BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2948 TCT/CS
V/v xử phạt vi phạm hành Chính trong lĩnh vực thuế

Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2001

Kính gửi: CụcThuế tỉnh Vĩnh Long

Trả lời công văn số 160/CT-TTr ngày 27/6/2001 củaCục Thuế hỏi về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, Tổng cục Thuếcó ý kiến như sau:

1- Về thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thihành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Khoản 2, Điều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chínhquy định: “2. Người có thẩm quyền xử phạt có quyền ra quyết định cưỡng chế vàcó trách nhiệm tổ chức cưỡng chế.

3. Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm thihành quyết định cưỡng chế của Uỷ ban Nhân dân cùng cấp và phải phối hợp với cáccơ quan Nhà nước khác tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế của các cơ quan đókhi được yêu cầu.”

Căn cứ quy định trên cơ quan thuế có thẩm quyền raquyết định xử phạt vi phạm hành chính thì có quyền quyết định cưỡng ché thi hành.Để đảm bảo thực hiện được việc cưỡng chế, nhất là trường hợp phải kê biên tàisản, cơ quan thuế báo cáo xin ý kiến UBND cùng cấp để UBND chỉ đạo lực lượng côngan, Viện kiểm sát nhân dân phối hợp, hỗ trợ cơ quan thuế tổ chức thực hiện theoquy định tại điểm 2.3, mục III Thông tư số 128/1998/TT-BTC ngày 22/9/1998 củaBộ Tài chính.

2- Về việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vựckế toán và lĩnh vực thuế:

Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định“Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính”, Khoản 1 ghi: “1. Việc xử phạt vi phạmhành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của phápluật.”; Khoản 4 có ghi: “4. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt mộtlần.

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chínhthì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.”

Điều 94 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định:“Những quy định về xử lý vi phạm hành chính trước đây trái với Pháp lệnh nàyđều bị bãi bỏ, trong trường hợp luật có quy định khác thì áp dụng theo quy địnhcủa luật.”.

Căn cứ điểm 2.4, Mục II Thông tư số 30/2001/TT-BTCngày 16/5/2001 của Bộ Tài chính.

Căn cứ các quy định trên, Cơ quan thuế kiểm tra pháthiện cơ sở kinh doanh có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán quyđịnh tại Nghị định số 49/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, đồng thời viphạm hành chính trong lĩnh vực thuế thì cơ quan thuế có quyền báo cáo, chuyểnhồ sơ cho UBND địa phương thực hiện xử phạt hành chính về hành vi vi phạm tronglĩnh vực kế toán theo thẩm quyền.

Đối với hành vi vi phạm về kế toán dẫn đến trốn thuếthì ngoài việc báo cáo UBND xử phạt vi phạm hành chính về kế toán, cơ quan thuếtiến hành tính thuế truy thu số thuế trốn lậu (nếu có) theo quy định tại Khoản1.a, Điều 18 Luật thuế giá trị gia tăng, khoản 1.a, Điều 16 Luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp và tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theothẩm quyền quy định tại Điều 20 Luật thuế giá trị gia tăng Điều 25 Luật thuếthu nhập doanh nghiệp, Thông tư số 128/1998/TT-BTC ngày 22/9/1998 và Thông tưsố 30/2001/TT-BTC .

Trường hợp, họ kinh doanh đăng ký, nộp thuế theokê khai nhưng có tháng không chấp hành đầy đủ chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi bánhàng hoá, thì cơ quan thuế căn cứ tình hình thực tế kinh doanh của hộ và các hộkinh doanh khác có cùng quy mô, ngành hàng kinh doanh để tổ chức ấn định lớnhơn số thuế của họ kê khai, thì số thuế chênh lệch coi là số thuế trốn lậu, bịtruy thu và xử phạt hành chính theo quy định.

Thời điểm để xác định cơ sở nộp thuế theo kê khaibị xử phạt theo số lần thuế trốn lậu về hành vi khai man, trốn thuế nếu bị pháthiện sau ngày phải nộp quyết toán thuế hay phải nộp đủ số hồ sơ theo quy địnhtại điểm 2.1, Mục II Thông tư số 30/2001/TT-BTC nêu trên, cụ thể như sau:

- Đối với thuế GTGT Thời điểm để xác định hành vikhai man trốn thuế của tháng này là ngày 26 của tháng tiếp sau hoặc kể từ ngàythứ 46 tính từ ngày có quyết định sát nhập, giải thể...

- Đối với thuế TNDN Thời điểm để xác định hành vikhai man trốn thuế của năm này là ngày thứ 61 của năm tiếp sau hoặc kể từ ngàythứ 46 tính từ ngày có quyết định sát nhập, giải thể...

3- Về hàng hoá vận chuyển trên đường không có đầyđủ hồ sơ:

- Điều 2.2.1, Mục 1 Thông tư số 30/2001/TT-BTC củaBộ Tài chính quy định: “ Hàng hoá vận chuyển không có đầy đủ hồ sơ chứng minhhàng đã nộp thuế hoặc hàng đã được cơ quan thuế quản lý theo quy định cho từngđối tượng kinh doanh.

Hành vi vi phạm nêu tại điểm này chỉ coi là hànhvi khai man, trốn thuế nếu sau thời hạn tối đa là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơquan thuế kiểm tra thấy còn nghi vấn và cho phép đối tượng có hành vi vi phạmthu thập đầy đủ hồ sơ hợp lệ chứng minh lô hàng đã nộp thuế (đối với hàng hoámua, bán, trao đổi) hoặc đã được cơ quan thu thuế quản lý (đối với hàng hoá chuyểnkho trong cùng một đơn vị), nhưng đối tượng vi phạm vẫn không xuất trình đầy đủhồ sơ hợp lệ...”.

Vì vậy, Cơ quan quản lý thị trường khi kiểm tra pháthiện hàng hoá vận chuyển không có đủ hồ sơ chứng minh hàng đã nộp thuế, mà chuyểnhồ sơ sang cơ quan thuế để xử lý về thuế thì cơ quan thuế nhận hồ sơ và thựchiện xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo quy định.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế biết thực hiện./.

KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Thị Cúc