviệc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ là Toà án xem xét thụ lý để giải quyết theothủ tục chung.

Ngoài các vấn đề đã được giải đáp bổ sung trên đây, còn cómột số vấn đề khác như về mối quan hệ phối hợp hay kiến nghị với cơ quan nhànước có thẩm quyền, Toà án nhân dân tối cao sẽ lưu ý để có ý kiến với các cơquan hữu quan đó.