BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
--------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------

Số: 272/TCT-CS
V/v lập lại hoá đơn

Hà Nội, ngày 21 tháng 1 năm 2009

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đồng Nai

Trả lời công văn số 4325/CT-TTHT ngày 19/12/2008 của CụcThuế tỉnh Đồng Nai về việc lập lại hoá đơn và khai bổ sung điều chỉnh hồ sơkhai thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 1.10, mục VI, phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTCngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn về in, phát hành, sử dụng quản lýhoá đơn quy định: "Trường hợp lập lại hoá đơn:

... Những trường hợp hoá đơn đã được xé rời khỏi quyển, sauđó phát hiện sai phải huỷ bỏ thì tổ chức, cá nhân phải lập biên bản có chữ kýxác nhận của bên mua hàng, bên bán hàng, nếu là tổ chức phải có ký xác nhận(đóng dấu) của người đứng đầu tổ chức; bên mua hàng, bên bán hàng phải chịutrách nhiệm trước pháp luật về số hoá đơn huỷ bỏ."

Tại điểm 5.1, mục I, phần B Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày14/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý thuế quy định: "Người nộpthuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót, nhầm lẫn gâyảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Hồ sơkhai thuế bổ sung được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, khôngphụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trướckhi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sởngười nộp thuế."

Trường hợp doanh nghiệp khi bán hàng đã lập hoá đơn có saisót và đã thực hiện kê khai, nộp thuế đối với doanh thu phát sinh trên hoá đơnđó thì khi phát hiện sai sót, nhầm lẫn hai bên mua bán thực hiện lập biên bảnhuỷ bỏ hoá đơn sai sót và lập lại hoá đơn mới thay thế theo quy định tại điểm1.10, mục VI) phần B Thông tư số 120/2002/TT-BTC nêu trên. Hoá đơn lập mớichính xác được sử dụng làm căn cứ để hai bên mua bán khai điều chỉnh, bổ sunghồ sơ khai thuế theo quy định tại điểm 5.1, mục I, phần B Thông tư số60/2007/TT-BTC nêu trên.

Khi thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo hoá đơn lậpmới có làm tăng số tiền thuế phải nộp, người nộp thuế tự xác định số tiền phạtchậm nộp căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp, số ngày chậm nộp và mức xử phạt theoquy định tại Điều 106 Luật Quản lý thuế. Nếu người nộp thuế không tự xác địnhhoặc xác định không đúng số tiền phạt chậm nộp thì cơ quan thuế xác định sốtiền phạt chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế biết để thực hiện.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế được biết./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương