1. Công văn 2950/TCT-CS 2015 xác định giá thu tiền sử dụng đất theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước

B TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THU
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 2950/TCT-CS
V/v xác định giá tính tiền sửdụng đất theo kết luận củaKTNN.

Hà Nội, ngày 22 tháng 07 năm 2015

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đắk Nông

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1159/CT-THNVDT ngày6/5/2015 của Cục Thuế tỉnh Đắk Nông đề nghị hướng dẫn vướng mắc về xác định giátính thu tiền sử dụng đất theo kết luận của KTNN. Về vấn đề này, Tổng cục Thuếcó ý kiến như sau:

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thựchiện nghĩa vụ tài chính và công văn số 15286/BTC-QLCS ngày 23/10/2014 của BộTài chính hướng dẫn tạm thời về trình tự, thủ tục thẩm định giá đất và hồ sơ,trình tự, thủ tục, luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất khi thực hiện nghĩavụ tài chính về đất đai.

Tại Điều 4 Nghị định số 84/2007/N Đ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việccấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụngđất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đấtvà giải quyết khiếu nại về đất đai quy định về thời điểm xác định nghĩa vụ tàichính khi nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận hoặc xin chuyn mục đích sử dụng đất, xin giao đấthoặc thuê đất:

“1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quannhà nước có thẩm quyền giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thìnghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm cóquyết định giao đất hoặc cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đất khôngđúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất thì nghĩa vụ tàichính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thựctế.

2. Trường hợp người sử dụng đất đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp Giấy chứngnhận, xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trướcngày 01 tháng 01 năm 2005 (ngày áp dụng giá đất mới theo quy định tại Nghị địnhsố 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất vàkhung giá các loại đất - gọi là Nghị định s188/2004/NĐ-CP ) nhưng do cơ quan chức năng chậm làm thủ tụchoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy định, do thay đổi mẫu tờ khai, thay đi thẩm quyền cấp Giấy chứng nhậnhoặc thẩm quyền cho phép chuynmục đích sử dụng đất mà làm cho người sử dụng đất phải nộp lại hoặc nộp bổ sunghồ sơ thì nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người nộp hồ sơ được xác địnhtại thời điểm đã nộp hồ sơ.

3. Trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận, hồ sơxin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ ngày01 tháng 01 năm 2005 trở về sau thì giá đất áp dụng để xácđịnh nghĩa vụ tài chính là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tạithời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Nếu cơ quan chức năng chậm làm thủ tục hoặchướng dn lập hồ sơ không đúng quy định thìngười nộp hồ sơ thực hiện quyn khiếunại đối với hành vi hành chính gây chậm trễ trong việc xử lý hồ sơ; công chức, viên chức có hành vi gây chậm trễ trong việc xử lýhồ sơ hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quyđịnh thì phải bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 175 Nghịđịnh số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành LuậtĐất đai (gọi là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ); nghĩa vụ tài chính đối với Nhànước của người nộp hồ sơ được xác định tại thời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ.

4. Căn cứ vào Sổ tiếp nhận hồsơ hoặc giấy biên nhận về tiếp nhận hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đấthoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xác nhận bng văn bản về thời điểm người sửdụng đất nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều này và chuyn cho cơ quan thuế để làm căn cứtính các khoản thu nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất”.

Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 20 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định điều khoản chuyển tiếp vềthu tiền sử dụng đất.

- Về việc kê khai bổ sung và xử lý vi phạm về thuế đối với doanh nghiệptheo kiến nghị của KTNN, ngày 23/9/2009 Bộ Tài chính đã có công văn số 13479/BTC-TCT gửi Cục thuế các địa phương hướng dẫn như sau:

“...5. Đối với doanh nghiệp đã được cơ quan thuế thanh tra,kiểm tra, sau đó KTNN có kiến nghị khác so với kết luận, quyết định xử lý sauthanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế, thì xử lý như sau:

- Trường hợp cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp nhận thấy kiếnnghị của Kiểm toán là đúng và phù hợp với các quy định của pháp luật thì thựchiện theo kiến nghị của KTNN.

- Trường hợp cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp nhận thấy kiếnnghị của Kiểm toán là chưa phù hợp với các quy định của Pháp luật thì phải cótrách nhiệm báo cáo giải trình lại với KTNN. Trường hợp KTNN đng ý với báo cáo giải trình của cơ quan thuế, điều chỉnh lại kết luậntại biên bản KTNN thì thực hiện theo các kết luận của cơ quan KTNN. Trường hợpKTNN không đng ý với ý kiến giải trình của cơquan thuế thì cơ quan thuế thực hiện theo kết luận của cơ quan KTNN và cơ quanthuế có trách nhiệm báo cáo Bộ Tài chính về vấn đề này”.

Căn cứ quy định trên thì tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cánhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất có thu tiền sử dụng đấthoặc cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giáđất tại thời điểm có quyết định giao đất hoặc cho thuê đất; trường hợp thời điểmbàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính đượcxác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thựctế. Trường hợp người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp Giấychứng nhận, hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 đến 30/6/2014 thì giá đất áp dụng để xácđịnh nghĩa vụ tài chính là giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tạithời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ. Nếucơ quan chức năng chậm làm thủ tục hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy địnhthì công chức, viên chức có hành vi gây chậm trễ trong việc xử lý hồ sơ hoặc hướngdẫn lập hồ sơ không đúng quy định bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 98Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đấtđai; nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của người nộp hồ sơ được xác định tạithời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ.

Trường hợp Cục Thuế tỉnh Đắk Nông nhận thấy kiến nghị củaKiểm toán là đúng và phù hợp với các quy định của pháp luật thì thực hiện theokiến nghị của KTNN.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Đắk Nông được biết./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC, QLCS -BTC;
-VụPC-TCT;
- Lưu: VT, CS (2b).

KT.TNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TNG CỤC TRƯỞNG




Phi Vân Tuấn

2. Công văn 1068/TCT-TS năm 2007 thu tiền sử dụng đất đối với đất công trình công cộng

Công văn năm 2007 thu tiền sử dụng đất đối với đất công trình công cộng

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1068/TCT-TS
V/v chính sách thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2007

Kínhgửi: Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang

Trả lời công văn số 1360/CT-TH &DT ngày 9/12/2006 của Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang về việc miễn,giảm tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Việc thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh (xã hội hóa) thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao theo quy định tại khoản 4, Điều12 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất Bộ Tài chính đã có công văn số 2519/BTC-TCT ngày 14/2/2007 trả lời Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận (bản photocopy kèm theo). Đề nghị Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang căn cứ vào hướng dẫn tại công văn này để thực hiện thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh (xã hội hóa)thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao.

Theo hướng dẫn tại công văn số 2591/BTC-TCT ngày 14/2/2007 của Bộ Tài chính nêu trên, thì trường hợp Trường Mầm non tư thục Minh Xuân thị xã Tuyên Quang và Phòng Khám Đa khoa chất lượngcao 153 do các Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,cá nhân, nhóm cá nhân hoặc cộng đồng dân cư đầu tư thành lập bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, vìvậy các cơ sở này thuộc diện không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diệntích đất được nhà nước giao để xây dựng trường học và phòng khám đa khoa.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Tuyên Quang biết và thực hiện.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ Pháp chế;
- Lưu: VT, TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

3. Công văn 4525/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc chính sách thu tiền sử dụng đất

Công văn

CÔNG VĂN

CỦA TỔNGCỤC THUẾ SỐ 4525 TCT/NV7 NGÀY 9 THÁNG 11 NĂM 2001 VỀ VIỆC CHÍNH SÁCH THU TIỀNSDĐ

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bến Tre

Trả lời Công văn số 1015/CV-CT ngày 04/10/2001 của Cục thuế tỉnh Bến Tre, nêu vướng mắc về chínhsách thu liên quan đến đất đai; Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 116, 117 Bộ luật Dân sự nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: "Chủ hộ là đại diện của hộ gia đìnhtrong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viênkhác đã thành niên có thể là chủ hộ". Căn cứ vào quy định trên, trường hợphộ gia đình phải nộp tiền sử dụng đất (SDĐ) khi hợp pháp hoá quyền SDĐ mà tronghộ gia đình có người thuộc đối tượng được xét giảm tiền SDĐ theo quy định tạimục C, Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫnthi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiềnSDĐ thì hộ đó thuộc diện xét giảm tiền SDĐ mặc dù người đứng tên chủ hộ đứngtên kê khai hợp pháp hoá quyền SDĐ không thuộc đối tượng được giảm tiền SDĐ.

2. Theo quy định củaLuật thuế chuyển quyền sử dụng đất (CQSDĐ) thì cơ quan thuế căn cứ vào giấychứng nhận quyền SDĐ của người chuyển quyền để áp dụng mức thu thuế CQSDĐ làđất nông nghiệp hay đất ở, đất xây dựng công trình. Do đó nếu người nhận chuyểnnhượng quyền SDĐ là đất nông nghiệp (đã được ghi trong giấy chứng nhận quyền sửdụng đất) sau đó người sử dụng chuyển mục đích sang đất ở phải nộp tiền SDĐtheo quy định của pháp luật.

3. Đối với đất không có giấy tờ hợp lệ, khi nhà nước chophép hợp pháp hoá quyền SDĐ thì phải nộp tiền sử dụng đất theo các mốc thờigian sử dụng đất. Trong trường hợp đất không có giấy tờ hợp lệ được cha, mẹthừa kế lại cho các con (hoặc người được nhận thừa kế khác ngoài các con), thìngười nhận quyền SDĐ là các con phải chứng minh được nguồn gốc đất và thời giansử dụng đất trước đó của cha, mẹ mình. Trong trường hợp nếu không chứng minhđược nguồn gốc và thời gian sử dụng đất của cha, mẹ, thì căn cứ vào mốc thờigian sử dụng đất của người con để tính mức thu tiền SDĐ.

4. Luật thuế CQSDĐ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1994,do đó các trường hợp đã CQSDĐ trước thời điểm ngày 01/7/1994, đã làm thủ tụctại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyềnsở hữu nhà ở, quyền SDĐ ở người SDĐ không phải nộp thuế CQSDĐ. Trường hợp nếuCQSDĐ trước thời điểm trên nhưng giữa người mua và người bán chưa làm thủ tụctại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì khi hợp pháp hoá quyền sở hữu nhà ở,quyền SDĐ ở người SDĐ phải nộp thuế CQSDĐ thay cho người CQSDĐ trước đó theoquy định tại điểm 2d, mục VII, Thông tư số 104/2000/TT-BTC ngày 23/10/2000 củaBộ Tài chính. Trong trường hợp người nhận CQSD không có một trong các loại giấytờ hợp lệ về quyền SDĐ quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ thì người sử dụng đất phải hợp pháp hoá quyền SDĐvà nộp tiền SDĐ theo quy định của pháp luật.

5. Theo quy định tại điểm 3e, mục I, Thông tư số 28/2000/TT-BTC ngày 18/4/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ, thì chỉ khôngthu lệ phí đối với các trường hợp đất được Nhà nước giao cho các tổ chức chínhtrị, xã hội... Vì vậy, các cơ sở tôn giáo được tổ chức, cá nhân tặng, chuyểnnhượng quyền SDĐ sẽ phải nộp lệ phí trước bạ, khi đăng ký quyền sử dụng đất.Trường hợp đất nhận chuyển nhượng là đất đang sản xuất nông nghiệp, sau đó cơsở tôn giáo chuyển mục đích sử dụng thành đất xây dựng nếu được cơ quan Nhànước có thẩm quyền cho phép thì theo quy định của điểm 1.3, mục III, phần A,Thông tư số 115/2000/TT-BTC cơ sở tôn giáo không phải nộp tiền sử dụng đất.

Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế Bến Tre biết và thựchiện.

4. Công văn 3869/TCT-CS của Tổng cục Thuế về việc chính sách thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
Số: 3869/TCT-CS
V/v: Chính sách thu tiền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2013
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bình Dương
Trả lời công văn số 5239/CT-QLCKTTĐ ngày 14/5/2013 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương về chính sách thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất:
+ Tại khoản 1 Điều 7 quy định thu tiền sử dụng đất khi chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất: "1. Giao đất sử dụng ổn định lâu dài: Chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất sử dụng ổn định lâu dài thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định này.”
+Tại khoản 2 Điều 5 quy định:”2. Giao đất sử dụng ổn định lâu dài theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không qua đấu giá quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất được tính theo căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghị định này.”
+ Tại khoản 1 Điều 4 quy định: "1. Diện tích đất tính thu tiền sử dụng đất là diện tích đất được Nhà nước giao, được phép chuyển mục đích sử dụng, được chuyển từ hình thức thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất."
- Theo quy định tại Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất:
+ Tại điểm b khoản 1 Điều 2 (bổ sung vào khoản 2 Điều 4 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004) quy định:"b) Trường hợp người sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đang sử dụng hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng của đất khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc theo mục đích sử dụng của đất sau khi chuyển mục đích sử dụng tại thời điểm kê khai và nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xin chuyển mục đích sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền."
+ Tại khoản 3 Điều 2 (sửa đổi khoản 3 Điều 7 về thu tiền sử dụng đất khi chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất) quy định:
"3. Trường hợp người sử dụng đất được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất mà trước đó đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đã được cơ quan có thẩm quyền xác định số được trừ vào tiền thuê đất phải nộp nhưng chưa được trừ hết, nay chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất thì tiếp tục được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp; mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất phải nộp, số còn lại chưa được trừ vào tiền sử dụng đất phải nộp (nếu có) được tính vào vốn đầu tư của dự án.
Trường hợp người sử dụng đất đã nộp trước tiền thuê đất thì được trừ tiền thuê đất nộp trước cho thời gian còn lại (nếu có) vào tiền sử dụng đất phải nộp".
- Theo quy định tại Thông tư số 93/2011/TT-BTC ngày 29/06/2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất:
+ Tại điểm 1.2 Điều 1 quy định về giá đất tính thu tiền sử dụng đất: "1.2. Trường hợp các tổ chức kinh tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án sản xuất kinh doanh hoặc dự án về nhà ở thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng của đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng của đất của cấp có thẩm quyền."
+ Tại Điều 3 sửa đổi, bổ sung điểm 3 Mục III Phần B (hướng dẫn khoản 3 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP) quy định:
"3. Trường hợp người sử dụng đất được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất mà trước đó đã nộp trước tiền thuê đất thì được trừ số tiền thuê đất đã nộp trước cho thời gian còn lại (nếu có) vào tiền sử dụng đất phải nộp theo nguyên tắc được bảo toàn số tiền đã nộp như sau:
Số tiền chưa được trừ (nêu trên) được quy đổi tương ứng ra mức tỷ lệ % đã hoàn thành việc nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm người sử dụng đất đã nộp tiền thuê đất cho Nhà nước, nhưng tối đa không vượt quá tiền sử dụng đất phải nộp. Giá đất để tính tiền sử dụng đất tại thời điểm người sử dụng đất đã nộp tiền thuê đất cho Nhà nước để tính quy đổi (tỷ lệ %) đã hoàn thành việc nộp tiền sử dụng đất phải được xác định phù hợp với mục đích sử dụng mới theo quy hoạch được duyệt khi được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Đối với tỷ lệ % diện tích đất được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất (còn lại) phải nộp tiền sử dụng đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này."
+ Theo hướng dẫn tại ví dụ 2 tại Phụ lục đính kèm Thông tư số 93/2011/TT-BTC ngày 29/06/2011 của Bộ Tài chính:Lưu ý: Trường hợp Công ty B chỉ chuyển một phần diện tích từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất thì số tiền thuê đất đã nộp trước cho thời gian chưa sử dụng được phân bổ tương ứng với số diện tích được chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất để quy đổi ra tỷ lệ % tính trên số tiền sử dụng đất tương ứng với trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm người sử dụng đất đã nộp tiền thuê đất cho Nhà nước."
Căn cứ các quy định trên, trường hợp Công ty CP Thương mại và Sản xuất Hưng Thịnh được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cho phép chuyển mục đích sử dụng đất một phần diện tích đất đang thuê (đất sản xuất kinh doanh tại khu công nghiệp, thời hạn thuê 50 năm) sang đất để thực hiện dự án nhà ở cho người lao động (thời hạn sử dụng lâu dài) thì được trừ số tiền thuê đất đã nộp vào số tiền sử dụng đất phải nộp theo nguyên tắc bảo toàn số tiền đã nộp quy định tại Điều 3 Thông tư số 93/2011/TT-BTC ngày 29/06/2011 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Bình Dương biết./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục QLCS;
- Vụ PC-BTC;
- Vụ PC-TCT (1b);
- Lưu: VT, CS (2b)
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn

5. Công văn 9771/VPCP-NN 2019 thu tiền sử dụng đất tiền thuê đất hệ thống đường dây truyền tải điện

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 9771/VPCP-NN
V/v thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của hệ thống đường dây truyền tải điện

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2019

Kính gửi: Bộ Tài chính.

Về đề nghị của Bộ Tài chính (Công văn số 9964/BTC-QLCS ngày 26 tháng 8 năm 2019), ý kiến của các Bộ: Tư pháp (Công văn số 3842/BTP-PLDSKT ngày 03 tháng 10 năm 2019), Tài nguyên và Môi trường (Công văn số 5055/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03 tháng 10 năm 2019) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Công văn số 4811/EVN-TCKT ngày 11 tháng 9 năm 2019) về việc thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của hệ thống đường dây truyền tải điện, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng có ý kiến như sau:

Bộ Tài chính nghiên cứu ý kiến của Bộ Tư pháp, Tập đoàn Điện lực Việt Nam tại các văn bản nêu trên; chủ trì, phối hợp với các Bộ: Công Thương, Tư pháp, Tài nguyên và Môi trường và Tập đoàn Điện lực Việt Nam thống nhất phương án, lộ trình phù hợp với quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 12696/VPCP-NN ngày 29 tháng 12 năm 2018; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11 năm 2019.

Văn phòng Chính phủ thông báo để Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan biết, thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- TTgCP, PTTg Trịnh Đình Dũng;
- Các Bộ: TP, TNMT, CT;
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
- VPCP: BTCN, PCN Nguyễn
Cao Lục, các Vụ: CN, KTTH, PL; TGĐ Cổng TTĐT;
- Lưu: VT, NN (3).Thanh

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM



Nguyễn Cao Lục

6. Công văn 424TCT/TS chính sách thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------

Số: 424TCT/TS
V/v: chính sách thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 01 tháng 02 năm 2005

Kính gửi:

Ông Nguyễn Văn Hồng
(Nhà số 12, Ngõ 45, phố Chùa Bộc, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội)

Trảlời đơn thư của Ông đề ngày 20/1/2005 hỏi về chính sách thu tiền sử dụng đất,Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căncứ Khoản 2, Điều 21 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ vềthu tiền sử dụng đất quy định: “Việc thu tiền sử dụng đất khi bán nhà thuộc sởhữu nhà nước cho người đang thuê thực hiện theo quy định tại Nghị định số 61/CPngày 05 tháng 7 năm 1994 về mua bán và kinh doanh nhà ở của Chính phủ”.

Dođó, trường hợp nhà đất mà gia đình ông đang ở, theo như đơn trình bày của ônglà nhà đất thuộc sở hữu nhà nước nên việc thu tiền sử dụng đất sẽ được thựchiện theo quy định tại Nghị định số 61/CP nêu trên.

Đềnghị ông liên hệ với Sở Tài nguyên môi trường và Công ty quản lý kinh doanh nhàtại địa bàn để được giải thích và hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng nhà ở và mua nhà thuộc sở hữu nhà nước./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu VP (HC), TS-TK .

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

7. Công văn 3968/TCT-TS vướng mắc trong chính sách thu tiền sử dụng đất

TỔNG CỤC THUẾ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 3968/TCT-TS
V/v: C/s thu tiền SDĐ

Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2005

Kính gửi : Cục thuế tỉnh Kon Tum

Trả lời Công văn số 1283/CT-THDT ngày 30/9/2005 của Cục Thuế tỉnh Kon Tum hỏi về vướng mắc trong chính sách thu tiền sử dụng đất (SDĐ); Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Trường hợp đất ở đã được sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp phù hợp với quy hoạch thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không phải nộp tiền SDĐ trên toàn bộ diện tích đất hiện đang sử dụng, kể cả phần diện tích dôi ra do đo đạc lại.

- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở từ ngày 15/10/1993 đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 và điểm b, c, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP trên toàn bộ diện tích đất hiện đang sử dụng, kể cả phần diện tích dôi ra do đo đạc lại.

- Trường hợp đất ở có vườn ao nằm trong khu dân cư, thì căn cứ vào các mốc thời gian đất được sử dụng để ở và hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất chó ghi nhận rõ ranh giới thừa đất ở hay ranh giới thừa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính theo như quy định tại Điều 87 Luật đất đai năm 2003 và Điều 45 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai, để thực hiện chính sách thu tiền sử dụng đất cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Tổng cục Thuế, đề nghị Cục Thuế phối hợp với Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Kon Tum kiểm tra các hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất để thực hiện chính sách thu tiền SDĐ theo đúng quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

8. Công văn 2486/TCT-TS thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 2486/TCT-TS
V/v thu tiền SDĐ

Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2007

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Nam

Trả lời công văn số 2638/CT-THDT ngày 15/6/2007 của Cục Thuế tỉnh Quảng Nam về việc vướng mắc chính sách thu tiền SDĐ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Ông A đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gồm đất ở và đất vườn ao), sau đó chuyển nhượng cho Ông B. Như vậy, đất của ông B có nguồn gốc là nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp.

Do đó, khi Ông B được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ và cho phép chuyển mục đích đối với phần diện tích đất vườn (đất trồng cây lâu năm) sang đất ở thì trường hợp Ông B thuộc diện chuyển mục đích sử dụng đất có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp sang đất ở theo quy định tại tiết c Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP và phải nộp tiền SDĐ theo quy định.

Đề nghị Cục Thuế tỉnh Quảng Nam nghiên cứu, giải quyết cụ thể.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ Pháp chế;
- Lưu: VT, TS

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG



Phạm Duy Khương

9. Công văn 1959 TCT/TS vướng mắc trong việc thu tiền sử dụng đất

TỔNG CỤC THUẾ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 1959TCT/TS
V/v: Chính sách thu tiền sử dụng đất.

Hà Nội, ngày 22 tháng 06 năm 2005

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang

Trả lời Công văn số 194/CV-DTTH ngày 01/6/2005 của Cục Thuế tỉnh Kiên Giang về vướng mắc trong việc thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4, Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất: “Diện tích đất tính thu tiền sử dụng đất là diện tích đất được giao, được phép chuyển mục đích sử dụng, được chuyển từ hình thức thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.”và theo quy định tại Điểm 1, Mục II, Phần B, Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về cách tính thu tiền sử dụng đất đối với từng trường hợp cụ thể thì:

Trường hợp Công ty Tư vấn Xây dựng Kiên Giang được phép chuyển mục đích sử dụng đất có nguồn gốc từ đất nhận chuyển nhượng 2 ha đất nông nghiệp sang đất thổ cư (đất ở) nhằm thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu dân cư và xây nhà ở bán cho hộ gia đình, cá nhân (nhưng Dự án đầu tư đã được UBND tỉnh phê duyệt diện đất xây nhà ở chỉ là 1 ha) thì:

1/ Công ty phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất của diện tích 1 ha đất dùng vào mục đích xây nhà ở.

2/ Mức nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất tính theo công thức sau:

Tiền SDĐ phải nộp = 1 ha x (Giá đất ở - Giá đất nông nghiệp)

Trong đó: Giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất.

Tổng cục Thuế trả lời để để Cục Thuế tỉnh Kiên Giang biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên
- Lưu VP (HC), TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

10. Công văn về việc chính sách thu tiền sử dụng đất

Công văn

CÔNG VĂN

CỦA TỔNGCỤC THUẾ SỐ 3880 TCT/NV7 NGÀY 27 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC CHÍNH SÁCH THU TIỀNSỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh

Trả lời Công văn số 756/CTBN ngày 02/8/2001 của Cục thuế tỉnh Bắc Ninh về chính sách thu tiền sửdụng đất (SDĐ); Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

1. Về nguyên tắc miễn, giảm tiền SDĐ: Theo quy định tại Điều9 Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền SDĐ thìnguyên tắc miễn, giảm tiền SDĐ như sau:

"1. Việc miễn và giảm tiền sử dụng đất trong các trường hợp:được Nhà nước giao đất để làm nhà ở, được phép chuyển mục đích SDĐ, được muanhà đang thuê thuộc sở hữu Nhà nước, được cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ thì chỉđược tính miễn, giảm tiền SDĐ một lần;

4. Trong trường hợp một người thuộc đối tượng được hưởngnhiều chế độ miễn, giảm tiền SDĐ thì được hưởng mức ưu đãi cao nhất".

Căn cứ vào các quy định trên đây:

- Trường hợp các đối tượng chưa được Nhà nước cấp đất ở lầnnào ở tỉnh cũ (tỉnh Hà Bắc) nay được giao đất ở tại tỉnh mới, nếu thuộc diệnđược hưởng chính sách miễn, giảm tiền SDĐ theo quy định tại Điều 10 Nghị địnhsố 38/2000/NĐ-CP thì các đối tượng này chỉ được xét miễn, giảm tiền SDĐmột lần theo mức ưu đãi cao nhất theoQuyết định số 8/6/QĐ-TTg ngày 16/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc giảmtiền SDĐ cho cán bộ phải di chuyển chỗ ở do chia tách tỉnh hoặc mức miễn, giảmtiền SDĐ theo Nghị định số 38/2000/NĐ-CP. Trường hợp các đối tượng đã được Nhànước giao đất ở tại tỉnh cũ phải nộp tiền SDĐ, nhưng chưa được xét miễn, giảmtiền SDĐ; Nay đến tỉnh mới được Nhà nước giao đất ở, nếu thuộc diện được hưởngchính sách miễn, giảm tiền SDĐ theo quy định tại Điều 10 Nghị định số38/2000/NĐ-CP thì được xét giảm tiền SDĐ.

2. Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp hàng tháng được giảm70% tiền SDĐ quy định tại điểm 3.3, phần C, Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày11/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP phảilà hộ gia đình đang có bố, mẹ, vợ, con... của liệt sĩ được hưởng trợ cấp hàngtháng. Trường hợp, thân nhân liên sĩ đã trưởng thành đã tách họ ra ở riêngkhông còn được hưởng trợ cấp hàng tháng, thì không thuộc diện được giảm tiềnSDĐ theo quy định này.

3. Các trường hợp giao đất ở nông thôn: Trường hợp đất ở tạivùng nông thôn trước đây đã sử dụng ổn định từ trước ngày 31/5/1990 thì khôngphải nộp tiền SDĐ; Từ sau ngày 31/5/1990 đến ngày 15/10/1993 phải nộp 20% tiềnsử dụng đất. Nếu sử dụng sau ngày 15/10/1993 phải nộp 100% tiền SDĐ.

Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân được giao và đã nộp tiềnsử dụng đất có phiếu thu do xã, phường đã thu đủ theo quy định thì được xácđịnh là đã nộp tiền SDĐ. Nếu địa phương (là xã, phường, huyện) đã thu nhưngchưa nộp vào ngân sách Nhà nước thì Cục thuế báo cáo UBND tỉnh để xử lý.

Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế Bắc Ninh biết và thựchiện.