BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2652/TCT-HTQT
V/v xác định cơ sở thường trú trong giao dịch bán hàng hóa nhập khu tại kho ngoại quan ở Việt Nam.

Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2015

Kính gửi: Công ty Dalhoff Larsen & Horneman A/S.

Tổng cục Thuế nhận được công văn đề ngày 26/1/2015 của Côngty Dalhoff Larsen & HornemanA/S (DLH Đan Mạch) đề nghị hướng dẫn về việc xác định cơ sở thường trú (CSTT)trong giao dịch bán hàng hóa nhập khẩu tạikho ngoại quan ở Việt Nam. Về vấnđề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Đối với trường hợp kho ngoại quan

1.1. Về xác định CSTT của kho ngoại quan

a) Quy định tại nội luật và Hiệp định:

Điểm d, Khoản 1, Điều 2, Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn vềthuế Thu nhập doanh nghiệp quy định về người nộp thuế là doanh nghiệp nướcngoài như sau:

“Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định củaHiệp định đó.

Do đó, việc xác định CSTT của các kho ngoại quan của công tysẽ dựa trên việc áp dụng Hiệp định thuế Việt Nam - Đan Mạch. Cụ thể là các khoản4 và 5 Điều 5 của Hiệp định và quy định tại Nghị định thư về khoản 4 và 5 Điều5 của Hiệp định. Cụ thể như sau:

Khoản 4, Điều 5 của Hiệp định quy định:

“4. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, thuật ngữ“cơ sở thường trú” không bao gồm:

a. việc sử dụng các phương tiện riêngcho mục đích lưu kho hoặc trưng bày hàng hóa hay tài sản của xí nghiệp;

b. việc duy trì kho hàng hóa hoặc tài sản của xí nghiệp chỉ với mục đíchlưu kho hoặc trưng bày;”

Nghị định thư về khoản 4 và khoản 5 Điều 5 của Hiệp định quyđịnh:

Về điểm (a.) và (b.) khoản 4 Điều 5, hai bên thốngnhất rằng việc duy trì kho hàng hóa hoặctài sản chỉ với mc đích giao hàng trong tương lai hoặc việc duy trì các phương tiện được sử dụngchỉ với mc đích giao hàng hóa hoc tài sản trong tương lai của một xí nghiệp của một Nước ký kết tại Nước ký kết kia sẽ không tạo thành một cơ sởthường trú tại Nước ký kết kia nếu các điều kin ti điểm(b.) khoản 5 Điều này không thỏa mãn.”

Điểm (b.) khoản 5 Điều 5 của Hiệp định quy định:

“5. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2, trường hợp mộtđi tượng - trừ đại lý có tư cách độc lập được điều chỉnhbởi khoản 6 - hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một xí nghiệp của Nướcký kết kia thì xí nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước thứ nhất đối vớicác hoạt động mà đối tượng này thực hiện cho xí nghiệp, nếu đối tượng đó:

a. …

b. không thẩm quyền trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứnhất một kho hàng hóa hoặc tài sản, từ đó đối tượng trên thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc tài sản đại diện cho xí nghiệp.”

Căn cứ vào các quy định nêu trên, nếu DLH Đan Mạch duy trìkho hàng hóa tại Việt Nam mà kho hàng hóanày thỏa mãn đồng thời hai điều kiện:

i) chỉ với mục đích lưu kho và giao hàng hóahoặc tài sản trong tương lai, và

ii) không thỏa mãn điểm (b.)khoản 5 nêu trên, nghĩa là đại diện của DLH Đan Mạch không thường xuyên thực hiệnviệc giao hàng hóa hoặc tài sản tại ViệtNam từ kho hàng này

thì sẽ không tạo nên một CSTT tại Việt Nam.

Trong trường hpkhông thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện nêu trên, việc duy trì kho hàng hóa tạiViệt Nam của DLH Đan Mạch sẽ tạo nên một CSTT tại Việt Nam. Cụ thể, k từ thời điểm DLH ĐanMạch tiến hành giao hàng từ kho hàng hóatại Việt Nam thì kho hàng sẽ trở thành CSTT của DLH Đan Mạch tại Việt Nam do tiếnhành giao hàng là tiến hành hoạt động thương mại thực tế, không còn là mục đíchgiao hàng trong tương lai; và kho hàng có đại diện của DLH Đan Mạch thườngxuyên giao hàng theo các hợp đồng ký giữaDLH Đan Mạch với khách hàng.

b) Quy định tại Hợp đồng

Tại Hợp đồngthuê khongoại quan số 010413/GLC - DLH DM, trong đó Bên A là Công ty TNHH MTV Tiếp vậnGemadept; Bên B là Công ty DLH Đan Mạch, có các quy định dưới đây:

- Điểm 1.3, Điều 1, Điều khoản chung quy định:

“Bên B là chủ sở hữu hoc là người được ủy thác bởi chủ sở hữu hp pháp của hàng hóa để tiến hành ký kết hợp đồng thuê kho ngoi quan với bên A và làm đại din đ lưu trữ và phân phối hàng hóa được lưu trong kho.”

- Điểm 3, Điều 3, Trách nhiệm của bên A quy định:

“Yêu cầu Bên B cử người giám sát và kí xác nhn vào phiếu nhp hàng/ phiếu xuấthàng. Bên A không được nhập/ xuất hàng nếu không có Bên B giám sát và kí xác nhận vào phiếu nhập hàng/phiếuxuất hàng.”

- Điểm 4, Điều 4, Trách nhiệm của bên B quy định bên B:

chịu trách nhiệm giám sát, kiểm đếm hàng hóavà ký xác nhn vàophiếu xuất/nhập của Bên A trong suốt quá trình xuất nhập hàng. Đảm bảo rằng Bên A xếp hàng vào container hoặc xe tải đúng yêu cầu kỹthuật của Bên B. Đảmbảo bảo hàng hóa xuất ra khỏi kho đúng vớiLnh giao hàng hoc Danh sách đóng hàng của Bên B về số lượng, chủng loi, mã hàng, v.v...”

Theo quy định nêu trên, sau khi thuê kho ngoại quan ở ViệtNam, DLH Đan Mạch có đại diện tại Việt Nam chịu trách nhiệm lưu trữ và phân phốihàng hóa trong kho ngoại quan, thực hiệngiám sát và kiểm đếm quá trình xuất, nhập kho hàng hóa theo đúng yêu cầu kỹ thuậtcủa DLH Đan Mạch, ký xác nhận xuấthàng để giao hàng cho các đối tác tại Việt Nam. Do đó, DLH Đan Mạch đã thỏa mãn các điều kiện tại điểm (b.) khoản5: “...thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho hàng hóahoặc tài sản, từ đó đối tượng trên thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc tài sản đại diện cho xí nghiệp.”

Căn cứ vào các quy định tại Hiệp định và tại hợp đồng, quátrình ký kết và thực hiện Hợp đồng thuê kho ngoại quan với các nội dung nhưtrên, DLH Đan Mạch đã tạo nên một CSTT tại Việt Nam.

1.2. Về xác định nghĩa vụ thuế của kho ngoại quan

Khoản 5, Điều 1, Điều 2, Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày6/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về chính sáchthuế đối với nhà thầu nước ngoài quy định về:

- đối tượng áp dụng như sau:

“5. Tổ chức, cá nhânnước ngoài thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu, phân phối tại thị trườngViệt Nam, mua hàng hóa để xuất khẩu, bánhàng hóa cho thương nhân Việt Nam theo phápluật về thương mại.”

- đối tượng không áp dụng như sau:

“5. Tổ chức, cá nhânnước ngoài sử dụng kho ngoại quan, cảng nội địa (ICD) làm kho hàng hóa để phụtrợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc đểcho doanh nghiệp khác gia công.”

Căn cứ vào quy định trên thì trường hợp doanh nghiệp sử dụngkho ngoại quan làm kho hàng hóađể phụ trợcho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để chodoanh nghiệp khác gia công thì sẽ thuộc đối tượng không áp dụng theo thông tư số103/2014/TT-BTC nêu trên.

Do DLH Đan Mạch chuyên mua bán gỗ và sản phẩm từ gỗ nên hoạtđộng giao hàng từ kho ngoại quan cho các đối tác tại Việt Nam không phải là hoạtđộng mang tính phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh, chuyển khẩu,lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công, mà là một trong những hoạtđộng kinh doanh chính. Như vậy, DLH Đan Mạch thuộc đối tượng áp dụng thuế nhàthầu tại Việt Nam.

2. Liên quan đến hoạt động của vănphòng đại diện DLH Đan Mạch tại Việt Nam

Liên quan đến việc xác định CSTT đối với văn phòng đại diệncủa thương nhân nước ngoài, Tổng cục Thuế đã có công văn số 3289/TCT-HTQT ngày4/10/2013 hướng dẫn theo nguyên tắc nếu các văn phòng đại diện hoạt động đúngtheo quy định tại giấy phép thành lập thì không tạo nên CSTT tại Việt Nam.

Do vậy, nếu văn phòng đại diện DLH Đan Mạch là văn phòng đạidiện của thương nhân nước ngoài, chỉ hoạt động theo đúng giấy phép do Sở Côngthương địa phương cấp thì văn phòng đại diện không tạo nên CSTT của DLH Đan Mạchtại Việt Nam. Trường hợp văn phòng đại diện nêu trên có liên quan đến hoạt độnggiao hàng từ các kho ngoại quan của DLH Đan Mạch đến các đối tác tại Việt Namthì văn phòng đại diện sẽ tạo thành CSTT của DLH Đan Mạch tại Việt Nam.

Tổng cục Thuế trả lời về nguyên tắc để Công ty Dalhoff Larsen & Horneman biết và liên hệ với cơ quan thuếđịa phương để được hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục thuế TP. HCM;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Vụ CST, PC, HTQT (BTC);
- Vụ CS, PC (TCT);
-
Website TCT;
- Lưu: VT, HTQT (2b).

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ




Nguyễn Đức Thịnh