BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2841/TCT-HTQT
V/v: áp dụng Hiệp định thuế đối với công ty Diesel Sông Công Thái Nguyên

Hà Nội, ngày 14 tháng 07 năm 2015

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh TháiNguyên.

Tổng cục Thuếnhận được công văn số 1254/CT-TNCN ngày 15/5/2015 của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyênđề nghị Tổng cục Thuế hướng dẫn về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hailần Việt Nam - Nhật Bản (sau đây gọi là Hiệp định) đối với thu nhập của các cánhân người nước ngoài phát sinh tại công ty TNHH Nhà nước MTV Diesel Sông Công(sau đây gọi là DISOCO). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Điều 1, Thôngtư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế Thunhập cá nhân quy định:

“Phạm vi xácđịnh thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

Đối với cánhân cư trú thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổViệt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

Đối với cánhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, khôngphân biệt nơi trả và nhận thu nhập.”

Điều 15, Hiệpđịnh quy định về nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công nhưsau:

“1. Thể theoquy định tại Điều 16, 18 và 19 các khoản tiền lương tiền công, và các khoảntiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu đượctừ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết đó, trừ khi công việccủa đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết ký. Nếu công việc làm công đượcthực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động đó có thể bi đánh thuế tạiNước ký kết kia.

2. Mặc dù cónhững quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một nước kýkết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tạiNước thứ nhất nếu.'

(a) ngườinhận tiền công có mặt ở Nước kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều thờigian gộp lại không quá 183 ngày trong năm dương lịch liên quan, và

(b) chủ laođộng hay đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải làđối tượng cư trú tại Nước kia, và

(c) số tiềncông không phải là phát sinh tại một cơ sở thườngtrú hoặc cơ sở cố định mà người chủ lao động có tại Nước kia.

Điều 5, Hiệpđịnh quy định về cơ sở thường trú như sau:

“1. Theo nộidung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinhdoanh cố định mà qua đó xí nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinhdoanh của mình.

4. Một xínghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kếtkia nếu xí nghiệp đó thực hiện tại Nước ký kết kia việc cung cấp các dịch vụbao gồm cả các dịch vụ tư vấn thông qua những người làm công hay những đốitượng khác với điều kiện các hoạt động đó kéo dài (trong cùng một dự án hay haihay nhiều dự án có liên quan) trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thờigian hơn 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng liên tục.”

Căn cứ cácquy định nêu trên, trường hợp các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) thực hiệnviệc cung cấp dịch vụ kỹ thuật định kỳ, thường xuyên cho DISOCO theo Hợp đồngkéo dài trong 5 năm (Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa GC và DISOCO), 3 năm(Hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa GC và DISOCO; Hợp đồng cung cấp dịch vụ giũaNakagawa và DISOCO) thì các công ty Nhật Bản này đã hình thành cơ sở thường trútại Việt Nam. Trong trường hợp này, điều kiện (c), Khoản 2, Điều 15 Hiệp địnhđã không được thỏa mãn. Thu nhập của người lao động Nhật Bản từ việc thực hiệnHợp đồng chuyển giao công nghệ và Hợp đồng cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuậtgiữa các công ty Nhật Bản (GC và Nakagawa) và DISOCO sẽ phải chịu thuế thu nhậpcá nhân tại Việt Nam theo quy định của nội luật Việt Nam.

Tổng cục Thuế thông báođể Cục Thuế được biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lãnh đạo Bộ (để báo cáo);
- Các Vụ: PC, TNCN;
- Website TCT;
- Lưu: VT, HTQT (2b).

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ

PHÓ
VỤ TRƯỞNG




Trần Thị Thanh Bình