BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3237/BNN-TCLN
V/v xây dựng kế hoạch khai thác gỗ rừng tự nhiên trong nước

Hà Nội, ngày 06 tháng 10 năm 2010

Kínhgửi: Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện Quy chế quản lý rừng banhành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chínhphủ, ngày 16/8/2010 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có văn bản số 2613/BNN-TCLN đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hạn mức khai thác năm 2011cho các địa phương là 200.000 m³. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xingiải trình về cơ sở xác định khối lượng gỗ khai thác trên như sau:

1. Về khả năng cung cấp gỗ từrừng tự nhiên

Theo kết quả theo dõi diễn biến tàinguyên rừng công bố tại Quyết định số 2140/QĐ-BNN-TCLN ngày 09/8/2010 của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì trên địa bàn cả nước có 10,3 triệu harừng tự nhiên, trong đó: rừng đặc dụng 1,92 triệu ha; rừng phòng hộ 4,24 triệuha; rừng sản xuất 4,14 triệu ha. Thực hiện quy chế quản lý rừng, Bộ Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn đã chỉ đạo việc khai thác rừng tự nhiên như sau:

- Đối với rừng đặc dụng: Không tổchức khai thác, chỉ tập trung quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinhthái rừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết.

- Đối với rừng phòng hộ: Về cơ bảncũng không khai thác, chủ yếu là quản lý, bảo vệ để duy trì khả năng phòng hộcủa rừng, chỉ thực hiện khai thác ở mức độ thấp trên diện tích đã giao cho cộngđồng dân cư quản lý, để hỗ trợ cho nhu cầu tại chỗ của cộng đồng.

- Đối với rừng sản xuất: Chỉ khaithác trên diện tích rừng thành thục.

Từ định hướng trên, để xác định khảnăng cung cấp của rừng, Bộ Nông nghiệp chỉ tính toán đối với rừng sản xuất, cụthể: Diện tích rừng đưa vào khai thác là rừng thành thục (rừng giàu hiện có vàrừng trung bình sẽ đạt thành thục trong luân kỳ khoảng 730.000 ha, loại rừngnày có trữ lượng trên 150 m3/ha), luân kỳ khai thác 35 năm thì mỗinăm khai thác ổn định khoảng 21.000 ha tương ứng khoảng 650.000m3(bình quân khai thác 30 m3/ha). Như vậy, nếu khai thác hàng năm200.000 m3 tương ứng khoảng 6.000 ha thì chỉ bằng 33% khả năng cungcấp của rừng sản xuất, do đó sẽ không lạm vào vốn rừng, đồng thời giải quyếtđược nhu cầu tiêu dùng trong nước.

2. Về mặt sinh trưởng và pháttriển của rừng

Khai thác chọn gỗ rừng rừng tựnhiên là một trong những biện pháp lâm sinh để thúc đẩy rừng phát triển và vớikhai thác như quy định hiện nay: cường độ khai thác từ 20-30% trữ lượng rừng vàsố cây chặt tập trung vào các cây đã thành thục, già cỗi và chỉ tiến hành khaithác ở những lâm phần đã xây dựng phương án điều chế rừng, phương án quản lý rừngbền vững nên việc khai thác chọn trên không làm mất rừng, mà còn tạo điều kiệncho rừng sinh trưởng và phát triển, đồng thời vẫn đảm bảo được khả năng phònghộ của rừng. Mặt khác, theo quy luật tự nhiên nếu không khai thác, những câygià cỗi sẽ bị chết gây lãng phí tài nguyên rừng, trong khi nhu cầu về nguyênliệu gỗ ngày càng tăng cao.

3. Về nhu cầu sử dụng gỗ hàngnăm

Trong những năm gần đây hàng năm cảnước nhập khẩu bình quân từ 2,5 - 3 triệu m3 gỗ và khai thác gỗ rừngtrồng trong nước từ 3,5 - 4 triệu m3. Khối lượng gỗ này chủ yếu phụcvụ cho xuất khẩu, còn nhu cầu thiết yếu cho tiêu dùng của người dân miền núi,vùng đồng bằng sông Cửu Long và ven biển vẫn phải sử dụng chủ yếu vào nguồn gỗkhai thác từ rừng tự nhiên trong nước, vì những lý do: gỗ nhập khẩu giá cao,các doanh nghiệp nhập khẩu chủ yếu đảm bảo khối lượng sản xuất theo đơn hàngxuất khẩu sản phẩm; gỗ rừng trồng đa phần là loại gỗ nhỏ chủ yếu sử dụng vàonguyên liệu giấy, ván nhân tạo, không phù hợp với sản xuất đồ mộc, xây dựng nhàcửa và sản xuất thủ công mỹ nghệ.

Theo báo cáo của các địa phương vàkết quả thống kê những năm gần đây việc sử dụng gỗ cho nhu cầu nội địa củangười dân hàng năm trên cả nước khoảng 1.000.000 m3, trong đó:

- Làm nhà ở, sản xuất mộc dân dụng,đóng quan tài và các công trình dân sinh khác: 800.000 m3.

- Đóng mới và sửa chữa tàu thuyềncho nhân dân vùng biển, vùng đồng bằng sông Cửu Long: 100.000 m3.

- Phòng chống khắc phục hậu quảthiên tai: 50.000 m3.

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ:50.000m3.

Với nhu cầu trên, hàng năm cácnguồn gỗ do người dân khai thác trên diện tích rừng được giao, khai thác tậndụng trên diện tích rừng chuyển mục đích sử dụng, mua gỗ nhập khẩu, sử dụng gỗrừng trồng phù hợp chỉ đáp ứng khoảng từ 60-70%, khối lượng còn thiếu vẫn phảisử dụng nguồn gỗ do các công ty lâm nghiệp khai thác chính từ những khu rừng đãxây dựng phương án điều chế rừng, phương án quản lý rừng bền vững cung cấp. Nếukhông có nguồn gỗ này thì khó bù đắp những thiếu hụt về nhu cầu thực tế dẫn đếntình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp, rất khó khăn trong công tác quản lý.

4. Về thực hiện thí điểm phươngán quản lý rừng bền vững.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướngChính phủ tại văn bản số 455/VP-KTN ngày 20/4/2005 về thực hiện thí điểm Phươngán quản lý rừng bền vững, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo xây9 mô hình thí điểm. Vì vậy, trong dự kiến sản lượng khai thác hàng năm có cảkhối lượng để đảm bảo cho việc thực hiện 9 mô hình thí điểm nêu trên và các đơnvị (gồm 100 đơn vị của 17 tỉnh) đang khai thác theo phương án điều chế rừng.

Từ những lý do trên, Bộ Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt khốilượng khai thác gỗ rừng tự nhiên năm 2011 là 200.000 m3như đề nghịcủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại văn bản số 2613/BNN-TCLN ngày 16tháng 8 năm 2010.

Đồng thời với việc tổ chức khaithác theo sản lượng được duyệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tổchức sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện các mô hình quản lý rừng bền vững, trêncơ sở đó sẽ nhân ra diện rộng và trình Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiệnchủ trương khai thác theo năng lực rừng theo phương án quản lý rừng bền vữngđược phê duyệt ở các năm tiếp theo.

Kính đề nghị Thủ tướng Chính phủxem xét, quyết định./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- VP Chính phủ;
- Lưu: VT, TCLN (4b).

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Hứa Đức Nhị