Công văn

CÔNG VĂN

CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 3292 TCHQ/KTTT
NGÀY 12 THÁNG 8 NĂM 2001 VỀ VIỆC HỢP ĐỒNG
XỬ LÝ VƯỚNG MẮC VỀ THUẾ GTGT

Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố

Thời gian qua Tổngcục Hải quan nhận được ý kiến của các đơn vị có vướng mắc về việc thực hiệnThông tư 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính và Công văn hướng dẫnsố 1266/TCHQ-KTTT ngày 3/4/2001 của Tổng cục Hải quan. Một số vấn đề vượt quáthẩm quyền, Tổng cục Hải quan đang trao đổi với Bộ Tài chính. Những vấn đềtrong phạm vi trách nhiệm của mình, Tổng cục tổng hợp và hướng dẫn chung nhưsau:

1) Về thẩm quyền truy thu, truy hoàn thuế GTGT:

Căn cứ quy định tại phần I, Mục H Thông tư 122/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính thì Tổng cục Hải quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thuthuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu, trách nhiệm hoàn thuế GTGT thuộc về BộTài chính (quy định trên nhằm quản lý quỹ hoàn thuế GTGT được chặt chẽ). Vìvậy, trong trường hợp điều chỉnh tăng thuế GTGT thì cơ quan Hải quan vẫn thựchiện truy thu. Nhưng tất cả các trường hợp điều chỉnh giảm thuế GTGT (bao gồmcả trường hợp bổ sung C/O) hoặc hoàn trả thuế GTGT (kể cả trường hợp hàng tịchthu phải hoàn thuế GTGT...) thì cơ quan Hải quan không ra quyết định hoàn thuếmà có văn bản xác nhận số thuế nộp thừa hoặc số thuế phải hoàn trả, gửi cơ quanThuế nội địa nơi quản lý doanh nghiệp để thực hiện khấu trừ vào số thuế GTGTphải nộp ở đầu ra cho đối tượng được hoàn hoặc trả theo quy định.

Các trường hợp Cục Hải quan các tỉnh, thành phố đã ra quyếtđịnh hoàn thuế thì ngừng ngay việc thực hiện Quyết định và có văn bản thông báocho cơ quan Thuế nội địa để tiếp tục thực hiện khấu trừ hoặc hoàn trả cho đốitượng nộp thuế.

Đối với các trường hợp hàng hoá nhập khẩu thuộc diện khôngchịu thuế GTGT như: nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, gia công hàng xuấtkhẩu, quà biếu, quà tặng... nếu doanh nghiệp đến khai báo thay đổi mục đích sửdụng thì cơ quan Hải quan chỉ thực hiện truy thu số tiền thuế nhập khẩu, tiềnphạt chậm nộp thuế nhập khẩu (nếu có), nhưng không thực hiện truy thu số thuếGTGT phải nộp, mà có văn bản thông báo với cơ quan Thuế nội địa để phối hợp thuđủ số thuế cho Ngân sách Nhà nước.

Việc xử lý tồn đọng đối với các lô hàng nguyên vật liệu nhậpkhẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đã thu thuế GTGT (trên số nguyên vật liệu tươngứng với số sản phẩm chưa xuất khẩu ngoài thời gian ân hạn 275 ngày) và đã nộpvào tài khoản tạm thu thì thực hiên theo hướng dẫn của Tổng cục tại Công văn số 2793/TCHQ-KTTT , ngày 5/7/2001.

2) Đối với máy móc, thiết bị phương tiện vận tải là đốitượng không thu thuế GTGT:

Về vấn đề bất bình đẳng trong việc xác định đối tượng đượchưởng không thu thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyêndùng nhập khẩu làm TSCĐ, Tổng cục Hải quan đã nhiều lần có văn bản phản ánh vớiBộ Tài chính. Trong khi chưa có ý kiến sửa đổi chính thức của Chính phủ và BộTài chính thì các hộ kinh doanh cá thể, các cơ sở sản xuất và các đối tượngkhác không phải là doanh nghiệp theo quy định tại điểm 4, mục II, phần A, Thôngtư 122/2000/TT-BTC không được hưởng quy định này. (Riêng các đơn vị hành chínhsự nghiệp nhưng có chức năng kinh doanh - có giấy chứng nhận đăng ký thuế, nhậpkhẩu máy móc, thiết bị loại trong nước chưa sản xuất được để tạo tài sản cốđịnh theo dự án đầu tư thì thực hiện theo nội dung Công văn số 2268/TCQH-KTTT ngày 4/6/2000 của Tổng cục Hải quan. Theo đó, số máy móc, thiết bị này thuộcđối tượng không chịu thuế GTGT). Các trường hợp khiếu nại về đối tượng khôngchịu thuế GTGT theo quy định này, đề nghị Cục Hải quan tỉnh, thành phố hướngdẫn làm công văn trực tiếp gửi Bộ Tài chính để được xem xét giải quyết.

Về cơ sở để xác định thiết bị, máy móc, phương tiện vận tảichuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ loại trong nước đã sản xuất được haychưa, trước mắt vẫn thực hiện theo Quyết định 214/1999/QĐ-BKH ngày 26/4/1999 vàCông văn số 3836 BKH/CN ngày 16/6/1999 của Bộ Kế hoạch và đầu tư.

Một số đơn vị hỏi khi xác định loại tàu cánh ngầm cao tốctrong nước đã sản xuất được hay chưa, Bộ Kế hoạch và đầu tư có Công văn số 2626BKH/CN ngày 26/4/2001 nêu rõ: Hai tiêu chí cơ bản của phương tiện vận tải thuỷlà trọng tải (đối với tàu chở khách là số chỗ ngồi) và tốc độ; các thông số vềkích thước và hình dáng hình học không dùng làm chuẩn so sánh trong việc thựchiện Quyết định 214/1999/QĐ-BKH. Do đó, các loại tàu cánh ngầm, tàu cao tốcchở khách nếu có số chỗ ngồi đến 300 chỗhoặc tàu chuyên dụng tốc độ cao đến 32 hải lý thì thuộc loại trong nước sảnxuất được.

3- Trường hợp hàng hoá nhập khẩu con nằm trong sự quản lý vàgiám sát của Hải quan cửa khẩu nhưng vì lý do nào đó được phép tái xuất hoặcbuộc phải tái xuất nhưng đã có thông báo thuế nhập khẩu và thuế GTGT, nhưngdoanh nghiệp chưa nộp thuế thì Cục Hải quan tỉnh, thành phố ra quyết định khôngthu thuế nhập khẩu và thuế GTGT trong trường hợp này. Trường hợp doanh nghiệpđã nộp thuế thì có văn bản xác nhận gửi Cục thuế địa phương để làm thủ tục hoànlại thuế GTGT cho đối tượng nộp thuế.

4- Về việc thực hiện Công văn 1266/TCHQ-KTTT ngày 3/4/2001của Tổng cục Hải quan hướng dẫn những điểm có liên quan đến hàng hoá xuất nhậpkhẩu chưa được quy định rõ tại Thông tư 122/2000/TT-BTC , Tổng cục Hải quan đãcó Công văn số 1528/TCHQ-KTTT ngày 19/4/2001 sửa đổi bổ sung (yêu cầu các đơnvị nghiên cứu kỹ công văn này trước khi có văn bản hỏi Tổng cục). Một số CụcHải quan tỉnh, thành phố tiếp tục phản ánh những điểm phát sinh mới, Tổng cụcxin có ý kiến như sau:

Về hồ sơ thủ tục đối với các lô hàng nguyên vật liệu nhậpkhẩu để sản xuất hàng xuất khẩu quy định tại điểm 6.5 Công văn 1266/TCHQ-KTTT ,không yêu cầu doanh nghiệp nộp hợp đồng xuất khẩu theo từng chuyến mà có thểxuất trình hợp đồng bao gồm sản phẩm ký với nước ngoài. Trường hợp doanh nghiệpkhông xuất trình được hợp đồng xuất khẩu thì phải yêu cầu doanh nghiệp cam kếtlô hàng nhập khẩu thuộc loại hình sản xuất hàng xuất khẩu và phải thực hiệnđăng ký định mức tiêu hao nguyên vật liệu tại thời điểm nhập khẩu nguyên liệu.Khi xuất khẩu sản phẩm, doanh nghiệp phải xuất trình hợp đồng xuất khẩu và địnhmức thực tế sử dụng nguyên vật liệu, để đảm bảo yêu cầu về thủ tục hồ sơ thanhkhoản tờ khai nhập khẩu nguyên vật liệu theo đúng quy định.

5- Về danh mục các loại hoá chất cơ bản áp dụng thuế suấtthuế GTGT 5%, về nguyên tắc chỉ những mặt hàng đúng tên gọi, đúng công thức hoáhọc hay ký hiệu mới được hưởng thuế suất thuế GTGT là 5%. Trường hợp phát hiệncó sự nhầm lẫn trong in ấn (ví dụ cùng một công thức hoá học C10H8nhưng có hai chất Naphthalen và Xylene...) thì hướng dẫn doanh nghiệp gửi côngvăn trực tiếp đến Bộ Tài chính để được xem xét cụ thể.

Tổng cục Hải quan thông báo để các đơn vị biết và thực hiện.Trong quá trình thực hiện nếu còn vướng mắc gì thì báo cáo để Tổng cục hướngdẫn bổ sung.

Công văn này thay trả lời các fax số 912 ngày 26/4/2001, số1011 ngày 9/5/2001, Công văn số 1024 ngày 10/5/2001 của Cục Hải quan TP. Hồ ChíMinh; fax số 66 ngày 28/6/2001 của Cục Hải quan Cà Mau; fax số 514 ngày9/5/2001 của cục Hải quan Tây Ninh; Công văn số 364 ngày 5/6/2001 của Cục Hảiquan An Giang; Công văn số 247/HQCT-GQT ngày 17/5/2001 của Cục Hải quan tỉnh CầnThơ; một số điểm tại fax số 227 ngày 20/6/2001 của Cục Hải quan TP. Đà Nẵng;những vướng mắc khác trong phạm vi thẩm quyền của mình như vấn đề nêu tại Côngvăn số 1123/CHQTP-NV ngày 18/5/2001 của cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh và của mộtsố đơn vị khác, yêu cầu các đơn vị tự xem xét giải quyết.