BỘ TƯ PHÁP
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 250/BTP-VP
V/v gửi nội dung Bản tổng hợp tiếp nhận và trả lời kiến nghị của các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Hà Nội, ngày 03 tháng 02 năm 2015

Kính gửi:

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổng kết công táctư pháp năm 2014, Bộ Tư pháp đã nhận được kiến nghị của một số địa phương và Bộ,ngành về công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp. Đến nay, Bộ Tư pháp đã xâydựng và hoàn thiện nội dung Bản tổng hợp tiếp nhận và trả lời kiến nghị củacác bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với công tácchỉ đạo, điều hành của Bộ Tư pháp năm 2014.

Để kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, giải đáp kiếnnghị của các địa phương và các Bộ, ngành, Bộ Tư pháp gửi Ủy ban nhân dân cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ Bản tổng hợp tiếp nhận và trả lời kiến nghị của các Bộ, ngành, UBNDcác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với công tác chỉ đạo, điều hànhcủa Bộ Tư pháp năm 2014 (được đăng tảitrên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp tại địa chỉ http://www.moj.gov.vn). Đề nghị các các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương và các Bộ, ngành chỉ đạo việc nghiên cứu và tiếp thu nhữnggiải đáp của Bộ Tư pháp để thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ công tác tư pháp trongthời gian tới./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng Hà Hùng Cường (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng (để biết);
- Sở Tư pháp, Cục THADS các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (để t/h);
- Lưu: VT, TH.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Đinh Trung Tụng

BẢN TỔNG HỢP TIẾP NHẬN VÀTRẢ LỜI KIẾN NGHỊ

CỦA CÁC BỘ, NGÀNH, ỦY BANNHÂN DÂN CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀUHÀNH CỦA BỘ TƯ PHÁP NĂM 2014

I. LĨNH VỰC XÂY DỰNG,THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1. Để hoạtđộng thẩm định dự thảo văn bản QPPL đạt chất lượng, việc chuẩn hóa đội ngũ trựctiếp tham gia công tác thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là hết sứcquan trọng và cần thiết. Đề nghị Bộ Tư pháp, trong quá trình xây dựng Luật Banhành văn bản quy phạm pháp luật (hợp nhất), cần nghiên cứu, xây dựng chức danh“Thẩm định viên dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”, cũng như quy định cụ thểcơ chế, chính sách đối với đội ngũ làm công tác thẩm định này (UBND TP. Hồ Chí Minh, SơnLa).

Trả lời:

Chuyên nghiệp hóa trong xây dựngpháp luật là yêu cầu của thực tiễn. Khi hệ thống pháp luật đã hoàn thiện thìcần nghiên cứu để xây dựng một đội ngũ chuyên gia nòng cốt trong công tác xâydựng pháp luật. Một nghiên cứu về Luật ban hành VBQPPL gần đây cho thấy, có tới83% cán bộ thẩm định và 77% cán bộ thẩm tra cho rằng kỹ năng chuyên môn còn hạnchế và cần chuẩn hóa các chức danh này để bảo đảm tính chuyên nghiệp. Ở địaphương có 79% người trả lời nguồn nhân lực làm công tác soạn thảo, thẩm định vàthẩm tra hiện nay còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng và cần chuyên nghiệphóa cho cả khâu soạn thảo, thẩm định và thẩm tra. Nhận thức việc chuyên nghiệphóa các chức danh xây dựng và soạn thảo VBQPPL là cần thiết nên trong Báo cáođánh giá tác động dự án Luật ban hành VBQPPL, Bộ Tư pháp cũng đã đưa việcchuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa các chức danh soạn thảo, thẩm định để đánh giátác động. Theo đó, mục tiêu của việc chuẩn hóa các chức danh nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản từ đó nâng cao chấtlượng văn bản pháp luật; bảo đảm tính khả thi của chính sách, pháp luật, giảmtải công đoạn soạn thảo văn bản pháp luật thông qua việc chuẩn hóa các chứcdanh, soạn thảo, thẩm tra, thẩm định văn bản pháp luật; sử dụng hiệu quả vềthời gian, nhân lực cho công tác soạn thảo ban hành văn bản và thi hành phápluật.

Vấn đề tiêu chuẩn hóa chức danhchuyên môn trong xây dựng văn bản đã được đặt ra trong quá trình xây dựng dự ánLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc xác định những yếu tốđặc thù trong việc thực hiện nhiệm vụ để xây dựng các chức danh chuyên môn nhưsoạn thảo, thẩm định, thẩm tra viên là chưa đủ cơ sở. Mặt khác, tại Kỳ họp thứ8, Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn của dự thảo Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật nhưng không có nhiều ý kiến về việc chuyên nghiệp hóa chứcdanh soạn thảo viên, thẩm định viên.

II. LĨNH VỰC PHÁP CHẾ

1. Kiến nghị Bộ Tư pháp chủ trì,phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổchức pháp chế, đặc biệt là Thông tư hướng dẫn về biên chế và tổ chức bộ máypháp chế tại địa phương để các quy định của Nghị định được thực thi trên thựctế (UBND tỉnh Cao Bằng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Xây dựng,Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Trả lời:

Ngay sau khi Nghị định số55/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, ngày23/8/2011 Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP (Quyết định số 1477/QĐ-BTP ) trong đó xác định Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ xâydựng Thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức bộ máy, biên chế, tiêu chuẩncủa người làm công tác pháp chế. Tuynhiên, trong bối cảnh Chính phủ xây dựng các Nghị định liên quan đến tổ chức bộmáy, nhất là Nghị định thay thế Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quyđịnh tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương, cũng như thực hiệnKết luận số 64-KL/TW ngày28/5/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, nênThông tư liên tịch chưa được ban hành.

Để bố trí biên chế cho các tổ chứcpháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo quy định của Nghịđịnh số 55/2011/NĐ-CP Bộ Tư pháp đã làm việc nhiều lần với Bộ Nội vụ và thôngqua các cuộc tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, Bộ Tư pháp đã hướng dẫn Sở Tư phápchủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu, giúp UBND các tỉnh, thành phố để bốtrí biên chế các tổ chức pháp chế theo hướng điều chuyển biên chế trong tổng sốbiên chế của địa phương, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy địnhcủa Nghị định số 55/2011/NĐ-CP .

Sau khi Chính phủ ban hành Nghị địnhsố 24/2014/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ) quy định tổ chức các cơquan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, để hướng dẫn việc kiện toàn tổ chức và bốtrí biên chế các tổ chức pháp chế ở địa phương, Bộ Tư pháp đã phối hợp với BộNội vụ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BNV-BTP ngày22/12/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tưpháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện, trong đó xác địnhSở Tư pháp có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trongviệc xây dựng, củng cố tổ chức pháp chế, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệuquả công tác pháp chế tại địa phương; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chứctriển khai hoạt động và rà soát, sắp xếp, bố trí biên chế, công chức thực hiệncông tác pháp chế trong tổng số biên chế công chức của UBND cấp tỉnh, phù hợpvới chức năng và bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quyđịnh của Nghị định số55/2011/NĐ-CP của Chính phủ.

2. Kiến nghị BộTư pháp yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bốtrí biên chế thành lập mới và kiện toàn tổ chức pháp chế theo quy định trongthời gian sớm nhất để bộ máy đi vào hoạt động ổn định (Bộ Văn hóa, Thể thao vàDu lịch).

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì Phòng Pháp chếđược thành lập tại 14 cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND cấp tỉnh. Theo quyđịnh này, cả nước sẽ có 882 Phòng Pháp chế trong các cơ quan chuyên môn thuộcUBND cấp tỉnh.

Ngaysau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được ban hành,với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao,BanCán sự Đảng Bộ Tư pháp đã có Công văn số 80-CV/BCS ngày 06/10/2011 đề nghị cấpỦy, tổ chức Đảng ở các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp nhà nước chỉđạo, tiến hành kiện toàn tổ chức và triển khai có hiệu quả công tác pháp chế.Hàng năm, Bộ Tư pháp tổ chức các Đoàn kiểm tra về tình hình thực hiện công tácpháp chế tại một số địa phương để ghi nhận tình hình triển khai thực hiện Nghịđịnh số 55/2011/NĐ-CP cũng như những khó khăn, vướng mắc trong việc bố tríbiên chế, kiện toàn tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDtỉnh. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã kiến nghị với lãnh đạo UBND các tỉnh kịpthời kiện toàn tổ chức pháp chế, sắp xếp biên chế làm công tác pháp chế ở cáccơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.

Tuy nhiên, theo Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghịlần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về tiếp tục đổimới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở quy định “từ nay đếnnăm 2016 cơ bản không tăng biên chế của cả hệ thống chính trị (trừ trường hợplập thêm tổ chức hoặc được giao nhiệm vụ mới)”. Vì vậy, việc củng cố, kiện toàntổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hiện nay đanggặp nhiều khó khăn.

Trong thời gian tới, BộTư pháp sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứuđể đưa ra phương án giải quyết.

3. Kiến nghị Bộ Tư pháp quan tâm hướngdẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác pháp chế Bộ, ngành, thườngxuyên phối hợp với tổ chức pháp chế Bộ, ngành tổ chức chức bồi dưỡng về kỹnăng, nghiệp vụ về công tác xây dựng văn bản; tăng cường công tác đàotạo chuyên sâu (cả ngắn hạn và dài hạn, trong nước và nước ngoài), tập huấnthường xuyên hơn nữa đối với cán bộ làm công tác pháp chế các Bộ, ngành, địaphương và các doanh nghiệp nhà nước, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năngnghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế - quốc tế; tăng cườngtrao đổi thông tin, kinh nghiệm giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức các đoàn khảosát, học tập kinh nghiệm của nước ngoài về xây dựng pháp luật trong các lĩnhvực quản lý nhà nước chuyên ngành, trên cơ sở đó tạo điều kiện để các cán bộlàm công tác pháp chế nắm rõ hơn thực tế thi hành pháp luật nhằm tăng cườnghiệu quả xây dựng các chính sách pháp luật phù hợp (Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Bộ Công Thương).

Trả lời:

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho độingũ người làm công tác pháp chế luôn được Bộ Tư pháp xác định là một trongnhững nhiệm vụ ưu tiên, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, tổ chức pháp chế cácBộ, ngành, địa phương ngày càng được giao thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng. Nhằmgóp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ làm công tác phápchế ở các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và tăng cường việctrao đổi chuyên môn nghiệp vụ công tác pháp chế, trong những năm qua, Bộ Tưpháp đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị, lớp bồi dưỡng, tập huấn về công tácpháp chế dành cho người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành, địa phương vàcác doanh nghiệp nhà nước. Năm 2014, Học viện Tư pháp đã chủ trì, phối hợp vớicác đơn vị trong và ngoài Bộ Tư pháp có liên quan tổ chức các lớp tập huấn, bồidưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác pháp chế ở các Bộ, ngành,địa phương với nhiều nội dung như: kỹ năng xây dựng, góp ý, thẩm định, kiểmtra, rà soát VBQPPL, hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật, xử lý viphạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổbiến, giáo dục pháp luật, … dành cho cán bộ làm công tác pháp chế ở các Bộ,ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, trong năm 2014, được sựhỗ trợ của Viện KAS, dự án GIG, Bộ Tư pháp đã tổ chức một số Hội nghị, lớp tậphuấn về công tác pháp chế nói chung và theo từng lĩnh vực chuyên đề cụ thể vềcông tác pháp chế như: Hội nghị tập huấn công tác pháp chế cho các cán bộ làmcông tác pháp chế ở các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương vàđại diện một số Sở Tư pháp và cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh Phía Bắc(tổ chức tại Quảng Ninh); Hội nghị tập huấn về công tác pháp chế cho người làmcông tác xây dựng pháp luật ở các Sở Tư pháp khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên(tổ chức tại Bình Định); 02 Hội nghị tập huấn nghiệp vụ theo dõi tình hình thihành pháp luật năm 2014 tại tỉnh Thừa Thiên Huế và Bình Dương cho đối tượng làcán bộ làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của Sở Tư pháp, PhòngTư pháp cấp huyện, Sở Y tế, Sở Công thương và Sở Nông nghiệp và phát triển nôngthôn các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và miền Nam; 02 lớp bồi dưỡng nghiệp vụvề kỹ năng góp ý, thẩm định VBQPPL cho đối tượng là cán bộ pháp chế các cơ quanchuyên môn thuộc UBND các tỉnh, thành phố tại hai miền Nam và Bắc... Đây là dịpđể cán bộ làm công tác pháp chế được bổ sung một số kỹ năng, nghiệp vụ trongcông tác pháp chế, đồng thời, trao đổi về kinh nghiệm trong việc thực hiện cácnhiệm vụ được giao và tăng cường sự gắn kết giữa các cán bộ làm công tác phápchế ở các Bộ, ngành và địa phương.

Được sự hỗ trợ của Chương trình hỗtrợ pháp lý dành cho cho doanh nghiệp giai đoạn 2010 - 2014 (Chương trình 585),hàng năm, Bộ Tư pháp cũng tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ phápchế các Bộ, ngành cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh làm công tác hỗ trợpháp lý cho doanh nghiệp và người làm công tác pháp chế ở các doanh nghiệp,nhằm tăng cường năng lực đội ngũ này, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa công tác pháp chế.

Ngoài ra, thựchiện trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ công tác pháp chế và đặc biệt nhằm đáp ứng yêu cầu của các Bộ, ngành,địa phương, trong năm 2014, Bộ Tư pháp đã xuất bản cuốn “Sổ tay công tác phápchế”, đây là cuốn sách có tính “cầm tay chỉ việc” về nghiệp vụ trên các mặtcông tác pháp chế, từ công tác lập chương trình, soạn thảo, góp ý, thẩm định,kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật, hợp nhất, phápđiển, kiểm tra và xử lý văn bản đến công tác theo dõi thi hành pháp luật v..v…;đồng thời, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng dựthảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP Đếnnay, dự thảo Thông tư đang trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp xem xét ký ban hành.

Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếptục phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan có liên quan để tổ chức các hộinghị, hội thảo, lớp bồi dưỡng, lớp tập huấn dành cho cán bộ làm công tác phápchế ở các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao trìnhđộ, năng lực cho cán bộ làm công tác pháp chế, để đội ngũ này thực hiện tốt cácnhiệm vụ được giao.

4. Đề nghị Bộ Tư pháp trình Chínhphủ xem xét, thực hiện chính sách đãi ngộ, phụ cấp ưu đãi nghề theo quy địnhnhằm thu hút người có năng lực, trình độ tham gia công tác pháp chế lâu dài (Bộ Công Thương, Bộ xâydựng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Trả lời:

Ngay sau khi Nghị định số55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55) được ban hành vàcó hiệu lực, Bộ Tư pháp đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xâydựng và ban hành Kế hoạch triển khai thi hành (Quyết định số 1477/QĐ-BTP ngày23/8/2011), theo đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Tàichính, Bộ Nội vụ nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chínhphủ quy định chế độ phụ cấp theo nghề đối với người làm công tác pháp chế. Trên cơ sở ý kiến thống nhất của đa số các Bộ,ngành, ngày 06/12/2011, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyếtđịnh về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế (Tờtrình số 42/TTr-BTP ) sau đó, tại các kỳ họp của Chính phủ về xây dựng phápluật, Bộ Tư pháp đã nhiều lần kiến nghị về vấn đề này.

Tuy nhiên, tinhthần của Chính phủ để thực hiện Kết luận số 69/-KL /TW ngày 27/5/2013 của BanChấp hành Trung ương Đảng khóa XI thì việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theonghề sẽ được bố trí trong Đề án cải cách tiền lương đối với cán bộ, công chức,viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp khi Đềán này được thông qua.

Để khuyến khích cán bộlàm công tác pháp chế, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ,phối hợp với các Bộ, ngành ban hành một số VBQPPL để quy định mới, điều chỉnhtăng mức kinh phí cho một số hoạt động liên quan đến công tác pháp chế như:Thông tư số 129/2013/TT-BTC ngày 18/9/2013 của Bộ Tài chính quy định việc quảnlý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tếvà công tác thỏa thuận quốc tế; Thông tư liên tịch số 192/2013/TTLT-BTC-BTPngày 13/12/2013 của liên bộ Tài chính, Tư pháp quy định lập dự toán, quản lý,sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác hợp nhấtvăn bản QPPL và pháp điển hệ thống văn bản QPPL; Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14/7/2014 của liên bộ Tài chính, Tư pháp, Vănphòng Chính phủ về việc hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toánkinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL và hoàn thiệnhệ thống pháp luật....

5. Hiện tại, số lượng cán bộ, côngchức của Vụ Pháp chế - Bộ Công Thương và một số doanh nghiệp chưa có văn bằngluật chiếm số lượng nhất định, tuy nhiên, khi xây dựng cơ chế, chính sách, cánbộ pháp chế không chỉ cần các kỹ năng pháp chế mà bên cạnh đó rất cần các kiếnthức chuyên môn của các lĩnh vực đó. Việc tăng cường nghiệp vụ pháp chế khôngchỉ thông qua hoạt động học tập tại các trường đào tạo về luật mà còn thông quacác hoạt động thực tiễn như xây dựng pháp luật và các hoạt động khác, việc yêucầu các cán bộ làm công tác pháp chế phải có trình độ cử nhân luật thông quachương trình đào tạo do Bộ Tư pháp tổ chức có thể gây ảnh hưởng đến công táccủa tổ chức pháp chế. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng, trình Chính phủ banhành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2011/NĐ-CP theo hướng chấp nhậncán bộ, công chức đã có kinh nghiệm, thời gian tham gia công tác pháp chế tươngđương với cán bộ, công chức có trình độ cử nhân luật để thuận lợi cho nhiệm vụcông tác của các tổ chức pháp chế (Bộ Công Thương).

Trả lời:

Theoquy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì người làm công tác pháp chế phải cótrình độ cử nhân luật. Qua thực tiễn áp dụng, Bộ Tư pháp nhận thấy, hiện nay ởđa số các Bộ, ngành và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, người làm côngtác pháp chế nhìn chung đã đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của Nghị định số55/2011/NĐ-CP Bên cạnh đó, một số lượng lớn người làm công tác pháp chế cókinh nghiệm đã làm công tác pháp chế nhiều năm trước khi Nghị định số55/2011/NĐ-CP có hiệu lực nhưng chưa có bằng cử nhân luật, vì nhiều lý do,những người này chưa bố trí được thời gian đi học thêm bằng 2 cử nhân luật. Ởmột số Bộ, ngành và một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hoạt động cótính chất chuyên ngành như y tế, tài chính, công thương… thì việc bố trí cán bộlàm công tác pháp chế có trình độ cử nhân luật ở các cơ quan này có nhiều bấtcập vì đây là các cơ quan hoạt động có tính chất chuyên ngành trong từng lĩnhvực cụ thể.

Đểgiải quyết những bất cập nêu trên và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các Bộ,ngành, địa phương trong việc bố trí, sắp xếp, tuyển dụng biên chế làm công tácpháp chế, trong thời gian tới, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ sửa đổi Nghịđịnh số 55/2011/NĐ-CP theo đó có nghiên cứu quy định phù hợp về tiêu chuẩn đốivới người làm công tác pháp chế.

6. Trongthời gian qua, công tác pháp chế được tăng cường và bổ sung nhiều nhiệm vụ mớinhư theo dõi tiến độ soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; hợp nhất, pháp điểnvăn bản quy phạm pháp luật; rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;bồi thường nhà nước; theo dõi tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạmhành chính, phổ biến giáo dục pháp luật, kiểm tra văn bản, kiểm soát thủ tụchành chính... và theo yêu cầu của Bộ Tư pháp thì các nhiệm vụ này các Bộ, ngànhđều phải có báo cáo định kỳ 6 tháng và một năm. Như vậy hàng năm có rất nhiềuloại báo cáo trong công tác pháp chế, trong khi vẫn phải có một báo cáo chungvề công tác pháp chế là trùng lặp. Vì vậy, đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫnthống nhất trong việc hợp nhất các báo cáo lĩnh vực vào báo cáo công tác phápchế chung để tránh trùng lặp và nhằm cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho cácBộ, ngành (về nội dung này, Bộ Tài chính đã có nhiều báo cáo đề cập đến) - (BộTài chính).

Trả lời:

Thời gian qua, Bộ Tư pháp đã nhậnđược nhiều kiến nghị của Bộ, ngành, địa phương phản ánh tình trạng hàng năm cácBộ, ngành, địa phương phải gửi quá nhiều loại báo cáo liên quan đến các lĩnhvực như: theo dõi thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật; bồi thườngnhà nước;…. Trong khi đó, theo quy định, định kỳ hàng năm các Bộ, ngành, địaphương có trách nhiệm báo cáo về tình hình thi hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP Như vậy, liên quan đến công tác pháp chế có rất nhiều loại báo cáo khác nhautrong khi vẫn phải xây dựng 01 báo cáo chung về công tác pháp chế. Tuy nhiên,việc Bộ Tư pháp đôn đốc, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương xây dựng các loạibáo cáo nêu trên là theo quy định của các VBQPPL hiện hành thuộc các lĩnh vựcquản lý của Bộ Tư pháp.

Theo phản ánh,đề nghị của các Bộ, ngành, địa phương, thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu,có biện pháp cụ thể để đảm bảo cho các Bộ, ngành, địa phương thực hiện chế độbáo cáo được thuận lợi và phù hợp hơn theo hướng khuyến khích việc ứng dụngcông nghệ thông tin vào công tác báo cáo. Qua đó, sẽ giảm bớt được số lượng báocáo hàng năm của các Bộ, ngành, địa phương gửi về Bộ Tư pháp.

7. QuýII/2014 Bộ Tư pháp đã có tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tra việc thựchiện Nghị định 55/2011/NĐ-CP về tổ chức pháp chế tại các Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, trong đó có buổi làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN). TTXVNđánh giá cao những ý kiến góp ý xây dựng của Đoàn và đề nghị Bộ Tư pháp tiếptục duy trì công tác kiểm tra này hàng năm để nắm bắt và giải quyết kịp thờinhững khó khăn, vướng mắc của tổ chức pháp chế, góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng của các tổ chức này. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này (quý IV/2014) chúngtôi vẫn chưa nhận được báo cáo kết quả kiểm tra liên ngành Nghị định 55 của BộTư pháp. Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo Vụ Các Vấn đề chung về xây dựng pháp luậthoàn thiện báo cáo, nhanh chóng gửi cho các cơ quan được kiểm tra để kịp thờibổ sung, điều chỉnh, khắc phục những tồn tại của tổ chức pháp chế theo đúng quyđịnh tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP ; Về công tác kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụcông tác pháp chế như kiểm soát thủ tục hành chính, tiến độ soạn thảo văn bảnquy phạm pháp luật; bồi thường nhà nước; phổ biến giáo dục pháp luật, đề nghịBộ Tư pháp nên giao một đầu mối để tổ chức, tránh việc có nhiều đoàn kiểm travề các nội dung khác nhau. Ngoài ra, trong việc hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụđề nghị tính đến việc lồng ghép sử dụng kết quả của các hoạt động như phápđiển, rà soát hệ thống hóa; kiểm tra thực hiện văn bản quy phạm pháp luật vớitheo dõi thi hành pháp luật và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, tránh việccắt khúc gây khó khăn trong tổ chức thực hiện (Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Tàichính).

Trả lời:

- Để chuẩn bị cho việc tổ chức Hộinghị sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP năm 2014, Bộ Tư phápchủ trì, phối hợp với một số cơ quan tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tratình hình thực hiện Nghị định tại một số cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương vàdoanh nghiệp nhà nước ở Trung ương, trong đó có Thông tấn xã Việt Nam. Qua kiểmtra cho thấy, các cơ quan, doanh nghiệp nêu lên những khó khăn, vướng mắc trongquá trình triển khai thực hiện công tác pháp chế, đồng thời đưa ra các đề xuất,kiến nghị với Đoàn kiểm tra về các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa công tác pháp chế.

Đoàn kiểm tra đã hoàn thành bản báocáo và đã tổng hợp để đưa vào Báo cáo sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số55/2011/NĐ-CP (dự kiến trong quý I năm 2015, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp vớiVăn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chứcHội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ) Trong thời giantới, tiếp thu ý kiến của Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ chỉ đạo các Đoànkiểm tra sớm có báo cáo kết quả kiểm tra gửi các cơ quan được kiểm tra để kịpthời khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại, hạn chế của mình.

- Thực hiện nhiệm vụ được giao tạicác VBQPPL, hàng năm, Bộ Tư pháp tổ chức Đoàn kiểm tra liên ngành đến các Bộ,ngành, địa phương để nắm bắt tình hình triển khai thực hiện các lĩnh vực côngtác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Trong thời gian tới, tiếp thu ý kiếngóp ý của các Bộ, ngành và địa phương, việc tổ chức kiểm tra các lĩnh vực thuộcphạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp về công tác pháp chế tại các bộ, ngành,địa phương sẽ giao cho 01 đơn vị thuộc Bộ (Vụ Các vấn đề chung về xây dựng phápluật) làm đầu mối, kết nối các hoạt động kiểm tra thuộc các lĩnh vực quản lýnhà nước của Bộ Tư pháp. Đồng thời, nhằm tạo thuận lợi cho Bộ, ngành, địaphương trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về công tácpháp chế, trong việc hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, Bộ Tư pháp sẽ tính đếnviệc lồng ghép sử dụng kết quả của các hoạt động như pháp điển, rà soát hệthống hóa; kiểm tra thực hiện VBQPPL với theo dõi thi hành pháp luật và soạnthảo VBQPPL.

8. Đề nghị BộTư pháp chủ động có ý kiến Bộ, ngành liên quan trong việc đảm bảo tính đồng bộ,thống nhất của hệ thống pháp luật (giữa Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức bộ máy của tổ chức pháp chế và Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh).Liên quan đến việc xây dựng dự thảo Thông tư liên tịch giữa Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch và Bộ Nội vụ quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ củaSở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh không quy định Phòng Pháp chế là mộtphòng chuyên môn của Sở (UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì “tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là đơn vị chuyênmôn, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủtrưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nướcbằng pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao và tổ chức thực hiệncông tác pháp chế......”.

Điều 5 Nghị định số 24/2014/NĐ-CPngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp tỉnh trong đó quy định cơ cấu tổ chức của Sở bao gồm: Văn phòng; Thanh tra;Phòng chuyên môn, nghiệp vụ; Chi cục và đơn vị sự nghiệp công lập. Đối chiếuquy định của khoản 1 Điều 2 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP và Điều 5 Nghị định số24/2014/NĐ-CP thì Phòng Pháp chế là 01 phòng chuyên môn, nghiệp vụ trong cơcấu tổ chức của các Sở, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.Vì vậy, nộidung quy định về Phòng Pháp chế trong 02 Nghị định nêu trên là không trái vớinhau.

Tuy nhiên, hiện nay Bộ Nội vụ đã banhành, liên tịch ban hành và đang xây dựng dự thảo một số văn bản liên tịch vớicác Bộ, ngành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cácSở thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong đó không quy địnhPhòng Pháp chế là phòng chuyên môn trong cơ cấu tổ chức của các Sở, cơ quanchuyên môn. Đây là các văn bản có nội dung không phù hợp với quy định của Nghị địnhsố 55/2011/NĐ-CP (Ví dụ: Thông tư số 15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 hướng dẫnchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc UBND tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh và Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV giữa BộNội vụ và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 28/8/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệmvụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộcUBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và dự thảo Thông tư liên tịchgiữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ quy định cơ cấu tổ chức, chứcnăng, nhiệm vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp tỉnh).

Về vấn đề này, thực hiện thẩm quyềnđược giao, Bộ Tư pháp đang có các biện pháp xử lý đối với các văn bản nêu trêntheo đúng quy định về kiểm tra VBQPPL.

9. Đề nghị Bộ Tư pháp xây dựng Kếhoạch đào tạo trình độ cử nhân luật cho cán bộ làm công tác pháp chế theo quyđịnh chuyển tiếp của Nghị định 55/2011/NĐ-CP (Khoản 2, Điều 17 quy định “Đốivới những người hiện đang làm công tác pháp chế mà chưa có trình độ cử nhânluật thì phải tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng,chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế do Bộ Tư pháp tổ chức”)(Bảohiểm xã hội Việt Nam)

Trả lời:

Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nướcvề công tác pháp chế, với sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, côngtác pháp chế thời gian qua đã có sự chuyển biến rất tích cực, góp phần quantrọng vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam, qua đó cũngkhẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ người làm công tác pháp chế ở Bộ,ngành và địa phương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay, một số lượng tươngđối lớn người làm công tác pháp chế ở một số Bộ, ngành, địa phương chưa cótrình độ cử nhân luật, chưa đáp ứng tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chếtheo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP Vì vậy, để chuẩn hóa đội ngũ cánbộ pháp chế làm công tác pháp chế theo quy định của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP Bộ Tư pháp đã giao Trường Đại học Luật Hà Nội chủ trì, phối hợp với các đơn vịthuộc Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng chương trìnhđào tạo khung các lớp đào tạo văn bằng 2 chuyên ngành luật cho đội ngũ cán bộlàm công tác pháp chế ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cáccơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Quyết địnhsố 290/QĐ-BTP ngày 06/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Ban hành kế hoạch thựchiện Quyết định số 73/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thựchiện triển khai Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường côngtác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và ban hành vănbản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành).

Chương trình khung các lớp đào tạovăn bằng 2 nêu trên xác định phạm vi đối tượng học viên tham gia trong đó cócác cán bộ đang làm công tác pháp chế ở Bộ, ngành, các Sở, cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp tỉnh chưa có trình độ cử nhân luật. Theo Kế hoạch, chương trìnhsẽ được triển khai theo hình thức đào tạo tập trung tại trường Đại học Luật HàNội. Để chuẩn hóa và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chếở các Bộ, ngành, địa phương theo quy định Nghị định số 55/2011/NĐ-CP Bộ Tưpháp đề nghị Lãnh đạo, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị quan tâm, tạo điều kiệncho cán bộ đang làm công tác pháp chế ở cơ quan, đơn vị mình tham dự chươngtrình đào tạo nêu trên do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức.

III. LĨNH VỰC KIỂM TRA,RÀ SOÁT, HỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁPLUẬT

1. Kiến nghị Bộ Tư pháp quan tâm xây dựng cơ chế, chính sách cho hoạtđộng kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Văn hóa, Thể thaovà Du lịch).

Trả lời:

Các cơ chế, chính sách cho hoạtđộng kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luậtđược quy định trong hệ thống pháp luật hiện hành tương đối đầy đủ, rõ ràng, đặcbiệt là cơ chế tài chính, kinh phí cho hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quyphạm pháp luật. Ngay từ khi hoạt động này mới được giao cho Chính phủ, Bộ Tưpháp đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 109/2004/TTLT-BTC-BTP ngày 17/11/2004 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinhphí bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; tiếp đó, năm2007, Thông tư liên tịch này được thay thế bằng Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP và gần đây nhất, năm 2011, Bộ Tư pháp đã phối hợp với BộTài chính nghiên cứu, thay thế Thông tư liên tịch số 158/2007/TTLT-BTC-BTP bằngThông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 quy định việc lập dựtoán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xửlý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, qua thời gian tổ chứcthực hiện, do tình hình kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, số lượng văn bản quy phạm pháp luật ban hành ngày càng lớn, yêu cầuvề công tác kiểm tra, xử lý văn bản ngày càng cao, nên đến nay hệ thống cơ chế,chính sách này đã phát sinh một số hạn chế, bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ.Ghi nhận kiến nghị này của Quý Bộ, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, phối hợp với BộTài chính đề xuất trình Chính phủ những cơ chế, chính sách phù hợp, đảm bảo đápứng yêu cầu của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật khi xâydựng Nghị định hướng dẫn Luật Ban hành văn bản pháp luật năm 2015 (thay thếcho Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtnăm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcủa HĐND, UBND năm 2004) về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm phápluật.

2. Đề nghị BộTư pháp nghiên cứu hướng dẫn các nội dung còn chưa được quy định cụ thể tạiPháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012 và những vấn đề liênquan đến công tác rà soát văn bản để tạo thuận lợi trong việc triển khai thựchiện trong những năm tiếp theo (Bộ Nội vụ).

Trả lời:

- Về hướng dẫn các nội dung còn chưa được quy định cụ thểtại Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012: Sau khi Pháp lệnhđược ban hành, Bộ Tư pháp đã xuất bản cuốn sách “Sổ tay nghiệp vụ kỹ thuậthợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (năm2013) để thống nhất hướng dẫn việc áp dụng kỹ thuật hợp nhất văn bản quy phạmpháp luật và hướng dẫn những nội dung chưa được quy định cụ thể tại Pháp lệnhnhưng có thể vận dụng ngay những quy định pháp luật hiện hành để thực hiện.Trong tháng 9/2014, Bộ Tư pháp đã tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ kỹ thuật hợpnhất văn bản quy phạm pháp luật cho các cán bộpháp chế phụ trách công tác hợp nhất văn bản quy phạmpháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về cácnội dung: Các vấn đề chung về hợp nhất văn bản quyphạm pháp luật; quy trình hợp nhất văn bản QPPL; kỹ thuật hợp nhất vănbản quy phạm pháp luật; các tình huống vướngmắc phát sinh trong quá trình hợp nhất văn bản quyphạm pháp luật và cách thức xử lý.

- Về hướng dẫn những vấn đề liên quan đến công tác ràsoát văn bản để tạo thuận lợi trong việc triển khai thực hiện trong năm tiếptheo: Bộ Tư pháp đã biên soạn cuốn sách “Một số nội dung quy định về ràsoát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật(năm 2013) nhằm phổ biến các quy định pháp luật về rà soát, hệ thống hóa vănbản quy phạm pháp luật và hướng dẫn kỹ năngthực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm phápluật cho cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác rà soát, hệ thống hóavăn bản quy phạm pháp luật tại các Bộ, ngành,địa phương. Bên cạnh đó, gắn liền với từng nhiệm vụ cụ thể, Bộ Tư pháp đều cóvăn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, đồng thời, thường xuyên hướng dẫnnghiệp vụ các Bộ, ngành và địa phương qua điện thoại, email… hoặc trực tiếpthông qua các Đoàn Công tác liên ngành kiểm tra công tác kiểm tra, rà soát, hệthống hóa văn bản quy phạm pháp luật.

Thời gian tới, để việc hướng dẫn nghiệp vụ rà soát,hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đượcthống nhất, hiệu quả hơn, Bộ Tư pháp sẽ biên soạn “Sổ tay hướng dẫn nghiệpvụ rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật,dự kiến xuất bản trong năm 2015.

Trong quá trình thực hiện rà soát, hệ thống hóa, hợpnhất văn bản quy phạm pháp luật nếu có phátsinh vướng mắc, đề nghị các Bộ, ngành, địa phương phản ánh về Bộ Tư pháp (quađiện thoại, email, công văn) để nghiên cứu, giải đáp kịp thời.

Ngoài ra, đối với những vấn đềcụ thể khác, phát sinh trong thực tiễn triển khai hoạt động rà soát, hợp nhấtvăn bản quy phạm pháp luật mà không thể vận dụng những quy định hiện hành đểhướng dẫn, giải đáp, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung để hoànthiện hệ thống thể chế quy định về vấn đề này.

3. Đề nghịBộ Tư pháp thường xuyên phối hợp với tổ chức pháp chế Bộ, ngành tổ chức chứcbồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, rà soát, hợp nhất văn bảnquy phạm pháp luật (UBND tỉnh Cao Bằng, Bộ Nội vụ).

Trả lời:

Công tác bồi dưỡng kỹ năng,nghiệp vụ về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm phápluật luôn được Bộ Tư pháp coi trọng. Trong thời gian qua, bên cạnh việc chủđộng tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ làm côngtác pháp chế của các Bộ, ngành về công tác nêu trên, Bộ Tư pháp đã tích cựcphối hợp với tổ chức pháp chế Bộ, ngành và cơ quan tư pháp địa phương trong tổchức bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra, rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm phápluật khi có yêu cầu như: cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan; cử cánbộ làm báo cáo viên tại lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ.

Trong năm 2015, Bộ Tư pháp dự kiến sẽ tổ chức lớp tậphuấn nghiệp vụ về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật cho các cán bộ, công chức làmcông tác kiểm tra, rà soát, hợp nhất văn bản tại tổ chức pháp chế các Bộ, ngành,địa phương.

Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Dự án GIG tổchức một buổi tọa đàm (dự kiến trong Quý I/2015) về nghiệp vụ rà soát, hợp nhấtvăn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở kết quảcủa tọa đàm, Bộ Tư pháp sẽ tập hợp các tình huống, vướng mắc trong quá trìnhthực hiện rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm phápluật mà các Bộ, ngành, địa phương gặp phải để phục vụ biên soạn “Sổtay hướng dẫn nghiệp vụ rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật.

4. Kiếnnghị về việc thực hiện chế độ báo cáo hàng tháng, quý về công tác kiểm tra, xửlý văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Nội vụ).

Trả lời:

Việc thực hiện báo cáohàng tháng, quý về công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật(do Bộ Tư pháp chủ trìthực hiện) được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 1246/QĐ-TTg ngày24/7/2014 Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyếtsố 75/2014/QH13 ngày 24/6/2014 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tạikỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đối với việc triển khai thi hành Hiến pháp;công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và kiểm soátthủ tục hành chính. Tại điểm d mục 2 Kế hoạch nêu trên giao Bộ Tư pháp chủ trì,phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ xây dựng Báo cáo về công tác kiểm tra, xửlý văn bản để trình Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ hàng tháng. Đâylà một giải pháp chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ để giúp Chính phủkịp thời chỉ đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý vănbản quy phạm pháp luậtcủa các Bộ, cơ quan ngang Bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ nângcao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm phápluật và kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định tại Nghị quyết số75/2014/QH13 ngày 24/6/2014 của Quốc hội.

5. Ngay saukhi ban hành kế hoạch công tác tư pháp năm 2015, đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức Hộinghị phổ biến kế hoạch lồng ghép với tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ rà soát hệthống hóa văn bản cho cán bộ pháp chế Bộ, ngành để nắm bắt sớm các chủ trương,kế hoạch lớn của Ngành Tư pháp và triển khai thực hiện cho phù hợp với Bộ,ngành mình (Thông tấn xã Việt Nam).

Trả lời:

Công tác tư pháp cónhiều nội dung khác nhau, đối tượng tham dự Hội nghị sẽ đa dạng, bao gồm cả cánbộ làm công tác pháp chế ở tổ chức pháp chế Bộ, ngành và cơ quan tư pháp địaphương nhưng không làm công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm phápluật, vì vậy, việc tổ chức 01 Hội nghị để phổ biến kế hoạch công tácnăm 2015 đồng thời lồng ghép tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ rà soát, hệ thốnghóa văn bản sẽ không đảm bảo tính hợp lý, khả thi và hiệu quả. Trong năm 2015,Bộ Tư pháp dự kiến tổ chức riêng lớp tập huấn rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm phápluật cho cán bộ pháp chế Bộ, ngành, địa phương.

6. Kiếnnghị trong triển khai một số nhiệm vụ công tác pháp chế cụ thể:

-Đối với hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật, có một số văn bản quy phạm phápluật sửa đổi, bổ sung nhưng không xác định được rõ chương, mục, điều, khoản sửađổi, bổ sung, thay thế, vì vậy việc áp dụng kỹ thuật hợp nhất văn bản là tươngđối khó khăn vì không xác định được vị trí của nội dung sửa đổi, bổ sung trongvăn bản hợp nhất. Đơn vị tiến hành hợp nhất phải tự xác định quy phạm nào trongvăn bản gốc được sửa đổi, bổ sung và có phương án xử lý phù hợp nên việc đảmbảo đáp ứng yêu cầu về tính chính xác, minh bạch, mục đích của việc hợp nhấtvăn bản quy phạm pháp luật là khó thực hiện. Theo đó, đề nghị Bộ Tư pháp cóhướng dẫn thống nhất đối với trường hợp này để thực hiện.

- Trong rà soát, hệthống văn bản quy phạm pháp luật; pháp điển quy phạm pháp luật, do các nhiệm vụnày mới phát sinh nên vừa làm vừa phải rút kinh nghiệm, trong khi các hoạt độngcó mối liên quan đến nhau và phải tính đến kế thừa kết quả như việc hệ thốnghóa và pháp điển phải kế thừa kết quả rà soát văn bản nhưng việc hướng dẫntriển khai của Bộ tư pháp không thống nhất và cắt khúc đối với từng hoạt độngnên gây khó khăn cho tổ chức thực hiện.

Đồng thời, khối lượngvăn bản thuộc lĩnh vực tài chính cần rà soát lớn, công việc rà soát, hệ thốnghóa văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi phải huy động sự tham gia của các đơn vịthuộc Bộ và phải giành nhiều thời gian để triển khai thực hiện, vì vậy ngoàiviệc phải có hướng dẫn cụ thể, kịp thời còn phải tính đến khoảng thời gian đểhoàn thành, nhất là các Bộ có số lượng văn bản lớn như Bộ Tài chính.

- Về phối hợp trong côngtác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, trong một số trường hợp văn bản cònđang trong quá trình kiểm tra và còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa đủ cơ sởpháp luật và thực tiễn để kết luận, đề nghị Bộ Tư pháp không cung cấp thông tinra ngoài, tránh ảnh hưởng đến việc thực thi văn bản (Bộ Tàichính).

Trả lời:

- Đối với đềnghị hướng dẫn thống nhất đối với trường hợp văn bản QPPL sửa đổi, bổ sungnhưng không xác định được rõ chương, mục, điều, khoản sửa đổi, bổ sung, thaythế: Nội dung này đã được hướng dẫn cụ thể tại “Sổ tay nghiệp vụ kỹ thuật hợpnhất văn bản QPPL”. Do đó, đề nghị các Bộ, ngành có kiến nghị nội dung nàynghiên cứu các trường hợp đã được hướng dẫn tại Sổ tay để thực hiện.

- Về mối liên hệ, kế thừa giữa hoạtđộng rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm phápluật: Việc kết nối, sử dụng kết quả của hoạt động rà soát văn bản quy phạm phápluật với hệthống hóa văn bản quy phạm pháp luậtđã được quy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP vàhướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 09/2013/TT-BTP ; việc pháp điển hệ thống QPPLphải tính đến kế thừa kết quả rà soát văn bản QPPL là cần thiết, điều này đãđược quy định rõ tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 13/2014/TT-BTP (trên cơ sở kếtquả rà soát văn bản, cơ quan thực hiện pháp điển…). Theo quy định của Nghị địnhsố 16/2013/NĐ-CP thì việc rà soát văn bảnquy phạm pháp luậtđược thực hiện thườngxuyên, ngay khi có căn cứ pháp lý. Trường hợp cơ quan thực hiện pháp điển thuthập văn bản và thấy chưa được rà soát hoặc văn bản phản ánh không cập nhậttình trạng pháp lý của văn bản thì phải tiến hành rà soát hoặc kiến nghị ràsoát theo quy định. Trường hợp văn bản đã được rà soát, nếu có nội dung mâuthuẫn, chồng chéo hoặc không phù hợp với thực tế thì phải được xử lý theo quyđịnh tại Điều 10 của Nghị định số 63/2013/NĐ-CP .

- Đối với kiến nghị về việc hướngdẫn cụ thể, kịp thời và thời gian hoàn thành việc rà soát, hệ thống hóa văn bảnquyphạm pháp luậtthuộc lĩnh vực tài chính: Kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số16/2013/NĐ-CP ngày 06/2/2013 về rà soát, hệ thống hóa văn bảnquy phạm phápluật, Bộtrưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày 15/6/2013 quy địnhchi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP thể chế về công tác rà soát, hệthống hóa văn bản mới được hoàn thiện. Do đó, trong giai đoạn đầu triển khainhiệm vụ, các Bộ, ngành, địa phương sẽ gặp những khó khăn nhất định về cáchhiểu các quy định, trong tổ chức thực hiện, kinh phí, biên chế. Ngoài ra, ở mộtsố chuyên đề nhất định, do phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, việc quy định thờigian rà soát văn bảnquy phạm pháp luật có phần hạn hẹp về thời gian nên đã dẫn đến nhữngkhó khăn nhất định trong tổ chức triển khai thực hiện tại một số Bộ, ngành và địaphương, đặc biệt đối với những nơi có số lượng văn bản quy phạm pháp luật cần phải rà soát lớn.

Với vai trò là cơ quan được Chínhphủ giao quản lý nhà nước về công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm phápluật, Bộ Tưpháp đã tiến hành tổ chức các Hội nghị triển khai, lớp tập huấn công tác ràsoát, hệ thống hóa văn bản, biên soạn tài liệu, sách hướng dẫn nghiệp vụ...Đồng thời, trong quá trình thực hiện, Bộ Tư pháp cũng thường xuyên giải đápnghiệp vụ, vướng mắc cho các Bộ, ngành, địa phương bằng công văn, thư điện tử,điện thoại.

Để công tác rà soát, hệ thống hóavăn bản đạt hiệu quả cao, đối với từng Bộ, ngành, địa phương, tổ chức pháp chếcũng cần tích cực tham mưu cho lãnh đạo ban hành các văn bản điều chỉnh côngtác rà soát, hệ thống hóa văn bản trong nội bộ cơ quan mình. Bên cạnh đó, theoquy định tại Nghị định số 16/2013/NĐ-CP (Chương V), các cơ quan, đơn vị cũngcần chủ động tham mưu lãnh đạo bố trí các điều kiện bảo đảm đối với công tác ràsoát, hệ thống hóa văn bản như về kinh phí, biên chế, cộng tác viên, tổ chứctập huấn cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức pháp chế và các cơ quan,đơn vị chuyên môn thuộc cơ quan mình.

Ngoài ra, trong quá trình thực hiệnrà soát, hệ thống hóa văn bản, khi có vướng mắc phát sinh, đề nghị các cơ quanphản ánh về Bộ Tư pháp để được giải đáp, hướng dẫn kịp thời.

Về phối hợp trong công tác kiểm travăn bản quy phạm pháp luật, trong một số trường hợp văn bản còn đang trong quá trìnhkiểm tra và còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa đủ cơ sở pháp luật và thực tiễn đểkết luận, Bộ Tư pháp thống nhất không cung cấp thôngtin ra ngoài, tránh ảnh hưởng đến việc thực thi văn bản.

7. Đề nghịBộ Tư pháp hướng dẫn cho các địa phương về cách xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệurà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật cho cán bộ,công chức làm công tác này (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang xây dựngĐề án Hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợpnhất văn bản quy phạm pháp luật. Sau khi Đề án này được ban hành và tổ chức triển khai thựchiện (dự kiến trong quý I năm 2015), Bộ Tư pháp sẽ tổ chức tập huấn, hướng dẫncác Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác này.

8. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu trình Chính phủ quy định chứcdanh kiểm tra viên đối với công chức chuyên trách làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, những ngườinày cần phải qua khoá đào tạo kỹ năng, cấp chứng chỉ mới có thể được bổ nhiệm (UBND tỉnh Sơn La).

Trả lời:

Vấn đề này, Bộ Tư pháp ghi nhận kiếnnghị của địa phương và sẽ tổ chức nghiên cứu trong quá trình sửa đổi, bổ sungNghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lývăn bản quy phạm pháp luật. Nếu thấy cần thiết, Bộ Tư pháp sẽ kiến nghị vớiChính phủ xem xét, quy định về chức danh này để đáp ứng yêu cầu của công táckiểm tra văn bảnquy phạm pháp luật nhằm phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản phápluật (sau khi được Quốc hội thông qua).

IV. LĨNH VỰC QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠMHÀNH CHÍNH VÀ THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT

1. Ngay saukhi ban hành kế hoạch công tác tư pháp năm 2015, đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức Hộinghị phổ biến kế hoạch lồng ghép với tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ theo dõi thihành pháp luật cho cán bộ pháp chế Bộ, ngành để nắm bắt sớm các chủ trương, kếhoạch lớn của Ngành Tư pháp và triển khai thực hiện cho phù hợp với Bộ, ngànhmình (Thông tấn xã Việt Nam).

Trả lời:

Hiện nay, trong dự kiến Kế hoạchcông tác năm 2015, Bộ Tư pháp (Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõithi hành pháp luật) đã dự kiến việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ theo dõi thihành pháp luật cho cán bộ pháp chế Bộ, ngành. Tuy nhiên, việc có tổ chức lồngghép Hội nghị phổ biến kế hoạch công tác tư pháp năm 2015 với tập huấn, bồidưỡng nghiệp vụ theo dõi thi hành pháp luật còn phụ thuộc vào thời gian, nội dungchương trình Hội nghị và nội dung tập huấn, bồi dưỡng.

2. Trongquá trình tổng hợp báo cáo, tại các mẫu số 01, 02 kèm theo Công văn số 4212/BTP-QLXLVPHC &TDTHPL ngày 06/10/2014 của Bộ Tư pháp chưa phù hợp vớilĩnh vực thuế vì theo Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuếthì biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính thuế được thểhiện trên số tiền thuế truy thu vào ngân sách nhà nước và tiện chậm nộp tiềnthuế (nếu có).

Ngoài ra,còn một số khó khăn, vướng mắc, bất cập đã được nêu tại Báo cáo của Bộ Tàichính về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ban hành kèmtheo Công văn số 5413/BTP-PC ngày 25/4/2014 (gửi kèm), đề nghị Bộ Tư phápnghiên cứu (Bộ Tài chính).

Trả lời:

Trên cơ sở ý kiến của Bộ Tài chính,Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp những nội dung chưa phù hợp, một số vấn đề còn khó khăn,vướng mắc, bất cập mà Bộ Tài chính nêu để nghiên cứu, đề xuất biện pháp giảiquyết. Các biểu mẫu được ban hành chỉ tạm sử dụng cho năm 2014, năm 2015, Bộ Tưpháp sẽ nghiên cứu xây dựng Thông tư ban hành chính thức các biểu mẫu báo cáonày.

3. Hằng năm, Bộ Tư phápphối hợp với các Bộ, ngành ở Trung ương xác định lĩnh vực trọng tâm theo dõitình hình thi hành pháp luật, hướng dẫn sớm cho địa phương để kịp thời triểnkhai thực hiện và chủ động xây dựng dự toán ngân sách đảm bảo cho việcthực hiện(UBNDcác tỉnh, tp: Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Ngày 12/12/2014, Bộ Tư pháp đã cóCông văn số 5072/BTP-QLXLVPHC &TDTHPL gửi lấy ý kiến một số Bộ, ngành cóliên quan về việc trao đổi về lĩnh vực trọng tâm liên ngành theo dõi tình hìnhthi hành pháp luật năm 2015 (dự kiến lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thươngmại và hàng giả).

Trên cơ sở ý kiến của các Bộ, ngành,Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Kế hoạch theo dõitình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm, trình Lãnh đạo Bộ Tưpháp ký ban hành trong tháng 01/2015.

4.Hướng dẫn biểu mẫu báo cáo về tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạmhành chính tại địa phương theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013(UBND TP. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Trong năm 2015, Bộ Tư pháp dự kiếnxây dựng, ban hành Thông tư quy định hệ thống biểu mẫu báo cáo về xử lý vi phạmhành chính, trong đó có nội dung quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định số81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013.

5. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưuChính phủ ban hành Nghị định về cơ sở dữ liệu xử lý vi phạm hành chính và sớmxây dựng phần mềm, có hướng dẫn để triển khai thực hiện trong toàn quốc; tổngkết và có văn bản hướng dẫn về những nội dung vướng mắc của các địa phươngtrong việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thihành để áp dụng thống nhất trong cả nước (UBND tp. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Triển khai Luật Xử lý vi phạm hànhchính năm 2012 và Quyết định số 1473/QĐ -TTg ngày 05/10/2012 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành Kế hoạch triển khai và Danh mục nghị định quy định chi tiết thihành Luật Xử lý vi phạm hành chính thì Bộ Tư pháp được giao nhiệm vụ xây dựngNghị định quy định cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính, trìnhChính phủ vào tháng 10/2013. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới, rất phức tạp nên cầnphải có thêm thời gian để nghiên cứu, thống nhất về nội dung của dự thảo Nghịđịnh, bảo đảm tính khả thi trước khi trình Chính phủ. Ví dụ như: (i) vấn đề môhình cấu trúc dữ liệu (ii) phạm vi thông tin cần cập nhật vào cơ sở dữ liệuquốc gia về xử lý vi phạm hành chính; (iii) trách nhiệm của các cơ quan có liênquan trong việc xây dựng, cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu quốc gia về xửlý vi phạm hành chính; (iv) mô hình quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý viphạm hành chính; (v) nguồn nhân lực để triển khai thực hiện.

Xuất phát từ lý do nêu trên, Bộ Tưpháp đã có văn bản đề nghị Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ chophép lùi thời gian trình Chính phủ đối với dự thảo Nghị định quy định cơ sở dữliệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính đến tháng 12/2015. Năm 2015, Bộ Tưpháp cũng sẽ xúc tiến nghiên cứu việc xây dựng phần mềm về xử lý vi phạm hànhchính.

6. Đề nghịBộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính ban hành văn bản hướng dẫn việc bảo đảmkinh phí cho công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; quy định chế độ,chính sách đối với cán bộ trực tiếp thực hiện công tác theo dõi tình hình thihành pháp luật (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Trên cơ sở ý kiến của Quý Ủy ban, BộTư pháp sẽ tổng hợp, nghiên cứu để có đề xuất phù hợp, khả thi với Bộ Tài chínhtrong việc ban hành văn bản riêng hướng dẫn việc bảo đảm kinh phí cho công táctheo dõi tình hình thi hành pháp luật; quy định chế độ, chính sách đối với cánbộ trực tiếp thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

7. Đề nghị Bộ Tư pháp tổ chức sơkết, tổng kết, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 59/2012/NĐ-CP của Chính phủ nhằm hướng dẫn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắcphát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành phápluật (UBND tỉnh Lâm Đồng).

Trả lời:

Năm 2015, Bộ Tư pháp dự kiến tổ chức Hội nghị sơ kết03 năm thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP của Chính phủ nhằm đánh giá nhữngkết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và trên cơ sở đó, đề xuất nhữnggiải pháp nhằm hướng dẫn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trongquá trình thực hiện nhiệm vụ theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

8. Đề nghị Bộ Tư pháp quan tâm tập huấn về nghiệp vụ theo dõi tình hình thihành pháp luật, nghiệp vụ áp dụng các quy định về xử lý vi phạm hành chính nhằmnâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức ở địa phương; định kỳ tổ chức Hội nghị tập huấn theo hướng chuyên sâu đểcác địa phương nắm bắt các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng nhưcác văn bản hướng dẫn thi hành, tạo điều kiện để các địa phương được trao đổi,kiến nghị trả lời nhiều vấn đề khó khăn, vướng mắc mà hiện nay địa phương gặpphải trong thời gian đầu triển khai thực hiện Luật và các văn bản hướng dẫn(UBND các tỉnh: Lâm Đồng, Quảng Trị, Sơn La).

Trả lời:

Ngay sau khi Luật XLVPHC được thông qua, Bộ Tư pháp đã tổchức 02 Hội nghị triển khai thi hành Luật XLVPHC và Nghị quyết số 24/2012/QH13 của Quốc hội tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với sự tham gia của đại diện Lãnhđạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, đồng thời tổ chức nhiềuHội nghị tập huấn thi hành Luật và Nghị quyết của Quốc hội cho cán bộ làm côngtác pháp chế, cán bộ trực tiếp làm công tác xử lý vi phạm hành chính của cácBộ, cơ quan ngang Bộ và một số địa phương. Trong quá trình phổ biến, triển khaithi hành Luật XLVPHC, Bộ Tư pháp luôn lưu ý các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần ápdụng các quy định về xử lý vi phạm hành chính có lợi cho đối tượng bị xử lý viphạm hành chính kể từ ngày Luật được công bố mà không đợi đến khi Luật có hiệulực thi hành theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 24/2012/QH13 .

Thực hiện Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcngành Tư pháp năm 2014 (được ban hành kèm theo Quyết định số 419/QĐ-BTP ngày24/02/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) và Kế hoạch tổ chức Lớp tập huấn chuyênsâu về xử lý vi phạm hành chính (được ban hành kèm theo Quyết định số 1380/QĐ-BTP ngày 13/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Học viện Tư pháp phối hợpvới Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tưpháp tổ chức 05 lớp tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính tại Hà Nội,Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Lớp tập huấn đầu tiên đã được tổ chức thành côngtại TP. Hồ Chí Minh vào các ngày 23, 24 và 25/7/2014. Nội dung tập huấn tậptrung vào những điểm mới trong xử phạt vi phạm hành chính của LuậtXử lý vi phạm hành chính so với Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính2002 (sửa đổi, bổ sungnăm 2008); những vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính; các hình thức xử phạt và biện phápkhắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện phápkhắc phục hậu quả; trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyếtđịnh xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt; các biện pháp ngăn chặnvà bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính; xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên và cácbiện pháp thay thế; tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị quyết số 24/2012/QH13 vềviệc thi hành Luật. Đối tượng được mời tham dự tập huấn là các cán bộ, côngchức và một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tại các địaphương khu vực phía Nam, khu vực miền Trung và Tây Nguyên, khu vực phía Bắc.

Thông qua các lớp tập huấn chuyên sâu về xử lý vi phạm hànhchính, các địa phương, Bộ, ngành có điều kiện trao đổi, thảo luận về những vấnđề khó khăn vướng mắc gặp phải trong thời gian đầu triển khai thực hiện Luật Xửlý vi phạm hành chính, cũng như các văn bản quy định chi tiết. Đồng thời, cùngkiến nghị những giải pháp nhằm tiếp tục triển khai thi hành Luật xử lý vi phạmhành chính và các văn bản quy định chi tiết một cách đồng bộ và có hiệu quả.

Tiếp đó, thực hiện Quyết định số 845/QĐ-BTP ngày 15/4/2014của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị tập huấn giớithiệu, quán triệt nội dung, yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý côngtác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các Bộ, cơquan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,tháng 10/2014, Bộ Tư pháp đã tổ chức Hội nghị tập huấn giới thiệu, quán triệtnội dung, yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành phápluật về xử lý vi phạm hành chính cho Lãnh đạo, cán bộ của tổ chức pháp chếthuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, đại diện Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương, Lãnh đạo, cán bộ Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương trên toàn quốc. Mục đích tổ chức tập huấn nhằm nâng cao nhậnthức, tăng cường hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành phápluật về xử lý vi phạm hành chính.

Năm 2015, Bộ Tư pháp tiếp tục tổ chức Hội nghị tập huấnchuyên sâu về xử lý vi phạm hành chính (bao gồm cả xử phạt vi phạm hành chínhvà các biện pháp xử lý hành chính) để các địa phương nắm bắt các quy định củaLuật Xử lý vi phạm hành chính cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo điềukiện để các địa phương được trao đổi, kiến nghị trả lời nhiều vấn đề khó khăn,vướng mắc mà hiện nay địa phương gặp phải trong quá trình triển khai thực hiệnLuật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

9. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp BộTài chính ban hành quy định về kinh phí đảm bảo công tác quản lý thi hành phápluật về xử lý vi phạm hành chính; ban hành văn bản hướng dẫn cách thức tạo lậpcơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính và tổ chức tập huấn để áp dụng thốngnhất tại các địa phương (UBND tỉnh Lâm Đồng).

Trả lời:

Năm 2015, Bộ Tư pháp dự kiến đề xuất, chủ trì phốihợp với Bộ Tài chính xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn định mứcchi tiêu cho công tác xử lý vi phạm hành chính.

Đối với nội dung về ban hành văn bản hướng dẫn cáchthức tạo lập cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính và tổ chức tập huấn đểáp dụng thống nhất tại các địa phương, hiện nay, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phốihợp các Bộ, ngành hữu quan khẩn trương xây dựng Nghị định và Đề án Cơ sở dữliệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.

10. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hànhThông tư hướng dẫn về công tác theo dõi thi hành pháp luật thay thế Thông tư số 03/2010/TT-BTP và nghiên cứu ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá tình hình thi hànhpháp luật, nhất là việc đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, tính hợp lý của cácquy định pháp luật và hiệu quả của việc tuyên truyền pháp luật (UBND tỉnh VĩnhPhúc).

Trả lời:

Ngày 15/5/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 14/2014/TT-BTP quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Thông tư số14/2014/TT-BTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014 và thay thế Thông tưsố 03/2010/TT-BTP.

11. Luật Xử lý vi phạm hành chínhđược Quốc hội thông qua ngày 20/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013.Để hướng dẫn thi hành Luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lývi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tế áp dụng Nghị định số 81/2013/NĐ-CP vẫncòn nhiều điểm bất cập: một số quy định về biểu mẫu kèm theo Nghị định số81/2013/NĐ-CP không phù hợp với thể thức văn bản hành chính quy định tại Thôngtư số 01/2011/TT-BNV gây lúng túng cho địa phương trong quá trình triển khaithực hiện, dẫn đến việc mỗi địa phương áp dụng theo một cách khác nhau... Đềnghị Bộ Tư pháp sớm tham mưu Chính phủ sửa đổi các điểm bất cập của Nghị địnhsố 81/2013/NĐ-CP (UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Bộ Xây dựng).

Trả lời:

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang được Thủ tướng Chính phủgiao chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiến hành đánh giá thựctiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản pháp luật khác cóliên quan để kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu thựctiễn; báo cáo Chính phủ xem xét, trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật vào thờiđiểm phù hợp (Công văn số 2298/TTg-KGVX ngày 14/11/2014 của Thủ tướng Chính phủvề việc thực hiện Nghị quyết số 77/2014/QH13 của Quốc hội).

Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thi hành Luật Xử lý viphạm hành chính cũng như thực tiễn triển khai thi hành Nghị định số81/2013/NĐ-CP Bộ Tư pháp sẽ tổng hợp, báo cáo, đề xuất Chính phủ sửa đổi cácđiểm bất cập của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP .

12. Đề nghị Bộ Tư pháp kiến nghị vớiChính phủ chỉ đạo Bộ Y tế sớm có văn bản hướng dẫn việc tập huấn và cấp chứngchỉ về điều trị cắt cơn nghiện ma túy, đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân tốicao có văn bản hướng dẫn về việc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chínhđưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với những trường hợp hồ sơ cònthiếu chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do cơ quan có thẩmquyền cấp để sớm đưa được đối tượng đi cai nghiện theo quy định (UBND tỉnh VĩnhPhúc).

Trả lời:

Ngày 14/11/2014, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số2298/TTg-KGVX gửi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy bannhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc triển khai thực hiệnNghị quyết số 77/2014/QH13 của Quốc hội. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ có chỉđạo các Bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngđẩy mạnhcải cách hành chính, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng và Tòa ánđể rút ngắn thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cainghiện.

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế phảikhẩn trương ban hành văn bản chỉ đạo hướng dẫn để triển khai công việc nàytrong thực tiễn. Đối với vấn đề hồ sơ phải có giấy chứng chỉ tập huấn về điềutrị cắt cơn nghiện ma túy do cơ quan có thẩm quyền cấp, Bộ Tư pháp sẽ báo cáoChính phủ và liên hệ với Tòa án nhân dân tối cao để phối hợp, bàn bạc giảiquyết vấn đề này.

V. LĨNH VỰC KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNHCHÍNH

1. Việcđánh giá tác động từng thủ tục hành chính theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP đối với các dự án luật, nghị định chỉ quy định về nguyên tắc nêncó trường hợp không có đủ thông tin về các bộ phận thủ tục hành chính nên việcđánh giá còn có nhiều khó khăn. Đề nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu để có hướng dẫnriêng đối với từng loại văn bản (Bộ Tài chính).

Trả lời:

Điều 5 Thông tư số 07/2014/TT-BTPngày 24/2/2014 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hànhchính và rà soát, đánh giá tác động thủ tục hành chính đã quy định:

Cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiệnđánh giá tác động về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và chi phí tuânthủ của thủ tục hành chính theo hướng dẫn tại các Điều 6, 7, 8, 9 và Biểu mẫu01A/ĐT-KSTT, Biểu mẫu 03/SCM-KSTT ban hành kèm theo Thông tư số 07/2014/TT-BTP .

Đồng thời Điều 10 Thông tư số07/2014/TT-BTP quy định việc đánh giá tác động đối với một số trường hợp cụ thểnhư sau:

- Trong trườnghợp Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị định củaChính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ chưa quy định đầy đủ các bộ phậntạo thành một thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 8 Nghị định số63/2010/NĐ-CP và giao cho cơ quan cấp dưới quy định đầy đủ, chi tiết, cơ quanchủ trì soạn thảo tiến hành đánh giá tác động đối với những bộ phận tạo thànhcủa thủ tục hành chính được giao quy định đầy đủ, chi tiết.

- Đối với thủ tục hành chính được sửađổi, bổ sung, cơ quan chủ trì soạn thảo tiến hành đánh giá tác động đối vớinhững bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung.

Ngoài việc đánh giá tác động, cơquan chủ trì soạn thảo phải thuyết minh rõ tính đơn giản cũng như những ưu điểmcủa thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và lợi ích về chi phí.

Do đó, kiến nghị của Bộ Tài chính đãđược giải quyết tại các quy định của Thông tư số 07/2014/TT-BTP .

2. Đề nghịBộ Tư pháp cần bảo đảm tính thông suốt, ổn định của hệ thống Cơ sở dữ liệuquốc gia để địa phương thực hiện việc cập nhật thủ tục hành chính tốt hơn; Banhành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thốngnhất trong công tác Kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) ở địa phương đểthực hiện có hiệu quả hơn; phối hợp với các Bộ có liên quan trongcông tác cải cách hành chính để ban hành các quy định về tráchnhiệm kiểm tra giám sát, phối hợp trong công tác Kiểm soát TTHC (UBNDtỉnh Quảng Trị, Bộ Xây dựng).

Trả lời:

Ngày 15/9/2014 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 19/2014/TT-BTP quy định về nhập, đăng tải, khai thác dữ liệu thủ tục hành chínhtrên Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC và quản lý CSDLQG về TTHC, việc ban hànhThông tư này tạo điều kiện cho việc cập nhật TTHC lên CSDLQG được thống nhất từTrung ương đến địa phương. Đồng thời, hiện nay Bộ Tư pháp đang trong giai đoạnnâng cấp và hoàn thiện một số tính năng trong CSDLQG để đảm bảo việc sử dụngthuận tiện nhất và đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, ngay sau khi việc này thựchiện xong và căn cứ vào các hướng dẫn tại Thông tư số 19/2014/TT-BTP thì Cơ sởdữ liệu quốc gia về TTHC sẽ được đưa vào vận hành và khai thác thông suốt và ổnđịnh trong thời gian tới.

3. Đề nghị Bộ Tư pháp hàng năm tổ chức tập huấn nghiệpvụ cho cán bộ Tư pháp địa phương, nhất là lĩnh vực Kiểm soát thủ tục hành chính(UBND tỉnh Sơn La, Bộ xây dựng).

Trả lời:

Năm 2013 - 2014, Bộ Tư pháp đã tổchức 02 Hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo hình thứctrực tuyến cho cán bộ, công chức kiểm soát thủ tục hành chính của các Bộ,ngành, địa phương để tăng cường và nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ, công chứclàm công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại Bộ, ngành và địa phương trong cảnước. Sau khi được tập huấn Sở Tư pháp có trách nhiệm về tổ chức tập huấnnghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho đầu mối các Sở, ngành và các cấphuyện xã thuộc địa phương.

Bên cạnh đó, để hướng dẫn nghiệp vụcho các cán bộ, công chức của các Bộ, ngành địa phương, Cục Kiểm soát thủ tụchành chính đã biên soạn Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chínhgửi các Bộ, ngành, địa phương để làm tài liệu tham khảo trong quá trình thựchiện nhiệm vụ.

Trên cơ sở ý kiến của các Bộ, ngành,địa phương, năm 2015, Bộ Tư pháp sẽ lựa chọn những nội dung được nhiều Bộ,ngành, địa phương quan tâm để triển khai tập huấn.

4. Ngày 15/9/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 19/2014/TT-BTP quy định về nhập, đăng tải, khai thác dữ liệu thủ tục hành chính trên cơ sở dữliệu quốc gia về thủ tục hành chính và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủtục hành chính. Khoản 5 Điều 11, Khoản 3 Điều 12 Thông tư số 19/2014/TT-BTP quyđịnh Bộ Tư pháp chủ trì tổ chức kết nối, tích hợp, chia sẽ dữ liệu thủ tục hànhchính trên Cơ sở dữ liệu quốc gia với cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơquan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, đến nay, Bộ Tư pháp vẫnchưa triển khai nội dung này. Đề nghị Bộ Tư pháp sớm triển khai tổ chức kếtnối, tích hợp, chia sẽ dư liệu thủ tục hành chính trên Cơ sở dữ liệu quốc giavới với cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dâncấp tỉnh để tiết kiệm thời gian và nguồn lực của các đơn vị, tránh tình trạngphải cập nhật hai lần lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và lêntrang thông tin điện tử của đơn vị như hiện nay (Ngân hàng nhà nước Việt Nam).

Trả lời:

Thực hiện Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin củaNgành Tư pháp năm 2014, Bộ Tư pháp đã nâng cấp, phát triển Cơ sở dữ liệu quốcgia về thủ tục hành chính đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ của Thông tư số19/2014/TT-BTP và thực hiện chuyển đổi nguyên trạng dữ liệu thủ tục hành chínhcủa các Bộ, ngành, địa phương sang hệ thống mới, tuy nhiên, trong quá trìnhquản lý, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp nhậnthấy hiện tồn tại nhiều dữ liệu thủ tục hành chính dư thừa phát sinh trong quátrình cập nhật của các Bộ, ngành, địa phương. Để bảo đảm tính chính xác của dữliệu thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp trong quá trình tracứu, tìm hiểu và sử dụng để giải quyết thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp đã đềxuất với Thủ tướng Chính phủ tổ chức rà soát, chuẩn hóa bộ thủ tục hành chínhthuộc phạm vi chức năng quản lý và thẩm quyền giải quyết của Bộ, ngành, địaphương. Sau đó, các dữ liệu thủ tục hành chính đã được chuẩn hóa sẽ được cậpnhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính để tích hợp, chia sẻ chocổng thông tin điện tử các cơ quan hành chính nhà nước.

5.Về kiến nghị của Ngân hàngNhà nước Việt Nam đối với một số nội dung quy định tại Thông tư 05/2014/TT-BTPngày 07/02/2014.

Trả lời:

1. Về việc xây dựng, ban hành Quyết định công bố thủtục hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

Hướng dẫn về thời gian xây dựng, ban hành Quyết địnhcông bố thủ tục hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tại Điều6 Thông tư 05/2014/TT-BTP được xây dựng trên cơ sở quy định của Nghị định số63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010, Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 củaChính phủ, quy định về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL) tại Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, Luật Ban hành VBQPPL của Hội đồngnhân dân năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Như vậy, quy định tạiThông tư số 05/2014/TT-BTP hoàn toàn thống nhất, phù hợp với các văn bản phápluật hiện hành, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, về cách xác định đơn vị tính là ngày làmviệc nhằm đảm bảo phù hợp với cách tính về thời gian làm việc của các cơ quanhành chính nhà nước nói chung và của cán bộ, công chức trực tiếp tiếp nhận,giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính nói riêng; đồng thời tạo thuận lợi, dễtính, dễ theo dõi cho cán bộ, công chức cũng như người có yêu cầu giải quyếtthủ tục hành chính.

Như vậy, tổng số thời gian chậm nhất trước 20 ngàylàm việc tính đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hànhchính có hiệu lực thi hành được tính quy đổi từ quy định tại Điều 78 Luật Banhành VBQPPL năm 2008 về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luậtkhông sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

- Thứ hai, đối với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6về thời hạn chậm nhất trước 30 ngày làm việc tính đến ngày văn bản quy phạmpháp luật có nội dung quy định chi tiết về thủ tục hành chính có hiệu lực thi hành,cơ quan, đơn vị đã dự thảo quyết định công bố phải gửi dự thảo Quyết định đếntổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ để kiểm soát chất lượng.

Thời gian nêu trên được xác định đối với giai đoạn dựthảo Quyết định công bố và tính thêm cả thời gian kiểm soát chất lượng của cơquan kiểm soát thủ tục hành chính và thời gian để cơ quan dự thảo quyết địnhcông bố chỉnh lý, hoàn thiện, trình ban hành quyết định công bố, đảm bảo khiquyết định được ban hành phải đúng thời hạn quy định (chậm nhất trước 20 ngày làmviệc tính đến ngày VBQPPL có quy định về thủ tục hành chính có hiệu lực thihành).

2. Về báo cáo định kỳ

a) Về nơi nhận báo cáo

Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 48/2013/NĐ-CP quy định:“BộTư pháp có trách nhiệm tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tìnhhình, kết quả thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính của các Bộ, cơquan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo địnhkỳ hoặc báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”.Nội dung hướng dẫn tại khoản 1 Điều 15 Thông tư số 05/2014/TT-BTP để xác địnhvề tính chất, yêu cầu của báo cáo; Bộ Tư pháp phải có trách nhiệm giúp Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ tổng hợp báo cáo và Cục Kiểm soát thủ tục hành chínhlà cơ quan chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện công việc này. Vì vậyquy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 15 Thông tư số 05/2014/TT-BTP hoàn toànphù hợp và thống nhất. Tuy nhiên, kỹ thuật diễn đạt còn mang tính vắn tắt chonên dễ dẫn đến cách hiểu như đã nêu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

b) Về thời hạn báo cáo theo định kỳ

Thông tư số 20/2013/TT-BTP ngày 03/12/2013 của Bộtrưởng Bộ Tư pháp có quy định riêng đối với báo cáo về kiểm soát thủ tục hànhchính, cụ thể tại điểm c khoản 2 Điều 6 Thông tư số 20/2013/TT-BTP quy định:“Đối với lĩnh vực kiểm soát thủ tục hành chính, thời hạn nhận báo cáo của Bộ Tưpháp (Vụ Kế hoạch - Tài chính) là không quá 44 ngày kể từ ngày chốt số liệuthực tế trong kỳ báo cáo, cụ thể:

Báo cáo thống kê 6 tháng: chậm nhất là ngày 14 tháng6 hàng năm;

Báo cáo thống kê năm lần một:chậm nhất là ngày 14 tháng 12 hàng năm;

Báo cáo thống kê năm chính thức:chậm nhất là ngày 25 tháng 3 hàng năm;

Như vậy, trách nhiệm thực hiện báo cáo theo quy địnhtại điểm c khoản 2 Điều 6 Thông tư số 20/2013/TT-BTP là trách nhiệm tổng hợpbáo cáo của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính. Trên cơ sở quy định này, Cục Kiểmsoát thủ tục hành chính đã tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn vềthời hạn báo cáo định kỳ của các Bộ, ngành, địa phương theo Thông tư số05/2014/TT-BTP để giảm số lần báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương.

c) Về số lượng báo cáo và nội dung báo cáo

Quy định về số lượng báo cáo và nội dung báo cáo đượchình thành từ yêu cầu quản lý cũng như việc đánh giá tình hình thực hiện côngtác kiểm soát thủ tục hành chính hàng năm để xác định phương hướng, biện phápđổi mới, nâng cao chất lượng công tác. Do vậy, các biểu báo cáo được xây dựngchi tiết, tỉ mỉ với các mục tiêu quản lý cụ thể khác nhau. Năm 2014, Hệ thốngquản lý và đánh giá về kiểm soát thủ tục hành chính và việc nâng cấp Cơ sở dữliệu quốc gia về thủ tục hành chính được hoàn thành và hệ thống mở rộng tínhnăng báo cáo trực tuyến về tình hình thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính kếtnối tới cấp huyện, xã; xây dựng các bảng đánh giá tác động, tính toán chi phítuân thủ trực tuyến và mẫu Quyết định công bố thủ tục hành chính điện tử tíchhợp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính kết nối tới các Vụ, Cục,đơn vị thuộc Bộ, ngành hoặc các Sở, ngành, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấptỉnh… Sau khi hoàn thành việc mở rộng các chức năng, hầu hết các hoạt động nghiệp vụ kiểmsoát thủ tục hành chính sẽ được tin học hóa hoàn toàn, giúp giảm tải đáng kể cho đội ngũlàm công tác kiểm soát thủ tục hành chính và góp phần nâng cao hiệu quả côngviệc, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điềuhành của lãnh đạo các cơ quan hành chính nhà nước và qua đó, góp phần xây dựngnền hành chính văn minh, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân.

VI.LĨNH VỰC TỔ CHỨC CÁN BỘ

1. Trong Kếhoạch công tác năm 2015 của Bộ Tư pháp, cần nêu rõ thời gian, kế hoạch mở cáclớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra thựchiện pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật cho pháp chế các Bộ, ngành. Thường xuyên tổ chức các lớpbồi dưỡng nghiệp vụ trong lĩnh vực kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm phápluật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật; hành chính tư pháp, bổ trợ tưpháp, công tác bồi thường nhà nước; kiểm soát thủ tục hành chính; bán đấu giátài sản; nghiệp vụ thanh tra; lý lịch tư pháp…cho đội ngũ công chức, viên chức nhằmnâng cao kỹ năng và trình độ nghiệp vụ; quan tâm tăng cường đào tạo các chức danh Tư pháp để bố trí cán bộ vàluân chuyển cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác chuyênmôn (UBND các tỉnh, tp: Hồ Chí Minh,Vĩnh Phúc, Sơn La; Bộ Giao thôngvận tải, Thanh tra Chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam).

Trả lời:

Trong những năm qua và dự kiến kế hoạch trong năm 2015, BộTư pháp thường xuyên tổ chức mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức của ngành vànhững đối tượng chuyên môn thuộc phạm vi, hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ như: bồi dưỡng kiến thức vềtheo dõi thi hành pháp luật, rà soát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, bồidưỡng nghiệp vụ pháp chế theo Nghị định số 55/NĐ-CP … Trong Kế hoạch đào tạo,bồi dưỡng những năm trước đây và năm 2015, Bộ Tư pháp đều xác định rõ nội dung,chương trình, thời gian, địa điểm, đối tượng học, đơn vị chủ trì, đơn vị phốihợp… Do vậy, trên cơ sở nguồn kinh phí được phân bổ cho hoạt động đào tạo, bồidưỡng trong năm 2015, Bộ Tư pháp sẽ cân nhắc tới các đối tượng thực sự có nhucầu đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện cho đối tượng này.

2.Sớmban hành Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày28/4/2009 của Bộ Tư pháp-Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ quyền hạn vàcơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấphuyện và công chức Tư pháp thuộc UBND cấp xã; ban hànhThông tư liên tịch hướng dẫn về công tác quản lý nhà nước về Xử lý viphạm hành chính; công tác lý lịch Tư pháp, Bồi thường Nhà nước, quản lý phápchế ngành... (UBND tỉnh, tp: Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Cao Bằng).

Trả lời:

2.1.Đối với việc ban hành Thông tư thay thế Thông tư liên tịch số01/2009/TTLT-BTP-BNV

Ngày 22/12/2014, liên Bộ Tưpháp và Bộ Nội vụ đã phối hợp ký ban hành Thông tư liên tịch số 23/TTLT-BTP-BNVhướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộcỦy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủyban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thay thế Thông tư liêntịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV . Trong thời gian tới, BộTư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn việc tổ chức triển khaithực hiện Thông tư, đồng thời, nộidung của Thông tư sẽ được giới thiệu tại Hội nghị tổng kết công tác tư pháp năm2014 và triển khai công tác tư pháp năm 2015.

2.2 Đối với việc ban hànhcác Thông tư liên tịch hướng dẫn về công tác quản lý nhà nước về xử lý vi phạmhành chính; công tác lý lịch tư pháp, bồi thường nhà nước, quản lý pháp chế ngành…

- Đối với việc hướng dẫn công tác quảnlý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính, công tác lý lịch tư pháp, bồi thườngnhà nước, quản lý pháp chế ngành..., trên cơ sở quy định của pháp luật, trongquá trình xây dựng Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 giữaBộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (thay thế cho Thông tư liên tịch số01/2009/TTLT-BTP-BNV ) Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ rà soát, hệ thốnghóa các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tư pháp địa phương,trong đó đã sửa đổi, bổ sung các quy định hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp các lĩnh vực nêu trên theo quy địnhcủa pháp luật. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu có vướng mắc hoặc cần bổsung, sửa đổi, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành có liên quanhướng dẫn tổ chức thực hiện theo quy định.

3. Kiến nghị Chính phủ về việc ápdụng chế độ phụ cấp công vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sựnghiệp không có thu, chủ yếu sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước như Trungtâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước (UBND tp. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Theo Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày 15/4/2012 của Chính phủvề chế độ phụ cấp công vụ thì đối tượng được hưởng phụ cấp công vụ không baogồm các viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có cácđơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí. Quy định nàynhằm thực hiện đổi mới quản lý công chức, viên chức theo hướng phân định rõgiữa hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động dịch vụ sự nghiệp.

Tuy nhiên, qua theo dõi của Bộ Tư pháp và trên cơ sở sơ kết,đánh giá tình hình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sựnghiệp trong năm 2014 cho thấy, mặc dù theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP có quyđịnh về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập,tuy nhiên do không có nguồn thu nên trong thời gian qua hoạt động Trung tâm Trợgiúp pháp lý Nhà nước cũng gặp những khó khăn, không bảo đảm đủ kinh phí choviệc triển khai các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và không hỗ trợ tăng thêmđược thu nhập cho viên chức các đơn vị sự nghiệp. Điều này dẫn đến những khókhăn, hạn chế trong thực hiện công tác trợ giúp pháp lý và thu hút cán bộ làmcông tác trợ giúp pháp lý. Trước những khó khăn trên, năm 2014, được sự đồng ýcủa Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đang triển khai xây dựng Đề án đổi mới côngtác trợ giúp pháp lý nhằm đưa ra những giải pháp để khắc phục toàn diện nhữngkhó khăn, hạn chế trong công tác trợ giúp pháp lý, trong đó bao gồm cơ chế đểbảo đảm thu nhập cho cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý. Hiện nay, Đề án đã đượctrình Thủ tướng Chính phủ để xem xét, phê duyệt.

4. Đề nghịBộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ tăng biên chế hành chính cho các địa phương thựchiện các nhiệm vụ ngành Tư pháp mới được giao thêm; bố trí biên chế làm côngtác pháp chế tại 14 Sở, ngành theo quy định tại Nghị định 55/2011/NĐ-CP vềbiên chế cho công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính(UBND các tỉnh Cao Bằng,Quảng Trị, Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địaphương đã được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới theo Luật Lý lịch tư pháp, LuậtTrách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổchức pháp chế, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theodõi thi hành pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính.... Để bảo đảm đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ được giao, Bộ Tư pháp cũng đã luôn chú trọng đến việc kiệntoàn tổ chức cán bộ, biên chế triển khai nhiệm vụ cho các cơ quan tư pháp địaphương. Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ để ban hành hoặctrình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản triển khai thực hiện cácnhiệm vụ này như: Thông tư liên tịch số 18/2011/TTLT-BTP-BNV ngày hướng dẫnnhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức biên chế của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dâncấp tỉnh và Phòng Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện về bồi thường Nhànước, Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chứcthuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp”, Quyếtđịnh số 1950/QĐ-TTg ngày 22/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án“Xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống nhất côngtác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các Bộ, cơquan ngang Bộ và các cơ quan tư pháp địa phương”.

Tuy nhiên, qua theo dõi tình hình tổ chức các cơ quan tưpháp địa phương, Bộ Tư pháp cũng nhận thấy có những hạn chế, vướng mắc trongthực tế triển khai thực hiện các văn bản này. Do vậy, cùng với việc ban hànhcác văn bản triển khai thực hiện nêu trên, năm 2014, Bộ Tư pháp cũng đã có Kếhoạch kiểm tra tình hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ,ngành Tư pháp, trong đó bao gồm nội dung kiểm tra tình hình thực hiện phân cấpquản lý nhà nước các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ tại các cơ quan tưpháp địa phương và việc bố trí công chức Tư pháp - Hộ tịch. Qua kiểm tra đã thấythực trạng tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, đội ngũ cán bộ để từđó kiến nghị các địa phương thực hiện đúng các quy định về quản lý tổ chức cánbộ cơ quan tư pháp địa phương và phối hợp với Bộ Nội vụ để ban hành Thông tư liên tịch số 23/TTLT-BTP-BNV ngày22/12/2014 giữa Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ (thay thế cho Thông tư liên tịch số01/2009/TTLT-BTP-BNV )tạo cơ sở pháp lý cho việc bố trí biên chế, quảnlý và sử dụng cán bộ của các cơ quan tư pháp địa phương.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Tổchức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày8/3/2010 của Chính phủ quy định về quản lý biên chế công chức thì việc xâydựng, thẩm định và phân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính của địa phương thuộctrách nhiệm của Uỷ ban nhân dân và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Do đó, Bộ Tưpháp đề nghị Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động,tích cực hơn trong việc phối hợp với các cơ quan, ban, ngành có liên quan đềxuất bổ sung biên chế cho đội ngũ cán bộ tư pháp ở địa phương, trướcmắt khẩn trương hoàn thành việc xây dựng Đề án vị trí việc làm để có căn cứ choviệc kiện toàn tổ chức cán bộ của các cơ quan tư pháp địa phương.

VII. LĨNH VỰC KẾ HOẠCH -TÀI CHÍNH

1. Đề nghị BộTư pháp phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu điều chỉnh nâng mức chicho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời bổ sung mục chi choviệc tham gia góp ý, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thựctiễn, góp phần nâng cao chất lượng ý kiến tham gia của các cơ quan liên quan (Bộ Nộivụ).

Trả lời:

Ngày 14/7/2014, liên Bộ Tài chính,Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông tư liên tịch số92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP thay thế Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02/12/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Vănphòng Chính phủ hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phíngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vàhoàn thiện hệ thống pháp luật.

Theo đó, Thông tư liên tịch số92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP đã tăng định mức chi khoảng 50% cho các hoạtđộng có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtđã quy định tại Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP xác địnhnhững nội dung chi thực sự cần thiết để tăng định mức chi, tác động tích cựcđến tiến độ thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và có tác dụng độngviên, khuyến khích đội ngũ CBCC tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP không tăng cho địnhmức xây dựng Thông tư, Thông tư liên tịch và xây dựng các báo cáo đánh giá tácđộng, báo cáo tình hình thực thi pháp luật. Tăng thêm 43-52% tổng định mức phânbổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (trừthông tư, thông tư liên tịch).

Tại Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP đã có quy định cụ thể về mục chi và mức chi cho việc thamgia góp ý văn bản (khoản 4, Điều 4).

2. Thốngnhất thời hạn báo cáo tổng kết phong trào thi đua hàng năm với thời hạn báo cáotheo Thông tư 20/2013/TT-BTP để các địa phương thuận lợi trong công tác tổngkết, bình xét thi đua, đề nghị khen thưởng (UBND TP. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Hiện nay, quy định vềthời điểm báo cáo thống kê theo quy định tại Thông tư số 20/2013/TT-BTP (báocáo thống kê tính theo năm dương lịch[1])có sự chênh lệch so với thời điểm gửi báo cáo tổng kết phong trào thi đua hàngnăm (báo cáo tính từ 01/11 của năm trước đến 31/10 của năm báo cáo).Do vậy, Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu để thống nhấtthời hạn xây dựng báo cáo trong các lĩnh vực này để tạo thuận lợi trong thựchiện, bảo đảm kết hợp giữa việc tổng kết, bình xét thi đua, đề nghị khenthưởng hàng năm.

3. Đề nghịLãnh đạo Bộ Tư pháp bố trí vốn để năm 2015 khởi công xây dựng Trường Trung cấpLuật Tây Bắc và chỉ đạo các đơn vị chuyên môn của Bộ tiếp tục hỗ trợ TrườngTrung cấp Luật Tây Bắc để đẩy nhanh thực hiện cácnội dung đã ký kết trong Chương trình phối hợp giữa Bộ Tư pháp với Ủyban nhân dân tỉnh Sơn La về việc xây dựng Trường Trung cấp Luật Tây Bắc (UBND tỉnh Sơn La).

Trả lời:

Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hànhQuyết định số 2917/QĐ-BTP ngày 31/10/2014 phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng côngtrình Trường Trung cấp Luật Tây Bắc với tổng mức đầu tư là 339.128 triệu đồng,thời gian thực hiện dự án dự kiến: 2015-2019. Trong phương án phân bổ vốn đầutư xây dựng cơ bản năm 2015 gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp đã bố trí vốncho dự án là57.000 triệu đồng. Hiện nay, Vụ Kế hoạch - Tài chính Bộ Tưpháp vẫn tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chủ đầu tư để hoàn tất các thủ tụcchuẩn bị đầu tư như: tiến hành xây dựng kế hoạch đấu thầu, thiết kế bản vẽ thicông và các công tác chuẩn bị cho việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đề nghị Ủyban nhân dân tỉnh Sơn La tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việcxây dựng trụ sở công trình Trường Trung cấp Luật Tây Bắc.

VIII.LĨNH VỰC HỘ TỊCH, QUỐC TỊCH, CHỨNG THỰC

1. Đề nghị Bộ Tư pháp sớmxây dựng phần mềm đăng ký quản lý hộ tịch dùng chung thống nhất từ cấp xã,huyện, tỉnh để thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu về hộ tịch phục vụ công tác tracứu, xác minh, thống kê được thuận tiện và khoa học (UBND tỉnhLâm Đồng).

Trả lời:

Xác định đượctầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký vàquản lý hộ tịch, năm 2014, Bộ Tư pháp đã tham mưu xây dựng Đề án Cơ sở dữ liệuhộ tịch điện tử toàn quốc trình Thủ tướng Chính phủ, trong đó, xây dựng phầnmềm đăng ký và quản lý hộ tịch dùng chung, thống nhất trên toàn quốc là mộttrong các giải pháp phần mềm quan trọng. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịchđiện tử cũng là nhiệm vụ quan trọng, được Quốc hội giao cho Chính phủ thực hiệntheo quy định của Luật hộ tịch (thông qua ngày 20/11/2014).

Tuy nhiên, việcxây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử cần đặt trong tổng thể mối quan hệ vớiCơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (theo Đề án 896), Cơ sở dữ liệu thống kê tổnghợp về dân số (theo Thông báo số 307/TB-VPCP ngày 01/8/2014 của Văn phòng Chínhphủ thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam), vì những thông tin hộtịch cơ bản của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử sẽ cung cấp thôngtin đầu vào cho các cơ sở dữ liệu này. Do vẫn còn chưa thống nhất về quan điểm,mục tiêu xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu thống kêtổng hợp về dân số, mối quan hệ giữa hai Cơ sở dữ liệu này với Cơ sở dữ liệu hộtịch điện tử nên Bộ Tư pháp đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho lùi thờigian trình Đề án đến khi Chính phủ ban hành Nghị định quy định việc kết nối,cập nhật, chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin, lộ trình kết nối Cơ sở dữ liệuquốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu chuyên ngành (dự kiến hoàn thành trong năm2015).

Chủ trương củaBộ Tư pháp là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký vàquản lý hộ tịch từ năm 2015, bảo đảm kết nối thống nhất các thông tin liên quanđến tình trạng hộ tịch của công dân, chuẩn bị các điều kiện về nguồn lực, côngnghệ bảo đảm tiến độ theo đúng nhiệm vụ được giao trong Luật hộ tịch, chậm nhấttừ ngày 01/01/2020 sẽ thống nhất thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trongviệc đăng ký và quản lý hộ tịch thống nhất trên toàn quốc, đảm bảo kết nối,cung cấp thông tin hộ tịch từ cấp xã đến cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương. Dođó, trong thời gian này, Bộ Tư pháp vẫn tích cực xúc tiến việc nghiên cứu, ràsoát, tìm nguồn lực, các giải pháp phục vụ cho việc xây dựng Cơ sở dữ liệu hộtịch điện tử toàn quốc, trước mắt là thực hiện thí điểm việc ứng dụng công nghệthông tin tại một số địa bàn.

2. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu giúpChính phủ sớm ban hành Nghị định (văn bản QPPL) để thống nhất điều chỉnh, quảnlý hoạt động chứng thực nhằm kịp thời điều chỉnh những quy định chưa phù hợp,đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động chứng thực (UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Thựchiện Chương trình công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2014, Bộ Tưpháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng dự thảo Nghịđịnh về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (đã trình Chínhphủ theo Tờtrình số 54/TTr-BTP ngày 06/11/2014). Nghị định nàysẽ thay thế Nghịđịnh số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bảnsao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000của Chính phủ về công chứng, chứng thực; Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày20/01/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứngthực chữ ký và bãi bỏ Điều 4 của Nghị định số 06/2012/NĐ-CP của ngày 02/02/2012của Chính phủ sửa đổi Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực.

Bên cạnh đó, để chấn chỉnh tìnhtrạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối vớigiấy tờ, văn bản, giảm chi phí cho cá nhân, tổ chức khi thựchiện thủ tục hành chính, ngày 20/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉthị số 17/CT-TTg về một số biện pháp chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộpbản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hànhchính. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quanngang Bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tráchnhiệm tổ chức tuyên truyền quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CPngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từbản chính, chứng thực chữ ký; rà soát các văn bản pháp luật có quy định về việcnộp bản sao có chứng thực để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung…

Để triển khai Chỉ thị số17/CT-TTg Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 1949/2014/QĐ-BTP ngày20/8/2014 ban hành Kế hoạch triển khai Chỉ thị. Qua kiểm tra thực hiện Chỉ thịtại một số địa phương cho thấy, Chỉ thị số 17/CT-TTg đã được các cơ quan, tổchức triển khai quyết liệt và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Kết quả thực hiệnChỉ thị sẽ được báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào tháng 4/2015.

IX. LĨNH VỰC BỔ TRỢ TƯ PHÁP

1. Đề nghị Bộ Tư pháp có chiến lượcphát triển lâu dài đội ngũ luật sư công có trình độ cao (Bộ Công Thương).

Trả lời:

Vấn đề luật sư công đã được đặt ra từ khi soạnthảo Luật luật sư năm 2006 dưới hình thức là luật sư làm việc cho cơquan nhà nước theo chế độ công chức, làm việc cho tổ chức trợ giúppháp lý theo chế độ viên chức. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luậnthông qua Dự án Luật, đa số ý kiến của các đại biểu Quốc hội không nhấttrí với quy định này và đề nghị đưa ra khỏi Dự án Luật để đảm bảotính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề luật sư. Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật luật sư năm 2012 cũng không đặt ra vấn đề xây dựngđội ngũ luật sư công.

Để giải quyết vấn đề về luật sư công, Luậtluật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm2012 đã đưa ra quy định về hình thức luật sư hành nghề với tư cách cánhân, theo đó, luật sư có thể làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợpđồng lao động, tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu củacơ quan tiến hành tố tụng (án chỉ định). Ngoài ra, Điều 39 của Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư năm 2012 cũng quy định quyền của tổchức hành nghề luật sư được tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhànước, tham gia tư vấn, giải quyết các vụ việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khiđược yêu cầu, theo đó cơ quan, doanh nghiệp nhà nước có thể sử dụng dịch vụpháp lý của các tổ chức hành nghề luật sư mà không cần có đội ngũ luật sư công.

Bên cạnh đó, Luật Luật sư, Chiến lược phát triển nghềluật sư đến năm 2020 cũng có các quy định về việc thực hiện trợ giúp pháp lýmiễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách. Các hoạt động trợ giúp pháplý của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cũng đang được đẩy mạnh, góp phần đáp ứngnhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân.

Trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướngChính phủ đã ký ban hành Đề án “Đào tạo chuyên gia pháp luật, luật sư phục vụyêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2008 - 2010” (Quyết định số 544/QĐ-TTg ngày 14/5/2008) và Đề án “Phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hộinhập kinh tế quốc tế từ năm 2010 đến năm 2020” (Quyết định số 123/QĐ-TTgnga ̀y 18/01/2010) nhằm đào tạo đội ngũ luật sư phục vụ các công việc liên quanđến hội nhập kinh tế quốc tế theo yêu cầu của Chính phủ như tư vấn về hội nhậpkinh tế quốc tế, tham gia giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, soạn thảovăn bản quy phạm pháp luật...

Vì các lý do trên, Bộ Tư pháp thấy rằng không nên đưara vấn đề xây dựng chiến lược phát triển lâu dài đội ngũ luật sư công có trìnhđộ cao. Thay vào đó nên có đề xuất về việc có các chính sách ưu tiên cho các tổchức hành nghề luật sư Việt Nam có đủ năng lực, kinh nghiệm trong giải quyếttranh chấp quốc tế, thực hiện tư vấn, đại diện cho Chính phủ trong các quan hệ,giao dịch có yếu tố nước ngoài.

2. Đề nghị Bộ Tư pháptham mưu ban hành Luật Đấu giá tài sản và ban hành quy định về chế độ đãi ngộhợp lý cho đội ngũ Đấu giá viên đang làm việc tại các Trung tâm dịch vụ bán đấugiá tài sản trực thuộc Sở Tư pháp. (UBND tỉnh CaoBằng).

Trả lời:

2.1. Về việc ban hành Luật đấu giátài sản

Sau 04 năm thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, tổ chức vàhoạt động bán đấu giá tài sản đã cóbướcphát triển đáng kể. Hiện nay, trong toàn quốc số lượng đấu giá viên là hơn 1.231người, số lượng tổ chức đấu giá chuyên nghiệp gồm 63 Trung tâm dịch vụ bán đấugiá tài sản và 190 doanh nghiệp bán đấu giá. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quảđạt được, hoạt động bán đấu giá tài sản còn một số tồn tại, hạn chế như hệthống pháp luật về bán đấu giá tài sản chưa đồng bộ, chất lượng đội ngũ đấu giáviên chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên nghiệp hóa, công tác quản lý nhà nước đốivới đấu giá viên, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản còn chưa hiệu quả.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời đápứng yêu cầu phát triển dịch vụ bán đấu giá tài sản mang tính chuyên nghiệp cao,góp phần hoàn thiện thể chế pháp luật về bán đấu giá trong bối cảnh hội nhậpkinh tế quốc tế, ngày 30/5/2014, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 70/2014/QH13 về điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóaXIII, năm 2014 và Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2015, trong đó cónhiệm vụ xây dựng và ban hành Luật đấu giá tài sản. Thực hiện Nghị quyết số70/2014/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 780/NQ-UBTVQH13 ngày 25/6/2014 của Ủy banThường vụ Quốc hội về triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về điềuchỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII năm2014 và Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2015, Quyết định số 1193/QĐ-TTg ngày 22/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quanchủ trì soạn thảo và giải pháp đảm bảo chất lượng, thời hạn trình các dự ánluật, pháp lệnh khóa XIII năm 2014 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm2015, hiện nay Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức cóliên quan soạn thảo Dự án Luật đấu giá tài sản trình Quốc hội xem xét, thôngqua.

2.2. Về chế độ đãi ngộ cho đội ngũđấu giá viên tại các Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản trực thuộc Sở Tưpháp

Hiện nay, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá trực thuộc SởTư pháp là đơn vị sự nghiệp hoạt động theo quy định của Nghị định số43/2006/NĐ-CP ngày 05/4/2006 của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmvề thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sựnghiệp công lập. Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì Nhà nước khuyến khích cácđơn vị sự nghiệp công lập chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp để phát huy mọikhả năng trong hoạt động của đơn vị, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóatrong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội. Cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa tronghoạt động bán đấu giá tài sản, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ đã quyđịnh Sở Tư pháp có nhiệm vụ xây dựng Đề án chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấugiá sang mô hình doanh nghiệp đối với các tỉnh, thành phố có từ 02 doanh nghiệpđấu giá trở lên, trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt. Chủ trương xãhội hóa mạnh mẽ hoạt động bán đấu giá tài sản cũng đang được đặt ra trong Dự ánLuật đấu giá tài sản. Vấn đề chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ đấu giá viên sẽtiếp tục được nghiên cứu trong quá trình xây dựng Dự án Luật đấu giá tài sản,đảm bảo phù hợp với chủ trương xã hội hóa hoạt động bán đấu giá và thực tiễnhoạt động đấu giá của nước ta.

3. Đề nghị BanCán sự Đảng Bộ Tư pháp kiến nghị Ban Tổ chức Trung ương sớm có văn bản hướngdẫn việc thành lập tổ chức Đảng trong tổ chức xã hội nghề nghiệp của Đoàn Luậtsư theo sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 33-CT/TW ngày30/3/2009 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động củaluật sư (UBND tỉnh Trà Vinh).

Trả lời:

Thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức vàhoạt động của luật sư, ngày 12/9/2009, Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã có Côngvăn số 89b/CV-BCS gửi Ban Tổ chức Trung ương đề xuất việc thành lập tổ chứcđảng của Liên đoàn luật sư Việt Nam và hướng dẫn thành lập tổ chức đảng trongcác Đoàn luật sư. Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã đề nghị Ban Tổ chức Trung ươngsớm có văn bản báo cáo Ban Bí thư về việc thành lập Đảng đoàn Liên đoàn luật sưViệt Nam và thành lập tổ chức đảng (chi bộ hoặc đảng bộ) trong các cơ quan củaLiên đoàn luật sư Việt Nam, hướng dẫn việc thành lập và hoạt động của tổ chứcđảng trong các Đoàn luật sư. Trên cơ sở đó, Đảng đoàn Liên đoàn luật sư ViệtNam đã được thành lập theo Quyết định số 323-QĐ/TW ngày 13/8/2010 của Ban Bíthư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay, đã có 28/63 Đoàn luật sư đãthành lập tổ chức Đảng, trong đó có 9 Đoàn luật sư thành lập tổ chức Đảng sau ngàyChỉ thị số 33-CT/TW được ban hành.

Ngày 29/8/2013, Ban Cán sự Đảng BộTư pháp đã có Báo cáo số 116 - BC/BCS báo cáo Ban Bí thư về tình hình thực hiệnChỉ thị, đồng thời đề xuất Ban Bí thư giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phốihợp với Ban Nội chính Trung ương, Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp, Đảng đoàn Liênđoàn luật sư Việt Nam hướng dẫn thống nhất việc thành lập tổ chức đảng trongcác Đoàn luật sư. Tuy nhiên, đến nay, Ban Tổ chức Trung ương chưa có văn bảnhướng dẫn về vấn đề này. Để thống nhất sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với tổchức, hoạt động của luật sư, trong thời gian tới, BộTư pháp sẽ phối hợp với Liên đoàn luật sư Việt Nam và các cơ quan liênquan đề nghị Ban Tổ chức Trung ương sớm có hướng dẫn về việc thành lập tổ chứcĐảng trong các Đoàn luật sư.

X. LĨNH VỰC PHỔBIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

1. Đẩy mạnh, nâng cao hơn nữa chấtlượng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật một cách rộng rãi, đặc biệt làđối với các doanh nghiệp và bộ phận quần chúng ít có điều kiện, khả năng cậpnhật chính sách pháp luật của Nhà nước một cách thường xuyên (Bộ CôngThương).

Trả lời:

TheoLuật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), công dân có quyền được thông tin vềpháp luật; có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tậppháp luật. Nhànước bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền này (Điều 2); các Bộ, cơ quan ngang Bộ,cơ quan thuộc Chính phủ (gọi tắt là Bộ, ngành) có trách nhiệm xác định nộidung, hình thức PBGDPL phù hợp với từng nhóm đối tượng; biên soạn tài liệuvà phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành; bảo đảm quyền được thông tin vềpháp luật của nhân dân; tổ chức PBGDPL cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quảnlý(Điều 25). Cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng vũtrang nhân dân có trách nhiệm tích cực tìm hiểu, học tập pháp luật (Điều 34).UBND các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức triển khai, kiểm tracông tác PBGDPL (Điều 27).

Như vậy, trách nhiệm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác PBGDPLmột cách rộng rãi trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc về các Bộ, Ngànhđược giao quản lý chuyên ngành đối với lĩnh vực đó; trách nhiệm đẩy mạnh côngtác PBGDPL ở các địa phương thuộc về chính quyền địa phương các cấp. Với trách nhiệmlà cơ quan quản lý nhà nước về công tác PBGDPL, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, Ngành, Địa phương nghiêncứu, xây dựng, dự kiến sẽ ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tácPBGDPL làm công cụ để đánh giá; hằng năm, các Bộ, Ngành, Địa phương đều tăngcường kiểm tra, đánh giá kết quả để công tác này ngày càng đi vào thực chất,thiết thực hơn.

Đối vớingười lao động trong các doanh nghiệp và bộ phận quần chúng ít có điều kiện,khả năng cập nhật chính sách pháp luật, Luật PBGDPL xác định đây là nhóm đốitượng đặc thù cần được chú trọng và giao trách nhiệm cho các Bộ, Ngành, Địaphương tăng cường PBGDPL cho các đối tượng này. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủđã ban hành Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05/5/2010 phê duyệt Chương trình hỗtrợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014;Quyết định số 31/2009/QĐ-TTgngày 24/02/2009 ban hành Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người laođộng và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” và một số Đềán khác, trong đó có bố trí nguồn kinh phí để tổ chức triển khai thực hiện. Vớichức năng, nhiệm vụ được giao, hàng năm Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương, BộTư pháp đều hướng dẫn, chỉ đạo triển khai thực hiện công tác này với tính chấtlà nhiệm vụ thường xuyên cần được các bộ, ngành, địa phương quan tâm tổ chứcthực hiện.

Thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp chặt chẽ với cácBộ, ngành, địa phương tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tácPBGDPL đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người dân, doanh nghiệp, nhất làđối tượng đặc thù và yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước. Mỗi người dân,doanh nghiệp, cán bộ, công chức cũng cần phát huy tính chủ động, tự giác nghiêncứu, học tập, tìm hiểu pháp luật để vận dụng cho phù hợp.

Bộ Tư pháp đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tiếp tụcnâng cao trách nhiệm trong triển khai thực hiện Luật PBGDPL, tăng cường PBGDPLcho cán bộ, nhân dân, chú trọng các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành được giaoquản lý gắn với những vấn đề mà người dân quan tâm, có nhiều nhu cầu tìm hiểupháp luật.

2. Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của Vụ Phổ biến,giáo dục pháp luật trong hướng dẫn nghiệp vụ PBGDPL cho pháp chế Bộ, Ngành. Tuynhiên, năm 2013, 2014 có rất nhiều văn bản mới được Quốc hội ban hành nhưng Vụchưa kịp thời soạn thảo đề cương hướng dẫn tuyên truyền hoặc cả quý sau mới cóđề cương. Đề nghị Bộ Tư pháp chỉ đạo Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật đẩy nhanhtiến độ xây dựng các đề cương hướng dẫn tuyên truyền luật mới ngay khi luậtđược ban hành, không để quá chậm trễ như hiện nay (Thông tấn xã ViệtNam).

Trả lời:

Nhữngnăm qua, biên soạn đề cương giới thiệu các luật, pháp lệnh mới được ban hànhđược Bộ Tư pháp xác định là nhiệm vụ trọng tâm, vì vậy, ngay sau khi Văn phòngChủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh mới, Bộ Tư pháp chỉ đạo Vụ Phổ biến,giáo dục pháp luật kịp thời tham mưu để Bộ có Công văn gửi các Bộ, Ngành chủtrì xây dựng luật, pháp lệnh phối hợp soạn thảo Đề cương giới thiệu (trong đónêu rõ mục đích, yêu cầu và dàn ý chi tiết để các Bộ, Ngành biên soạn). Thựctế, hầu hết các luật, pháp lệnh mới được ban hành đều có Đề cương giới thiệuchi tiết và được đưa lên Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp để các Bộ, ngành,địa phương và người dân khai thác, sử dụng, tìm hiểu.

Tuynhiên, do một số Bộ, Ngành nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, ý nghĩa và tráchnhiệm trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp để biên soạn Đề cương nên vẫn còn mộtsố ít luật, pháp lệnh tuy đã được công bố nhưng chưa có Đề cương giới thiệu mặcdù Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Vụ PBGDPL thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở. Thời giantới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục chỉ đạo Vụ PBGDPL quan tâm, sát sao hơn đến côngtác này để bảo đảm tất cả các luật, pháp lệnh mới khi được công bố đều có Đềcương giới thiệu chi tiết.

3. Bộ Tư pháp (Vụ PBGDPL) tiếp tục tạo điều kiện cho Thông tấn xãViệt Nam tham gia triển khai các đề án về tuyên truyền phổ biến giáo dục phápluật của Bộ Tư pháp và của Chính phủ trong năm 2015 (Thông tấn xã Việt Nam).

Trả lời:

TheoLuật PBGDPL, Thông tấn xã Việt Nam là một trong các cơ quan có trách nhiệm xâydựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; đa dạng hóa các hìnhthức PBGDPL để phổ biến các quy định của pháp luật, tình hình thi hành phápluật và các thông tin khác về pháp luật (Điều 14). Những năm qua, nhận thức đầyđủ về vị trí, vai trò, ý nghĩa các cơ quan báo chí, truyền thông trong công tácPBGDPL, Bộ Tư pháp đều chỉ đạo Vụ PBGDPL huy động sự tham gia, vào cuộc và tạomọi điều kiện thuận lợi để Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đạichúng, báo chí tham gia công tác này, nhất là trong Kế hoạch PBGDPL hằng năm;kế hoạch hoạt động của Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương và một số Đề án vềPBGDPL cũng như trong hoạt động PBGDPL của các Bộ, Ngành. Qua một số Đề án, BộTư pháp đã hỗ trợ Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí tổ chức xây dựng,duy trì các chuyên trang, chuyên mục, các tin, bài, phóng sự phản ánh thực tiễnPBGDPL nói riêng và công tác Tư pháp nói chung, nhất là trên kênh Truyền hìnhThông tấn, Tạp chí Luật Việt Nam và Diễn đàn pháp lý, Tin Nội chính, Bản Tintrong nước... Bước đầu đánh giá cho thấy việc phối hợp khá hiệu quả, có chấtlượng.

Trongnăm 2015 Bộ Tư pháp sẽ chỉ đạo Vụ PBGDPL tiếp tục phối hợp, cộng tác chặt chẽvà tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí, truyền thông trong đó cóThông tấn xã Việt Nam tham gia công tác PBGDPL; đề nghị Thông tấn xã Việt Namchủ động đề xuất các nội dung, phương pháp phối hợp cụ thể để nâng cao chấtlượng, hiệu quả công tác PBGDPL, nhất là giải pháp huy động sự tham gia của cáccơ quan báo chí, truyền thông vào công tác này.

4.Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương để có sựchỉ đạo thống nhất việc triển khai tuyên truyền Hiến pháp năm 2013, tránh trùnglắp đối tượng, lãng phí trong phổ biến, in ấn, cấp phát tài liệu; biên soạn kịpthời các loại tài liệu tuyên truyền Hiến pháp bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếngdân tộc thiểu số, các tài liệu tuyên truyền chuyên sâu để cung cấp, hỗ trợ chocác địa phương (UBNDTP. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

- Việctriển khai thi hành Hiến pháp, trong đó có tuyên truyền, phổ biến giới thiệunội dung của Hiến pháp là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của các Bộ,Ngành, Đoàn thể và Địa phương. Trách nhiệm này đã được xác định cụ thể trongChỉ thị số 32-CT/TW ngày 03/01/2014 của Ban Bí thư; Nghị quyết số 718/NQ-UBTVQH13 ngày 02/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quyết định số 251/QĐ-TTgngày 13/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2014, Bộ Tư pháp đã phối hợpchặt chẽ với các Bộ, Ngành, Địa phương triển khai thực hiện Hiến pháp phù hợpvới chức năng, nhiệm vụ được giao để bảo đảm tính đồng bộ, toàn diện, thốngnhất và hiệu quả, bảo đảm để nội dung, tinh thần của Hiến pháp được thẩm thấuđến tất cả đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và mọi người dân. Tình trạngtrùng lắp đối tượng, lãng phí trong phổ biến, in ấn, cấp phát tài liệu tại địaphương nếu có cần được rút kinh nghiệm, bảo đảm có sự phối kết hợp thống nhấtgiữa các Bộ, Ngành và Địa phương.

- Vềtài liệu tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn và phát hành 02cuốn sách: “Tài liệu hỏi - đáp về hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam” dùng để tuyên truyền trong nhân dân và “Tài liệu tuyên truyền Hiến phápnước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” dùng cho cán bộ, đảng viên và pháthành rộng rãi đến các Bộ, Ngành, Địa phương; hoàn thành việc biên soạn hai bảnthảo: “Tài liệu tuyên truyền về Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam” dùng cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài được dịch ra 5thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung, Tây Ban Nha, dự kiến hai cuốn sách sẽ được inấn và phát hành trong thời gian tới. Bộ Tư pháp cũng đã hoàn thành việc biên soạn cuốn tàiliệu chuyên sâu về Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đã biên soạn tờ gấp giới thiệunhững điểm mới của Hiến pháp. Tài liệu này sẽ được in ấn, phát hành và đăng tảitrên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếptục biên soạn các tài liệu tuyên truyền, giới thiệu về Hiến pháp để giới thiệu,phổ biến sâu rộng các nội dung cơ bản, những điểm mới được sửa đổi, bổ sung củaHiến pháp đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Căn cứ vào điều kiệnthực tế, địa phương cần tổ chức việc biên soạn các tài liệu tuyên truyền, phổbiến nội dung, tinh thần của Hiến pháp phù hợp với địa bàn, nhóm đối tượng cụthể.

5.Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác tủ sách pháp luật; xây dựngTủ sách pháp luật điện tử và phần mềm Tủ sách pháp luật điện tử trên mạnginternet để phục vụ nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, công chức, viên chứcvà người dân; hướng dẫn các địa phương có tiếp tục triển khai thực hiện Ngàypháp luật (UBND TP. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

- Vềtủ sách pháp luật:Những năm qua, tủ sách pháp luật đã khẳng định vị trí, vai trò trong đời sốngxã hội; phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, học tập và vận dụngpháp luật cho cán bộ, công chức, đảng viên, người lao động; giúp người dântrong việc tiếp cận, tìm hiểu pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt động công vụ, tích cực đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước vào cuộc sống, đến với nhân dân.

Trướcyêu cầu phát triển của thực tiễn, năm 2014, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Vụ PBGDPLphối hợp với các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, trường học tại một số tỉnh đại diện ba khu vực Bắc, Trung,Nam tổ chức nghiên cứu, khảo sát (khảosát trực tiếp và qua phiếu) đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải phápđể nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, quản lý, khai thácvà sử dụng tủ sách pháp luật, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin. Căn cứ kếtquả khảo sát, dự kiến thời gian tới, Bộ sẽ tham mưu, đề xuất việc sửa đổi, hoànthiện thể chế, chính sách về xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật(sửa đổi Quyết định số 06/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010; ban hành Quy chế xâydựng, quản lý và khai thác Tủ sách pháp luật ở cấp xã); tăng cường chỉ đạo,hướng dẫn, các Bộ, Ngành, Địa phương, doanh nghiệp căn cứ vào điều kiện thực tếđể có giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng,khai thác, quản lý và sử dụng tủ sách pháp luật.

Bộ Tưpháp đề nghị các Bộ, Ngành, địa phương quan tâm hơn nữa đến công tác xây dựng, quảnlý, khai thác và sử dụng tủ sách pháp luật; tiếp tục đầu tư kinh phí, chủ động,sáng tạo hơn nữa trong xây dựng, quản lý và khai thác tủ sách pháp luật phù hợpvới thực tiễn cơ quan, đơn vị, địa phương, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệthông tin, huy động các nguồn lực xã hội tham gia xây dựng, khai thác và sửdụng tủ sách pháp luật, tiến tới xây dựng Tủ sách điện tử và tra cứu, khai tháctrực tuyến trên mạng các văn bản quy phạm pháp luật.

- VềNgày pháp luật: Năm2013 và 2014 là những năm đầu triển khai thực hiện Ngày Pháp luật, tuy chưa cónhiều kinh nghiệm nhưng Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động hướng dẫn các Bộ,Ngành, địa phương triển khai thực hiện (tuy có chậm so với yêu cầu đề ra). Rútkinh nghiệm qua hai năm thực hiện, năm 2015 và các năm tiếp theo, Bộ sẽ chủđộng, khẩn trương hơn trong việc hướng dẫn Ngày Pháp luật để các Bộ, Ngành, Địaphương chủ động thực hiện.

6. Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính ban hành văn bản hướngdẫn việc bảo đảm kinh phí hỗ trợ kinh phí phổ biến phápluật cho các địa phương chưa tự cân đối được nguồn kinh phí theo quy định củaLuật phổ biến pháp luật; đề nghị Trung ương, Bộ Tưpháp quan tâm trợ kinh phí phổ biến, giáo dục hàng năm từ ngân sách Trung ương,các Chương trình, Đề án của Bộ cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (UBND các tỉnh: Cao Bằng, Quảng Trị).

Trả lời:

- Thực hiện Luật PBGDPL, Luật hòa giải ở cơ sở và các văn bản hướng dẫnthi hành, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành 02 văn bản: Thông tưliên tịch số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27/01/2014 quy định việc lập dự toán,quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tácPBGDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở; Thông tư liên tịchsố 100/2014/TTLT /BTC-BTP ngày 30/7/2014 quy định việc lập dự toán, quản lý, sửdụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện công tác hòagiải ở cơ sở, góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách về PBGDPL và Hòa giải ởcơ sở, trong đó có kinh phí bảo đảm thực hiện.

- Trên cơ sở quy định của Luật và các Thông tư hướng dẫn, hai năm qua,Bộ Tư pháp đã tích cực, chủ động hướng dẫn các địa phương chưa tự cân đối đượcngân sách lập dự toán kinh phí đề nghị hỗ trợ công tác PBGDPL, Hòa giải ở cơsở. Căn cứ vào đề xuất của địa phương, Bộ đã chủ động phối hợp, làm việc với BộTài chính để có giải pháp hỗ trợ kinh phí cho công tác này theo đề xuất của cácđịa phương. Tuynhiên, trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế đất nước, việc dành mộtnguồn kinh phí cụ thể từ ngân sách Trung ương để hỗ trợ cho các địa phương theođúng quy định còn gặp khó khăn. Vì vậy, Bộ Tài chính đã chủ trương đề nghị cácđịa phương chưa tự cân đối được ngân sách tự bố trí nguồn kinh phí trong phạmvi ngân sách được Trung ương giao để triển khai thực hiện nhiệm vụ PBGDPL, hòagiải ở cơ sở. Vì vậy, Sở Tư pháp cần chủ động phối hợp với Sở Tài chính kịpthời tham mưu để UBND cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân bố trí một nguồn kinhphí hợp lý để triển khai thực hiện công tác PBGDPL ở địa phương. Trường hợp địaphương nào không phân bổ kinh phí để triển khai thực hiện các nhiệm vụ này, đềnghị các địa phương phản ánh kịp thời về Bộ Tư pháp để tổng hợp, phối hợp vớiBộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có biện pháp tháo gỡ kịpthời.

-Trong khuôn khổ kinh phí được cấp cho một số Đề án về PBGDPL, Bộ Tư pháp đã hỗtrợ một số địa phương đặc biệt khó khăn triển khai một số hoạt động PBGDPL mangtính chất đặc thù phù hợp với mục tiêu cụ thể của Đề án. Vì vậy, đề nghị cácđịa phương căn cứ vào mục tiêu của Đề án và điều kiện thực tiễn của địa phươngđể đề xuất cụ thể hoạt động cần ưu tiên hỗ trợ để Đề án cân nhắc, xem xét việchỗ trợ.

7. Để triển khai Luật Phổ biến,giáo dục pháp luật và các Chương trình, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luậtđạt hiệu quả, đề nghị Bộ Tư pháp có kế hoạch tổng thể chỉ đạo về công tác nàyhàng năm hoặc giai đoạn để địa phương chủ động bố trí kinh phí và dễ thực hiện(UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

- Hiện nay, cùng với triển khai thực hiện Luật PBGDPLvà các văn bản hướng dẫn thi hành, việc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, phêduyệt các Đề án về PBGDPL tại địa bàn, lĩnh vực, đối tượng trọng điểm với nhữngmục tiêu, yêu cầu cụ thể trong giai đoạn 05 năm đã định hướng công tác PBGDPLtrong dài hạn để các địa phương có căn cứ triển khai thực hiện. Hiện Bộ Tư phápđược Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì triển khai thực hiện 04 Đề án và theo dõiviệc thực hiện 09 Đề án về PBGDPL do các Bộ, Ngành khác chủ trì triển khai thựchiện. Sau khi các Đề án được ban hành, Bộ Tư pháp và các Bộ, Ngành đều có Kếhoạch tổng thể thực hiện Đề án theo từng giai đoạn và từng năm. Hàng năm, Hộiđồng phối hợp PBGDPL Trung ương, Bộ Tư pháp đều ban hành Kế hoạch công tácPBGDPL để chỉ đạo, định hướng, hướng dẫn công tác PBGDPL trên toàn quốc, bảođảm tính đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm[2].

- Luật PBGDPL đã quy định cụ thểtrách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác PBGDPL, bảo đảm quyền đượcthông tin pháp luật của người dân tại địa phương. Hằng năm, căn cứ vào nhu cầu,điều kiện và khả năng thực tế, các địa phương chủ động xây dựng Kế hoạch triểnkhai thực hiện. Đối với các Đề án do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, song songvới việc ban hành Kế hoạch thực hiện đề án năm, Bộ đều ban hành Công văn hướngdẫn thực hiện Đề án của năm đó. Các văn bản này đã được gửi qua đường bưu điện đếncác bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và Ủy ban nhân dân, Sở Tư pháp các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời đăng tải trên Trang thông tin điệntử Phổ biến, giáo dục pháp luật và Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Đề nghịỦy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục thường xuyên cập nhật thông tin văn bảnvà theo dõi sát sao hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

8. Đềnghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể về mức chi cho các vụ việc hòa giải ở cơ sởđể địa phương áp dụng cho thống nhất (UBND tỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Mứcchi cho các vụ việc hòa giải ở cơ sở đã được quy định tại Khoản 19, Điều 4Thông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 30/7/2014 của Bộ Tài chính vàBộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phíngân sách nhà nước thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở:“Chi thù lao cho hòagiải viên (đối với các hòa giải viên trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải): Mứcchi tối đa 200.000 đồng/vụ, việc/tổ hòa giải”.Mức chi trên là tối đa cho01 vụ, việc hòa giải (không phân biệt vụ, việc hòa giải thành hay không thành).Căn cứ khả năng ngân sách và tình hình thực tế ở địa phương, Ủy ban nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy địnhcụ thể mức chi của địa phương nhưng không vượt quá mức chi tối đa quy định tạiThông tư liên tịch số 100/2014/TTLT-BTC-BTP.

XI. LĨNH VỰC TRỢGIÚP PHÁP LÝ

1. Đề nghị phối hợp với Bộ Tàichính ban hành chính sách, phụ cấp ưu đãi với cán bộ, viên chức, người thựchiện trợ giúp pháp lý, chính sách đặc thù cho các vùng miền, để khuyến khích,huy động nguồn lực tham gia vào hoạt động trợ giúp pháp lý (UBND cáctỉnh, tp: Hồ Chí Minh, Cao Bằng).

Trả lời:

Hiện nay, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ Đềán đổi mới côngtác TGPL giai đoạn 2015 - 2025, định hướng đến năm 2030 (Đề án), theo đó năm 2015 - 2016 cómột số phương hướng, giải pháp bảo đảm chế độ đãi ngộ cho đội ngũ người thựchiện trợ giúp pháp lý và thu hút luật sư tham gia TGPL như sau:

- Xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật TGPL theo hướng quy định: về khuyến khích luật sư, tổ chứchành nghề luật sư và Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện TGPL của Nhà nước; mức bồi dưỡng cho luật sư thực hiện TGPLtheo yêu cầu của Nhà nước tương đương với mức bồi dưỡng cho báo cáo viên phápluật là chuyên viên cấp tỉnh hoặc khoán chi theo vụ việc với mức tối thiểu bằng3 tháng lương cơ sở và mức tối đa là 10 tháng lương cơ sở (tùy tính chất, nội dungvụ việc); Trợ giúp viên pháp lý tham gia tốtụng được hưởngmức bồi dưỡng vụ việc tương đương 40% mức chi trả tiền bồi dưỡng theovụ việc đối với các luật sư.

- Sửa đổi Thông tư liên tịch số 209/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 30/11/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫnviệc lập, quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của tổ chứcTGPL nhà nước theo hướng tăng mức bồi dưỡng và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

2. Đề nghị Cục Trợ giúp pháp lý, BộTư pháp và các Bộ, ngành liên quan cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung định mức tàichính đối với một số hoạt động trợ giúp pháp lý theo Quyết định 59/2012/QĐ-TTgđể phù hợp hơn với đặc điểm thực tiễn của địa phương và cấp bổ sung kinh phí đểTrung tâm tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháplý cho đội ngũ cộng tác viên, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ trợ giúp pháplý tại các huyện có nhiều xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn và hỗ trợ kinhphí sinh hoạt cho các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại các xã nghèo theo nộidung Quyết định 59 (UBND tỉnh Cao Bằng).

Trả lời:

Năm 2015, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành cóliên quan xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ Quyết định số 52/ 2010/QĐ-TTg ,Quyết định số 59/ 2012/QĐ-TTg và tích hợpkinh phí của 02 Quyết định này vào nguồn ngân sách chung ở Trung ương để điềuphối, hỗ trợ cho hoạt động TGPL, trong đó, sửa đổi, bổ sung định mức tài chínhđối với một số hoạt động cho phù hợp với thực tiễn địa phương.

Hàng năm, trên cơ sở dự toán của các địa phương, BộTư pháp xây dựng dự toán kinh phí thực hiện Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg gửi BộTài chính tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, do nguồnngân sách hạn chế nên ngân sách trung ương chưa bảo đảm hỗ trợ tất cả các hoạtđộng để thực hiện chính sách TGPL theo Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg trong đóchưa hỗ trợ kinh phí cho 02 hoạt động: Tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năngTGPL cho đội ngũ cộng tác viên, thành viên Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ TGPL tạicác huyện nghèo có nhiều xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn và sinh hoạt Câulạc bộ TGPL tại các xã nghèo.

Trong điều kiện nguồn lực tài chính hạn chế, Bộ Tưpháp sẽ thống nhất các nội dung hỗ trợ có trọng tâm và hiệu quả. Nguồn ngânsách ở Trung ương sẽ điều phối, hỗ trợ cho một số hoạt động TGPL như: (1) Các vụ việc TGPL trong lĩnh vực tốtụng; (2) Biên soạn, in ấn, phát hành miễn phí tờ gấp pháp luật, cẩmnang pháp luật và các tài liệu pháp luật khác; thu và sao băng cát - xét, đĩaCD bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số; (3) Đặt Bảng tin, Hộp tin về TGPL; (4) Hỗ trợ học phí cho viên chức của Trung tâm tham gia khóađào tạo nghề luật sư. Ngân sách địa phương bảo đảm thực hiện đối với các hoạt động TGPL khác.

3. Đề nghị Bộ Tư phápsớmhoàn thiện chính sách trợ giúp pháp lý trong các chương trình giảm nghèo, đềnơn đáp nghĩa, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo các điềukiện về nguồn nhân lực, tài chính cho hoạt động trợ giúp pháp lý (UBNDtỉnh Lâm Đồng).

Trả lời:

Thực hiện Nghị quyết số 30a/ 2008/NQ-CP và Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành cóliên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 Quyết định: Quyếtđịnh số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nângcao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu sốtại các huyện nghèo giai đoạn 2011 - 2020 và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày24/12/2012 về chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tạicác xã nghèo giai đoạn 2013 - 2020. Năm 2015, Bộ Tư pháp sẽ xây dựng Quyết địnhcủa Thủ tướng Chính phủ bãi bỏQuyết định số 52/2010/QĐ-TTg ,Quyếtđịnh số 59/ 2012/QĐ-TTg và tích hợp kinh phí của 02 Quyết định này vào nguồn ngân sách chung ở Trungương để điều phối, hỗ trợ cho hoạt động TGPL.

XII.LĨNH VỰC LÝ LỊCH TƯ PHÁP

1. Đề nghị Bộ Tư pháp có cơ chếphối hợp với các Bộ, ngành có liên quan (Bộ Công an, Tòa án nhân dân Tối cao)để khắc phục việc chậm trễ trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (UBND TP. Hồ Chí Minh).

Trả lời:

Để triển khai thực hiện hiệu quả Luật Lýlịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật trong công tác phối hợpcung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lýlịch tư pháp, ngay từ đầu năm 2011, Bộ Tư pháp đã có văn đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quan tâm chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc ngành mình cung cấp đầy đ, kịp thời, thường xuyên các thông tin lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp theo đúng quy định của Luật Lý lịch tư pháp, Luật Thi hành án hình sự và Nghị định số 111/2010/NĐ-CP.

Đồng thời, đ tạo cơ chế phối hợp trong công tác cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, ngày 10/5/2012, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đã ký Thông tư liên tịch số04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp. Saukhi Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp cũng đã có văn bản đ nghị Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu thấy cần thiết thì chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan (Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự) tại địa phương ban hành Quy chế hoặc tham mưu cho Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành Quy chế phối hợp liên ngành tại địa phương. Cho đến ngày 31/10/2014đã có 37địa phương ban hành Quy chế[3].

Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP và các Quy chế phối hợp tạicác địa phương trên đã tạo cơ chế phối hợp tương đối đồng bộ, hiệu quả trongviệc cung cấp thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếulý lịch tư pháp. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện trên thực tế vẫn còn cónhững điểm hạn chế như: đa số Cơ quan thi hành án Công an cấp huyện và Tòa phúcthẩm Tòa án nhân dân tối cao chưa chủ động thực hiện việc cung cấp đầy đủ, đúngthời hạn thông tin cho Sở Tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vàtại nhiều địa phương cơ quan Công an chậm trả lời kết quả tra cứu, xác minhthông tin để Sở Tư pháp cấp Phiếu lý lịch tư pháp...

Để giải quyết vấn đề trên, trong thời gian vừa qua,Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã chỉ đạo Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia chủ động phốihợp với các cơ quan có liên quan thuộc Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an đểgiải quyết. Riêng đối với việc phối hợp giải quyết tình trạng chậm thời hạn tracứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư phápquốc gia và Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát (C53) đang phối hợp thực hiện thửnghiệm phương thức tra cứu, xác minh thông tin qua đường điện tử tại Trung tâmLý lịch tư pháp quốc gia và thử nghiệm tra cứu, xác minh đối với một số đốitượng tại Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở kết quả thử nghiệm, Lãnh đạo Bộ Tư pháp sẽxem xét và quyết định phương thức phối hợp tra cứu, xác minh, trao đổi, cungcấp thông tin với Cơ quan Công an trong thời gian tới để giải quyết dứt điểmtình trạng chậm trả lời kết quả tra cứu xác minh của cơ quan Công an.

Về phía Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh cũng cần chủđộng, tích cực hơn trong việc phối hợp với các cơ quan có liên quan tại địaphương trong việc tra cứu, xác minh, trao đổi cung cấp thông tin và nếu thấycần thiết có thể tham mưu cho Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quychế phối hợp liên ngành về tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin tạiđịa phương.

2. Kiến nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, tham mưu sửa đổi Quyết định số 2369/QĐ-TTg ngày 28/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức quản lý lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp theo hướng thành lập Phòng Lý lịch tư pháp đối với các tỉnh thành là đô thị loại 1 đ bảo đảm thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phươngkiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng).

Trả lời:

Ngày 28 tháng 12 năm 2010, Thủ tướngChính phủ đã ban hành Quyết định số 2369/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịchtư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộcSở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, theo đó, để thựchiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương, các Sở Tư pháp sử dụng tổ chức hiện có của Sở là Phòng Hành chính tư pháp, đồng thời, bổ sung ít nhất 03 biên chế làm công tác lý lịch tư pháp tại Phòng Hành chính tư pháp. Riêng đối với 05 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ do số lượngthông tin lý lịch tư pháp mà các Sở Tư pháp này phải tiếp nhận, cập nhật, xử lýlà tương đối lớn, vì vậy cần thành lập Phòng Lý lịch tư pháp thuộc Sở Tư pháp đ giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng quản lý lý lịch tư pháp.

Thực hiện Quyết định số 2369/QĐ-TTg nêu trên, hầu hết Sở Tư pháp cáctỉnh trên toàn quốc đã thực hiện kiện toàn Phòng Hành chính Tư pháp để thựchiện nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp và cho đến nay chỉ một số ít Sở Tư pháp,trong đó có Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng đề nghị Bộ Tư pháp có ý kiến hoặc đề xuấtvới cơ quan có thẩm quyền về việc cho phép Sở Tư pháp thành lập Phòng Lý lịchtư pháp.

Theo tinh thần Kết luận Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khóa XImột số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đếncơ sở (Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Ban Chấp hành Trung ương), đốivới địa phương bảođảm cơ bản giữ ổn định số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện,xã. Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện theohướng quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấptỉnh, cấp huyện; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Chínhphủ, địa phương có thể lập (hoặc không lập) cơ quan, tổ chức đặc thù sau khiđược sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.

Theo Chiến lược phát triển lý lịchtư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ thì một trong những mục tiêuphát triển lý lịch tư pháp giai đoạn 2016 - 2020 là nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệulý lịch tư pháp tập trung, thống nhất tại Bộ Tư pháp (mô hình cơ sởdữ liệu một cấp). Lộ trình thực hiện cụ thể như sau: từ năm 2018, trên cơ sởsửa đổi, bổ sung Luật lý lịch tư pháp, xây dựng lộ trình chuyển đổi mô hình cơsở dữ liệu lý lịch tư pháp từ 02 cấp sang mô hình 01 cấp. Năm 2020, triển khaitừng bước xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quốc gia tập trung, thống nhấttại Bộ Tư pháp.

Với các lý do nêu trên, chưa có cơ sở đểtham mưu cho Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Quyết định số 2369/QĐ-TTg Do vậy, thời gian tới đề nghịỦy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng tiếp tục quan tâm tiếp tục kiện toàn Phòng Hànhchính Tư pháp thuộc Sở Tư pháp và bố trí kinh phí, bổ sung biên chế làm côngtác lý lịch tư pháp cho Sở Tư pháp.

3. Đề nghị Bộ Tư pháp có hướng thammưu, chỉ đạo các địa phương bố trí biên chế chuyên trách cho đội ngũ làm côngtác lý lịch tư pháp theo Quyết định số 2369/QĐ-TTg của Chính phủ; tăng cườngcông tác tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác này (UBNDtỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

- Thời gian vừa qua, trong phạm vi chức năng, nhiệmvụ, quyền hạn của mình, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã rất quan tâm tới công tác kiệntoàn tổ chức và biên chế làm công tác lý lịch tư pháp tại địa phương và đã trựctiếp đề nghị hoặc có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền phân bổ biên chế vàbổ sung kinh phí theo đúng tinh thần Quyết định số 2369/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ để Sở Tư pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu vàquản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại địa phương như: có văn bản đề nghịThường vụ Đảng ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm, chỉ đạocác cơ quan có trách nhiệm thuộc tỉnh bố trí kinh phí và phân bổ biên chếchuyên trách làm công tác lý lịch tư pháp; thông qua các buổi làm việc với Lãnhđạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Lãnh đạotỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm bố trí kinh phí và biên chếchuyên trách làm công tác lý lịch tư pháp cho các Sở Tư pháp; đề nghị Bộ Nội vụ quan tâmphân bổ biên chế làm công tác Lý lịch tư pháp cho các Sở Tư pháp thực hiệnnhiệm vụ theo yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp và cho chủ trương về sử dụng nhân sựtrong công tác lý lịch tư pháp linh hoạt hơn để đáp ứng khối lượng công việcngày càng gia tăng (có thể đưa vào thông tư hướng dẫn). Cụ thể là cho các Sở Tưpháp được vận dụng linh hoạt trong việc sử dụng lao động vào công tác xây dựngcơ sở dữ liệu như có thể điều chuyển viên chức từ đơn vị khác sang hoặc thuêhợp đồng lao động theo vụ việc để giải quyết khối lượng thông tin lý lịch tưpháp còn tồn đọng rất lớn ở các Sở Tư pháp.

- Kể từ khi Luật Lý lịch tư pháp cóhiệu lực thi hành (01/7/2010) đến nay, Bộ Tư pháp đã tổ chức được 04 Khóa đào tạo nghiệp vụ lý lịchtư pháp cho công chức, viên chức làm công tác lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lýlịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp trên toàn quốc. Nội dung khóa đào tạo nhằm trang bị cho học viên các kiến thức chung, cơ bản về lý lịch tư pháp, quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sựliên quan đến lý lịch tư pháp. Các học viên đã được nghiên cứu sâu về quy trình nghiệp vụ, kỹ năng tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp, lập Lý lịch tư pháp; sắp xếp, lưu trữ, hồ sơ lý lịch tư pháp; tra cứu thông tin cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Đồng thời, học viên cũng được giới thiệu các kiến thức bổ trợ về hộ tịch, hộ khẩu; kỹ thuật nhận dạng; nghe báo cáo thực tế của cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, Bộ Công an .... Bên cạnh công tác đào tạo, Bộ Tưpháp cũng chú trọng, quan tâm đến công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ lýlịch tư pháp. Hằng năm, được sự đồng ý của Lãnh đạo Bộ, Trung tâm Lý lịch tưpháp quốc gia đều tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ lý lịch tư pháp cho côngchức, viên chức làm công tác lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốcgia, Sở Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương. Riêng năm 2014, Bộ Tư pháp không tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡngnghiệp vụ về lý lịch tư pháp do nhu cầu của địa phương không nhiều. Trong năm2015, Bộ Tư pháp có kế hoạch tổ chức 02 lớp tập huấn nghiệp vụ lý lịch tư pháp(sẽ tổ chức vào tháng 01 năm 2015).

4. Đề nghị Bộ Tư pháp tham mưu sớmsửa đổi, bổ sung Luật Lý lịch tư pháp nhằm kịp thời điều chỉnh những quy địnhchưa phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác Lý lịch tư pháp (UBNDtỉnh Vĩnh Phúc).

Trả lời:

Bộ Tư pháp xin tiếp thu kiếnnghị của UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Trong năm 2014, Bộ Tư pháp đã tiến hành nghiêncứu định hướng đề xuất sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp và tổ chức Hội thảo để lấyý kiến của các chuyên gia và một số Sở Tư pháp. Dự kiến sau khi tiến hành tổngkết 05 năm thực hiện Luật Lý lịch tư pháp (năm 2015), Bộ Tư pháp sẽ đề nghịChính phủ, Quốc hội xem xét đưa vào Chương trình sửa đổi Luật Lý lịch tư pháp.

XIII. LĨNH VỰC ĐÀO TẠO LUẬT

Đề nghị Bộ Tư pháp chỉđạo Trường Đại học Luật Hà Nội liên kết với Trường Trung cấp luật Tây Bắc tổchức tại địa phương các lớp đào tạo liênthông từ trình độ trung cấp luật lên đại học luật cho cán bộ, công chức đã cóbằng trung cấp luật (UBND tỉnh Sơn La).

Trả lời:

Bộ Tư pháp đã giao cho TrườngĐại học Luật Hà Nội chủ trì, phối hợp với Trường Trung cấp Luật Tây Bắc thuộcBộ Tư pháp hoàn thiện Đề án đào tạo liên thông từ trình độ trung cấp luật lêntrình độ đại học trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Ngay khi Đề án đượcphê duyệt, sẽ thông báo đến các cơ sở đào tạo trong đó có Trường trung cấp LuậtTây Bắc.

XIV. LĨNH VỰC CÔNG NGHỆTHÔNG TIN

Đề nghị Bộ Tư pháp xâydựng chương trình phần mềm về thống kê theo Thông tư 20/2013/TT-BTP để các địaphương thuận lợi trong việc tiếp nhận các báo cáo từ cơ sở(UBND TP. Hồ ChíMinh).

Trả lời:

Đề án ứng dụng công nghệ thông tintrong công tác thống kê Ngành Tư pháp giai đoạn 2014 - 2018 và Kế hoạch tổngthể triển khai thực hiện Đề án đã được Lãnh đạo Bộ Tư pháp phê duyệt, Phân hệcho các Sở Tư pháp của Phần mềm Thống kê Ngành Tư pháp cũng được xác định lànhiệm vụ của Đề án. Theo lộ trình, nhiệm vụ này sẽ được triển khai đến Sở Tưpháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phục vụ công tác báo cáothống kê của các Sở vào cuối năm 2015. Tùy theo điều kiện thực tế và tình hìnhtài chính, việc xây dựng, triển khai Phân hệ cho các Sở Tư pháp của Phần mềm cóthể sẽ sớm hơn lộ trình.

XV. VỀ TỔ CHỨCTHỰC HIỆN

1. Các Bộ, cơquan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương nghiên cứu, chỉ đạo các tổ chức pháp chế, Sở Tư pháp vàcác cơ quan, đơn vị liên quan khẩn trương có các giải pháp tháo gỡ.

2. Bộ Nội vụ, BộTài chính, Văn phòng Chính phủ quan tâm phối hợp Bộ Tư pháp tháo gỡ các khókhăn, vướng mắc liên quan đến công tác tổ chức bộ máy, cán bộ và vấn đề ngânsách của Ngành Tư pháp.

3. Các tổ chức phápchế, Sở Tư pháp nghiên cứu kỹ các nội dung kiến nghị và trả lời kiến nghị nêutrên, báo cáo đề xuất các giải pháp tháo gỡ, trình Lãnh đạo Bộ, ngành, địaphương chỉ đạo thực hiện./.

BỘ TƯ PHÁP



[1] Hiện tại, vấn đề thời điểm lấy số liệu báo cáo thốngkê theo định kỳ (ở cấp Bộ, ngành) đã được hướng dẫn, quy định tại Quyết định số 15/2014/QĐ-TTg ngày 17/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chế độbáo cáo thống kê tổng hợp Bộ, Ngành; theo đó thời điểm lấy số liệu báo cáo thốngkê hàng năm của các Bộ, ngành được tính từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm.

[2] Quyết định số 486/QĐ-BTP ngày 03/3/2014 về Kế hoạch công tác PBGDPL, hòagiải ở cơ sở và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở năm 2014; Quyếtđịnh số 417/QĐ-BTP ngày 07/02/2013 về Kế hoạch công tác PBGDPL năm 2013; Quyếtđịnh số 233/QĐ-BTP ngày 15/02/2012 về Kế hoạch công tác PBGDPL năm 2012; Quyếtđịnh số 195/QĐ-BTP ngày 17/02/2011 về Kế hoạch công tác PBGDPL...

[3] An Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bến Tre, Bình Phước, Bình Dương,Bình Định, Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hậu Giang, Hòa Bình,Kiên Giang, Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Phú Thọ, Quảng Nam, Quảng Ninh, SócTrăng, Tây Ninh, Thái Nguyên, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long,Vĩnh Phúc, Gia Lai, Thanh Hóa, Cà Mau, Kon Tum, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, QuảngTrị.