BỘ CÔNG THƯƠNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 4267/BCT-KH
V/v báo cáo những vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm

Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2008

Kínhgửi: Các vị Đại biểu Quốc hội

Tại kỳ họp này, Bộ Công Thương đãnhận được chất vấn của 18 vị Đại biểu Quốc hội và 1đoàn Đại biểu Quốchội về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực công nghiệp và thương mại như tìnhhình nhập siêu năm 2008, tình hình cung ứng ngành điện mùa khô 2008, tình hìnhsử dụng vốn đầu tư của các tập đoàn Bộ Công Thương đã có văn bản trả lời kịpthời gửi tới các vị Đại biểu Quốc hội, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội có liênquan.

Thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chínhphủ, Bộ Công Thương xin phép được báo cáo với Quốc hội 3 nhóm vấn đề được cácvị Đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm là (1) bảo đảm cung cầu các mặthàng thiết yếu, (2) tình hình xuất nhập khẩu, nguyên nhân nhập siêu và các giảipháp hạn chế, (3) công tác quản lý thị trường.

1. Về bảo đảm cung cẩu các mặtbàng thiết yếu

Bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoálà tiền đề quyết định cho sự bình ổn của thị trường, tránh đột biến về giá vàngăn chặn đầu cơ, buôn lậu. Theo tính toán, nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế vềcác mặt hàng thiết yếu năm 2008 tăng khoảng 14% so với năm 2007. Với nguồn hàngsản xuất trong nước và được bù đắp phần còn thiếu bằng nhập khẩu như dự kiến kếhoạch là hoàn toàn đáp ứng đủ. Điều quan trọng là phải tháo gỡ khó khăn do giácủa một số hàng hoá thế giới và trong nước tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến sảnxuất và đời sống. Trong khi kiên trì chủ trương thực hiện giá theo cơ chế thịtrường, nhưng để ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, Chính phủ đã chủtrương chưa điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu, than, nước sinh hoạt, cước vậnchuyển máy bay, tàu hoả, xe buýt. Riêng về giá bán xăng dầu, trong trường hợpgiá dầu thế giới tăng đột biến, Chính phủ sẽ nghiên cứu phương án tổng thể,thích hợp, với tinh thần Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân cùng chia sẻ, gánhvác để vượt qua khó khăn, giữ ổn định và phát triển.

Trước những diễn biến phức tạp củathị trường thế giới, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể từng Bộ quản lý ngànhphải tập trung chỉ đạo và chịu trách nhiệm bảo đảm cung ứng đủ những mặt hàngthiết yếu trong mọi tình huống với giá cả hợp lý. Các Bộ cùng các Hiệphội ngành hàng và các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng thiết yếu, trước hếtlà các doanh nghiệp nhà nước phối hợp thực hiện đồng bộ các biện pháp, đẩy mạnhsản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn hàng và không để đầu cơ tăng giá. Chính phủcũng yêu cầu và kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân tiết kiệm tốiđa trong sản xuất, trong tiêu dùng để góp phần cùng cả nước kiềm chế lạm phát.

Sau đây là cân đối những mặt hàngthiết yếu năm 2008:

1.1 Lúa gạo

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, sản lượng lúa cả năm 2008 có khả năng đạt khoảng 35,9 -36 triệu tấn,trên cơ sở xác định sản lượng lúa Đông Xuân 2007-2008 của các tỉnh Đồng bằngsông Cửu Long là 9,6 triệu tấn (tăng 550 ngàn tấn so với vụ Đông Xuân2006-2007). Sau khi trừ khoảng 27,8 triệu tấn lúa cho tiêu dùng nội địa cònkhoảng 8,7 triệu tấn lúa dành cho xuất khẩu (tương đương 4,5 triệu tấn gạo).

Trong tình hình trên thị trường thếgiới, nguồn cung gạo vẫn thấp hơn nhu cầu khoảng 5 triệu tấn cộng thêm với tìnhhình mất mùa tại một số nước nên giá gạo thế giới tăng liên tục từ đầu năm đếnnay; theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đã cùng Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn phối hợp với Hiệp hội Lương thực điều hành xuất khẩu khoảng 3,5triệu tấn gạo đến hết quý III/08 (Quý 4 sẽ tuỳ tình hình thu hoạch vụ hè thu đểquyết định tiếp)

Ước 4 tháng đầu năm 2008, nước tađã xuất khẩu được 1,567 triệu tấn gạo, chi tăng 11,6% so với cùng kì về lượngnhưng đã tăng tới 72,6% về trị giá.

Tại thị trường trong nước, sau biếnđộng giá gạo những ngày cuối tháng 4/2008, đến nay giá gạo trên thị trường đãổn định dần. Hiện giá thóc gạo phổ biến ở mức như sau: (đ/kg)

Miền Bắc

Miền Nam

Thóc tẻ thường

Gạo tẻ thường

6.000 - 6.500

9.000 - 10.000

5.000 - 6.000

9.000 - 11.000

Dự báo giá lương thực còn tiếp tụcdiễn biến phức tạp và luôn ở mức cao. Mặc dù trong nước hoàn toàn đáp ứng đủnhu cầu chúng ta vẫn cần phải tăng cường quản lý nguồn hàng nhằm bảo đảm anninh lương thực, ổn định thị trường, không để xảy ra khan hiếm cục bộ, đặc biệtlà phải ngăn chặn bằng được tình trạng đầu cơ và thực hiện tốt việc điều hànhxuất khẩu để đạt được hiệu quả cao nhất có thể.

1.2. Thực phẩm

Dự kiến nguồn cung một số loại thựcphẩm năm 2008 như sau:

- Sản lượng thịt các loại khoảng4,2 triệu tấn.

- Sản lượng trứng khoảng 5,56 tỷquả.

Tổng lượng thức ăn tinh là 18 triệutấn. Sản lượng thức ăn công nghiệp dự kiến là 8,8 triệu tấn, tăng 14%. Để bảođảm sản lượng thức ăn cần nhập khẩu khô dầu các loại 2,2 - 2,4 triệu tấn; ngôhạt 650 -700 ngàn tấn; bột cá 150 - 200 ngàn tấn; thức ăn bổ sung 200 ngàn tấn.

Hiện nay, dịch bệnh trên gia súc,gia cầm diễn biển phức tạp, có chiều hướng lan rộng, đặc biệt dịch lợn tai xanhđã gây thiệt hại lớn đến chăn nuôi (tính đến ngày 27/4/2008 đã có 3 tỉnh códịch cúm gia cầm, 1tỉnh có dịch lở mồm long móng và 8 tỉnh có dịch bệnhtai xanh, tổng số lợn bị tiêu huỷ trên 230 ngàn con) đã ảnh hưởng tới việc khôiphục và phát triển chăn nuôi và nguồn cung thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùngtrong nước. Đồng thời lại xảy ra tình trạng xuất khẩu gia súc qua biên giới,nhất là các loại con giống. Do đó đòi hỏi chính quyền các địa phương tiếp tụccó những giải pháp tích cực, hiệu quả trong tuyên truyền, nắm bắt và xử lý tìnhhình để ngăn chặn, dập tắt các ổ dịch, hạn chế thấp nhất thiệt hại.

1.3. Đường

Dự báo nhu cầu đường năm 2008 là1.320 ngàn tấn. Sản lượng đường vụ 2007-2008 đạt khoảng 1.138ngàn tấn,cộng với khoảng 100 ngàn tấn đường thủ công và khoảng 58 ngàn tấn đường nhậptheo hạn ngạch thuế quan sẽ đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Trên thị trường thế giới, đường làmặt hàng cung lớn hơn cầu khoảng 9 triệu tấn nên dù giá dầu thô tăng ở mức caonhưng giá đường biến động không nhiều.

Trong nước giá đường tương đối ổnđịnh. Giá bán lẻ phô biến 8.000 – 10.000 đ/kg tùy loại.

1.4. Muối

Dự báo nhu cầu muối năm 2008 khoảng1.340 ngàn tấn. Theo báo cáo của Cục Chế biến, sản lượng muối cả nước luỹ kế từđầu vụ đến nay đạt khoảng 342 ngàn tấn (đạt 31% kế hoạch năm và tăng 171% sovới cùng kỳ năm trước). Giá thu mua muối phổ biến ở mức 900-1.000 đ/kg. Giá bánlẻ phổ biến 1.500 - 3.000 đ/kg. Dự báo sản lượng muối sản xuất trong nước là1,1triệu tấn, cộng với tồn kho và nhập khẩu khoảng 230 ngàn tấn sẽ đápứng đủ nhu cầu trong nước.

1.5. Phân bón

Dự báo nhu cầu phân bón các loạinăm 2008 là gần 8 triệu tấn. Năng lực sản xuất trong nước đáp ứng được gần 4,8triệu tấn, trong đó hoàn toàn đáp ứng nhu cầu các loại phân chứa lân, phân NPK;chủ yếu chỉ phải nhập khẩu phân đạm urê và phân DAP mà trong nước chưa sản xuấtđược hoặc sản xuất chưa đủ.

Qua 4 tháng đầu trong nước đã sảnxuất được khoáng 1.731ngàn tấn, nhập khẩu khoảng 1.583 ngàn tấn cácloại, tăng 40,8% về lượng nhưng tăng tới 156,7% về trị giá so với cùng kỳ nămngoái, trong đó riêng phân urê là 412 ngàn tấn, tăng 114,6% về lượng và tăng209,6% về trị giá.

Nguồn cung phân bón như trên là đápứng nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp. Riêng về giá phân bón từ đầu năm đến naytăng liên tục như phân urê: giá chào thị trường thế giới tháng 1là 370USD/T thì tháng 4 là 500 USD/tấn, giá nhập khẩu bình quân tháng 1là 300USD/T và tháng 4 là 420 USD/T, giá bán thị trường trong nước tháng 1là6.600 đ/kg và tháng 4 là 8.000 đ/kg

1.6. Thép

Nhu cầu tiêu dùng thép các loại năm2008 khoảng 12 triệu tấn, trong đó thép xây dựng là 5,350 triệu tấn; thép tấm,thép lá, thép chế tạo...khoảng 7 triệu tấn. Năng lực sản xuất trong nước vềthép xây dựng khoảng 6 triệu tấn, đủ đáp ứng nhu cầu, về thép tấm còn thấp vìcác dự án đang trong quá trình đầu tư. Sản xuất trong nước 4 tháng đạt khoảng1,384 triệu tấn; sản xuất phôi đạt 630 ngàn tấn. Nhập khẩu thép các loại 4tháng đầu năm là 3,3 triệu tấn, trong đó thép xây dựng là 288 ngàn tấn. Nhậpkhẩu phôi thép khoảng 1,326 triệu tấn.

Việc sử dụng sắt thép tăng do nhu cầuđầu tư tăng. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, các dự án đầutư cần được rà soát để đảm báo có hiệu quả, kiên quyết đình hoãn hoặc giãn tiếnđộ những dự án kém hiệu quả, nên Bộ Công Thương tiếp tục chỉ đạo theo dõi cácbiến động của thị trường để có sự điều tiết nhập khẩu một cách hiệu quả nhất.

1.7. Xi măng

Nhu cầu tiêu thụ xi măng năm 2008khoảng 40 - 41 triệu tấn. Trong 4 tháng đã sản xuất được khoảng 12,37 triệu tấn(tiêu thụ 12,12 triệu tấn). Nhập khẩu Clinker 4 tháng khoảng 1,358 triệu tấn(giá nhập bình quân là 39,03 USD/tấn, tăng 24,14% so với giá nhập bình quân năm2007).

Giá bán xi măng tại các nhà máy quíI/2008 tăng khoảng 20.000 - 30.000đ/tấn so với cuối năm 2007 và được giữ ổnđịnh cho đến nay. Nhưng trên thị trường, giá xi măng đã tăng ở mức cao hơn(tăng 5.000 - 11.000đ/bao 50 kg), hiện nay phổ biến ở mức giá 885.000-920.000đ/tấn (phía Bắc) và 1100 000-1140.000đ/tấn (phía Nam) đối với Xi măngPC40.

Đầu tháng 5/2008, tại thành phố HồChí Minh và một số tỉnh phía Nam có hiện tượng xi măng khan hiếm cục bộ và giábán đã tăng ở mức cao hơn. Trước tình hình này, Bộ Xây dựng đã kịp thời thànhlập đoàn đi kiểm tra và đã có các biện pháp cụ thể để đáp ứng đủ nhu cầu và giásẽ ổn định dần do nhiều nhà máy mới tiếp tục đi vào sản xuất. Tuy nhiên, do sảnlượng xi măng ởphía Bắc chiếm tỷ trọng lớn (70%) trong khi tiêu thụ ximăng ở phía Nam lại chiếm tỷ trọng lớn nên phải vận chuyển xi măng và clinkervào phía Nam. Vì vậy cần có kế hoạch cụ thể để bảo đảm việc vận chuyển này nhằmkhắc phục tình trạng thiếu hàng cục bộ theo thời điểm như vừa qua.

1.8. Xăng dầu

Đây là mặt hàng mà chúng ta phảinhập khẩu 100%. Theo kế hoạch năm 2008 nhu cầu nhập khẩu để đáp ứng tiêu dùnglà 14,5 triệu tấn xăng dầu các loại. Trong 4 tháng đầu năm, cả nước đã nhập5,249 triệu tấn đúng tiến độ, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của thị trường.

Do giá dầu thô và sản phẩm xăng dầu4 tháng đầu năm 2008 biến động phức tạp và luôn tăng ở mức cao (giá dầu thôtháng 12 năm 2007 là 91,22 USD/thùng thì tháng 5 năm 2008 là 126,27 USD/thùng,giá dầu Diesel tháng 12 năm 2007 là 638,18 USD/tấn thì tháng 5 năm 2008 là933,63 USD/tấn...) nên giá bán lẻ các loại xăng dầu trong nước đã được điềuchỉnh tăng từ ngày 25 tháng 2 năm 2008 lên mức khá cao và ổn định cho đến nay.Tuy vậy, do mức giá thế giới tăng cao như hiện nay nên kinh doanh xăng dầu gặprất nhiều khó khăn do bị lỗ nặng. Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Tài chính và BộCông Thương phối hợp xem xét có đề xuất phương án xử lý phù hợp.

1.9. Giấy

Nhu cầu tiêu dùng giấy năm 2008 khoảng2 triệu tấn các loại, trong đó giấy in, giấy viết khoảng 300 ngàn tấn; giấy inbáo khoảng 110 ngàn tấn. Để đáp ứng nhu cầu sẽ sản xuất trong nước khoảng 1,3triệu tấn, nhập khẩu khoảng 960 ngàn tấn giấy các loại và 150 ngàn tấn bộtgiấy. Qua 4 tháng đã sản xuất được 396 ngàn tấn giấy, nhập 35 ngàn tấn bột và361 ngàn tấn giấy các loại.

Giá nguyên liệu và sản phẩm giấytrên thị trường thế giới 4 tháng đần năm 2008 tăng dần và ở mức cao. Hiện giábột giấy gỗ mềm tẩy trắng sợi dài (NBSK) tại châu Âu là 891,89 USD/tấn, tăng20,73 USD/tấn so với đầu năm. Giá bột gỗ cứng tẩy trắng (BHKP) hiện là 823,27USD/tấn, tăng 23,27 USD/tấn so với tháng trước và 45,26 USD/tấn so với đầu năm.Mặc dù vậy, từ tháng 4/2008 giá các loại giấy trong nước mới được các doanh nghiệpđiều chỉnh tăng khoảng từ 2-5% tuy từng chủng loại. Bộ Công Thương đang tiếptục chỉ đạo các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và bình ổn giá để đáp ứng nhucầu.

1.10. Thuốc chữa bệnh

Trong 4 tháng qua có thể nói sảnxuất và nhập khẩu thuốc chữa bệnh đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước.Nhưng do biến động tăng của giá nguyên liệu và các chi phí nên giá một số loạithuốc có sự điều chỉnh tăng. Hiện nay có khoảng 20.000 mặt hàng thuốc lưu hànhtrên thị trường. Chi số giá Dược phẩm và dịch vụ y tế 4 tháng đầu năm tăng 2,7%.

2. Về tình hình xuất nhập khẩu,nguyên nhân nhập siêu và giải pháp hạn chế

Bước vào thực hiện nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội năm 2008 chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng đứngtrước nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ như cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm;chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; thể chếkinh tế thị trường chưa hoàn thiện, hội nhập kinh tế quốc tế chưa có nhiều kinhnghiệm; kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc; hạ tầng kinh tế - xã hội và nguồnnhân lực chưa đáp ửng kịp yêu cầu phát triển; khả năng hấp thụ vốn của nền kinhtế còn thấp... Mặt khác, từ những tháng cuối năm 2007 tình hình kinh tế thểgiới diễn biến rất phức tạp; giá dầu thô, giá lương thực và giá nguyên vậtliệu, máy móc thiết bị tăng cao tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô;giá tiêu dùng trong nước quý IV tăng rất mạnh, làm cho chỉ số giá tiêu dùng cảnăm 2007 tăng 12,63%; kim ngạch nhập khẩu cả năm tăng 39,6%, nhập siêu tăngcao, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu và gấp hơn 2,7 lần năm 2006.[1]

Trước tình hình đó, để thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 được Quốc hội thông qua, Chínhphủ đã tập trung sức chỉ đạo theo dõi sát tình hình, phát hiện và xử lý kịpthời những vấn đề phát sinh; đưa ra nhiều chính sách, biện pháp nhằm kiềm chếlạm phát; tăng cường quản lý thị trưởng, giá cả và ổn định thị trường tiền tệ,thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản; tháo gỡ khó khăn, vướng mắccho phát triển sản xuất, đầu tư; đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu và bảođảm cân đối các hàng hoá thiết yếu... Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầunăm 2008 tiếp tục đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, trong đỏ giá trịsản xuất công nghiệp tăng 16,4%, xuất khẩu tăng cao hơn cùng kỳ năm trước(27,6% so với 22%), nhưng nhập khẩu tăng quá cao so với 4 tháng đầu năm 2007(71% so với 33,6%), nhập siêu 4 tháng cao nhất trong nhiều năm qua.

Nhập khẩu tăng cao chủ yếu là do sốlượng nhập khẩu các nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu, thiết bị máy móc phục vụsản xuất và đầu tư tăng nhanh và phải chịu mặt bằng giá cao hơn nhiều so vớicùng kỳ (theo tính toán thì tác động do giá tăng chiếm 70% mức tăng nhập khẩu);tác động của việc cắt giảm thuế theo lộ trình WTO; nhưng nguyên nhân sâu xa làcơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và còn nhiều yếu kém, công nghiệp sản xuất tưliệu sản xuất và công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, tốc độ tăng xuất khẩu thấphơn tốc độ tăng nhập khẩu; hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu là gia công lắpráp(khoảng 70% nguyên liệu và linh kiện phải nhập khẩu) và hiệu quả đầutư thấp, còn nhiều lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng. Tỷ trọng các mặt hàngthuộc nhóm tiêu dùng chi chiếm tỷ trọng như (năm 2007 chiêm khoảng trên 3% tổngkim ngạch nhập khẩu)

Phân tích cơ cấu kim ngạch nhậpkhẩu trong 4 tháng đầu năm cho thấy các doanh nghiệp trong nước nhập 20,6 tỷUSD tăng 86%; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập 8,7 tỷ USD, tăng43,7%. Có nhiều mặt hàng đều tăng cả về số lượng và trị giá như sắt thép tăng100% về lượng và 143% về trị giá, phôi thép tăng 93% về lượng và 185,2% về trịgiá, phân bón tăng 40,8% về lượng và 156,6% về trị giá, xăng dầu tăng 8% vềlượng và 71% về trị giá... Tuy nhiên kim ngạch nhập khẩu tháng 4 bắt đầu có xuhướng giảm so với tháng 3 và phù hợp với dựbáo là 7,85 tỷ USD (giảm 220triệu USD, trong đó, riêng ôtô dưới 12 chỗ ngồi nhập khẩu đã giảm 44,7% so vớitháng 3). Đồng thời, cỏ thể thấy việc nhập khẩu của khối các doanh nghiệp FDI,cũng như việc nhập khẩu nguyên liệu để gia công hàng xuất khẩu cho đối tác nướcngoài, nhất là trong ngành dệt may, da giày (khoảng 7,5 USD để có kim ngạchxuất khẩu khoảng 14 tỷ USD) không làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán ngoạitệ của Chính phủ. Ngoài ra, việc nhập khẩu máy móc, trang thiết bị cho các dựán phải chấp nhận tăng trong giai đoạn đầu tư và sẽ được thu hồi dần thông quaviệc tiêu thụ sản phẩm khi dự án đi vào hoạt động, khi đó sẽ có tình hình ngượclại.

Để kiềm chế và giảm dần nhập siêu,góp phần kiềm chế lạm phát, thực hiện Chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương đãvà đang phối hợp với các Bộ, ngành chức năng có liên quan triển khai các nhómgiải pháp sau đây:

2.1. Tiếp tục đảy mạnh xuấtkhẩu

Đây là biện pháp vừa có tính cơ bảnlâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt để kiềm chế nhập siêu, sẽ tiến hànhđồng bộ theo 5 hướng

Một là, thực hiện các biệnpháp nâng cao chất lượng, tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu đối với các mặt hàngtruyền thống, các mặt hàng sản xuất do bị hạn chế về cơ cấu (diện tích, năngsuất, thời tiết...) không có điều kiện tăng nhiều về khối lượng, trong đó đặcbiệt chú ý đến các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản.

Hai là, tăng cường đầu tư mởrộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị, đẩy mạnh sản xuất và xuấtkhẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao, những mặt hàngcó đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như giảiquyết nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội như các sản phẩm chếbiến, công nghiệp chế biến: dệt may, giầy dép, đồ gỗ, linh kiện điện tử, sảnphẩm nhựa, dây cáp điện...

Ba là, đẩy mạnh xúc tiếnthương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu cácmặt hàng có tiềm năng, không bị hạn chế về khả năng sản xuất, sử dụng nhiềunguyên liệu trong nước như: hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm cao su, hàng thựcphẩm chế biến, hoá mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịch vụ phần mềm...

Bốn là, tập trung khai tháctheo chiều sâu đối với các thị trường xuất khẩu truyền thống, thị trường xuấtkhẩu trọng điểm đi đôi với việc phát triển các thị trường có chung đường biêngiới với Việt Nam thông qua việc xem xét điều chỉnh những quy định không phùhợp hạn chế xuất khẩu thời gian qua.

Năm là, rà soát và phát hiệncác mặt hàng có khả năng sản xuất và không hoặc chưa bị hạn chế về thị trườngnhư đồ nhựa các loại, sản phẩm cơ khí và va li, túi xách, mũ ô dù.

Bên cạnh đó cần xây dựng đề án đẩymạnh xúc tiến thu hút các tập đoàn kinh tế lớn ở nước ngoài vào Việt Nam đầu tưsản xuất hàng xuất khẩu; tăng thêm nguồn lực cho hoạt động xúc tiến; cho doanhnghiệp vay vốn thu mua nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanhxuất khẩu; áp dụng lãi suất vay hợp lý đối với hoạt động xuất khẩu; tiếp tụccải cách thủ tục hành chính trọng lĩnh vực hoàn thuế và thủ tục hải quan, tạothuận lợi tối đa cho xuất khẩu, nhất là đối với những mặt hàng nhập khẩu để sảnxuất hàng xuất khẩu như thuỷ sản, hạt điều...

Với việc thực hiện tốt các giảipháp trên, khả năng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 sẽ đạt được khoảng25% so với thực hiện năm 2007, cao hơn mục tiêu đầu năm đề ra (là 22%).

2.2. Thực hiện các giải phápgiảm nhập khẩu

Nhằm hạn chế nhập khẩu, giảm thâmhụt cán cân thương mại, cần tập trung thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Nghịquyết số 10/2008NQ-CP của Chính phủ ngày 17 tháng 4 năm 2008 về các biện phápkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởngbền vững. Cụ thể là:

- Đối với nhóm mặt hàng cần nhậpkhẩu và nhóm mặt hàng nhập khẩu cần kiểm soát: Đây là nhóm quan trọng, thiếtthực phục vụ cho sản xuất và đầu tư, nhưng vẫn phải tính đến khả năng giảm nhậpkhẩu hợp lý ở 2 nhóm này thông qua việc lập các đoàn kiểm tra liên ngành vềviệc sử dụng các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lởn như (sắt thép, phôi thép,máy móc...) để đề xuất các biện pháp giảm cầu và hạn chế nhập khẩu, thông quachính sách thuế và các biện pháp phi thuế, kiểm soát chặt chẽ hiệu quả các dựán đầu tư, nhất là các dự án đầu tư công; khuyến khích tiết kiệm trong sản xuấtvà tiêu dùng; điều hành chính sách tài khoá theo hướng tiết kiệm chi tiêuthường xuyên, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách; phấn đấu giảm tỷ lệthâm hụt ngân sách, triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất, xây dựng, tiêudùng; đẩy mạnh sản xuất, sử dụng hiệu quá nguyên liệu trong nước thay thế hàngnhập, nhất là tại các dự án, các công trình lớn...thì mới có khả năng giảm nhậpsiêu vì tỷ trọng khối này chiếm tới hơn 90% kim ngạch nhập khẩu.

- Đối với nhóm mặt hàng hạn chếnhập khẩu: Nhóm này chỉ chiếm khoảng 6-7% tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu nhưnglại là những mặt hàng nhạy cảm nên cần tăng cường quản lý chặt nhập khẩu, nhấtlà những mặt hàng tiêu dùng chưa thiết yếu. Để giảm nhập khẩu nhóm hàng này cóthể áp dựng các biện pháp như nâng thuế suất thuế nhập khẩu tới trần của khungthuế suất theo cam kết; nâng thuế tiêu thụ đặc biệt; nộp thuế nhập khẩu trướckhi nhận hàng; kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng và bảo lãnh cho vay nhậpkhẩu hàng trả chậm, đồng thời tăng cường tuyên truyền người dân triệt đê thựchành tiết kiệm, tích cực sử dụng hàng trong nước.

Với tất cả các biện pháp trên hyvọng sẽ kiềm chế được tình hình nhập siêu ở mức hợp lý (theo tính toán tại thờiđiểm giá dầu thô hiện nay dao động 110- 120 USD/thùng phấn đấu đưa tỷ lệ nhậpsiêu cả năm 2008 khoảng 30% so với 2007). Tuy nhiên vẫn cần nhấn mạnh thêmrằng, nếu giá cả thế giới tiếp tục tăng cao thì tỷ lệ nhập siêu có thể thay đổi.

3. Về công tác quản lý thị trường

Năm 2008 tình hình kinh tế thế giớicó những biến động khó lường bởi tác động suy giảm của nền kinh tế Mỹ và đã ảnhhưởng tới nên kinh tế nước ta. Trong những tháng đầu năm 2008, thị trường hànghoá và dịch vụ diễn biến khá phức tạp, do giá xăng đầu, giá vàng thế giới cùngmột số nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng cao; thời tiết không thuận lợi (rétđậm, rét hại dài ngày), dịch bệnh ở người, gia súc, gia cầm tái phát tại nhiềutỉnh, thành phố trong cả nước. Do vậy giá nhiều loại hàng hoá và dịch vụ đãtăng hơn cùng kỳ. Trước tình hình đó, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giảipháp đồng bộ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xãhội và phát triển bền vững, kết quả là chỉ số giá tiêu dùng sau 2 tháng đã cóxu hướng giảm dần (tháng 1tăng 2,38%, tháng 2tăng 3,56%, tháng3 tăng 2,99%, tháng 4 tăng 2,2%) và 4 tháng tăng 11,6% so với tháng 12/2007. Đâymới là kết quả bước đầu và tình hình vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Vì vậyChính phủ tiếp tục chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương không được lơ là, chủ quantrước những kết quả đã đạt được, phải tập trung theo dõi sát diễn biến của thịtrường và biến động giá, nhất là giá dầu trên thị trường thế giới, đảm bảo ổnđịnh cung cầu hàng hóa; quản lý, kiểm soát chặt chẽ nguồn hàng, chống đầu cơtăng giá, trục lợi đối với những mặt hàng thiết yếu...Thực hiện chỉ đạo củaChính phủ lực lượng Quản lý thị trường trên cả nước đã triển khai các công việc:

- Chủ động bằng mọi biện pháp nắmchắc tình hình cung cầu hàng hoá, lượng hàng dự trữ của các đơn vị kinh doanhđối với 10 mặt hàng thiết yếu: lương thực, xăng dầu, phân bón, thuốc chữa bệnh,sắt thép, xi măng, than, đường, giấy, muối.

- Tăng cường kiểm tra, kiểm soátviệc thực hiện các quy định của pháp luật về giá, niêm yết giá và bán theo giániêm yết; xử lý kịp thời các trường hợp lợi dụng tình hình khó khăn để đầu cơ,ép giá, găm hàng gây mất ổn định thị trường đối với các cơ sở kinh doanh bánlẻ, các chợ, cửa hàng, cửa hiệu, siêu thị, trung tâm thương mại.

- Kiểm tra việc thực hiện đo lườnghàng hoá (cân, đong, đóng gói hàng hoá), chất lượng hàng hoá, ghi nhãn hàng hoácủa các cơ sở sản xuất kinh doanh bán buôn, bán lẻ đề phát hiện các thủ đoạngian lận về giá hoặc lợi dụng đo lường, đóng gói để tăng giá.

- Kiểm tra các biểu hiện của hànhvi đầu cơ (mua vét hàng hoá), dự trữ hàng hoá quá mức; kinh doanh không đúngngành nghề, mặt hàng; bịa đặt loan tin không có cơ sở để tăng giả; kiểm tra cácbiểu hiện liên kết chiếm lĩnh vị trí độc quyền để tăng giá, ép giá...

- Phối hợp chặt chẽ với cơ quanQuản lý giá và các ngành chức năng của địa phương tổ chức các đoàn kiểm tra đốivới các đơn vị kinh doanh có quy mô lớn để xác định khung giá, mức giá, cơ cấugiá hợp lý đối với một số mặt hàng thiết yếu nêu trên.

Kết quả trong 4 tháng đầu năm 2008,lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra, xử lý 20.193 vụ vi phạm (trong đó có4.393 vụ buôn bán hàng lậu, hàng cấm; 4.826 vụ hàng giả, hàng kém chất lượng;7.716 vụ kinh doanh trái phép và 3.258 vụ vi phạm khác) với số thu 61,32 tỷđồng (trong đó phạt vi phạm hành chính 25,74 tỷ; trị giá hàng tịch thu là 32,97tỷ và truy thu thuế là 2,59 tỷ đồng).

Sau đây xin điểm một số hoạt độngchủ yếu

3.1. Công tác chống buôn lậu,vận chuyển và buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu:

Ngay từ thời điểm giáp Tết Nguyênđán, lực lượng Quản lý thị trường đã phối hợp với các ngành chức năng tập trungkiểm tra, ngăn chặn tình trạng buôn bán, vận chuyển và đốt pháo tại các địaphương như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An... lànhững địaphương có vùng biên. Trong nội địa, các Chi cục Quản lý thị trường đã tập trungphối hợp điều tra, nắm tình hình, tổ chức kiểm tra có trọng tâm, trọng điểmnhằm vào các loại hàng hóa thường được buôn lậu như vải, rượu, thuốc lá, tráicây, xăng dầu (xuất lậu), mỳ chính, linh kiện điện tử ở các tỉnh phía Nam,pháo, đồ chơi kích động bạo lực, gia súc, gia cầm, chăn điện, quạt sưởi, bánhkẹo, nông sản, gốm sứ, vải, mỹ phẩm, gạch ốp lát ởcác tỉnh phía Bắc vàmiền Trung nên đã ngăn chặn được nhiều vụ lớn, mặc dù các đốitượng buônlậu luôn sử dụng những phương thức, thủ đoạn tinh vi để tránh, trốn lực lượngQuản lý thị trường hoặc chống cự quyết liệt khi bị bắt giữ. Gần đây khi nổi lêntình trạng xuất lậu xăng dầu, lợn thịt và nhập lậu đường cát, xe đạp điện, giasúc, gia cầm qua biên giới, Bộ Công thương đã chi đạo cơ quan chức năng và lựclượng Quản lý thị trường phối hợp với chính quyền các địa phương xử lý, ngănchặn nên đã thu được kết quả bước đầu

3.2. Công tác chống sản xuất,buôn bán hàng giả, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống dịch:

Trong bối cảnh nhiều loại dịch bệnhnhư lở mồm long móng, lợn tai xanh, cúm gia cầm xảy ra ở nhiều địa phương, BộCông thương đã phối hợp chi đạo triển khai kế hoạch Tháng hành động vì chấtlượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2008 với chủ đề "Thực phẩm chức năng:hiểu đúng, làm đúng và dùng đúng" và thành lập Đoàn kiểm tra liên ngànhkiểm tra việc thực hiện tại các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hoà Bình; chỉ đạo lựclượng Quản lý thị trường tập trung kiểm tra việc chấp hành các quy định của Nhànước về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngừa ô nhiễm thực phẩm, thực hiện cácquy định về kiểm dịch thú y, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm gia cầm, gia súc,tiêu chuẩn vệ sinh thức ăn đường phố và phối hợp với các cơ quan Y tế, Đo lườngchất lượng, Công an, Thú y... xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Để ngăn chặn tệ làm hàng giả, hàngnhái ngày càng tinh vi, vi phạm bản quyền, sở hữu trí tuệ, nhất là các mặt hàngtiêu dùng, máy tính, băng đĩa, phần mềm... lực lượng Quản lý thị trường đã phốihợp với cơ quan chức năng tăng cường kiềm tra, kiểm soát ngăn chặn để bảo vệlợi ích hợp pháp của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Ở một số địa phương đã tổchức điều tra cơ bản theo ngành hàng; lập kế hoạch, chuyên đề cụ thể về hànggiả, phối hợp với các tổ chức sở hữu công nghiệp, bản quyền... tìm hiểu cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh để có kế hoạch, giải pháp hiệu quả trong phòng,chống.

3.3. Công tác kiểm tra giá,ổn định thị trường:

Đây là công tác quan trọng được BộCông Thương tập trung thường xuyên sự chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường cảnước tăng cường kiểm tra, kiểm soát về chống đầu cơ găm hàng, tạo nhu cầu ảogây mất ổn định thị trường, kiểm tra việc niêm yết giá và bán theo giá niêmyết, thực hiện quy chế ghi nhãn hàng hoá đối với các mặt hàng thiết yếu, có nhucầu cao như: sắt thép, xi măng, phân bón, rượu, bia, mỹ phẩm, thực phẩm, thuốclá ngoại... nhằm giữ vững và bình ồn thị trường, kiềm chế tốc độ tăng giá theochỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Trong 2 ngày cuối tháng 4 (26-27/4)khi phát hiện việc tăng giá gạo tại một số tỉnh, thành phố, dưới sự chỉ đạo kịpthời và kiên quyết của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã nhanh chóng chỉđạo lực lượng Quản lý thị trường cả nước phối hợp cùng cơ quan Công an kiểmtra, để nếu phát hiện hiện tượng đầu nậu đầu cơ, găm hàng, ép giá, sẽ có xử lýngay, đồng thời phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn điều độngtăng lượng gạo bán ra với giá ổn định và giữ như mức trước đó nên cơn sốt giáđã được khắc phục.

Đối với mặt hàng xăng dầu, Bộ Côngthương đã có Công điện khẩn chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra, giámsát bảo đảm ổn định thị trường tại thời điểm điều chỉnh giá bán xăng, dầu vàkiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện niêm yết giá và bán theo giá niêmyết tại các tổng đại lý, đại lý và các điểm kinh doanh xăng dầu.

Ngoài ra, lực lượng Quản lý thịtrường các tỉnh, thành phố còn phối hợp với lực lượng Thuế, Thanh tra Tàichính... kiểm tra việc chấp hành chế độ thuế, chế độ hóa đơn chứng từ ở nhiềuđơn vị kinh doanh, phát hiện, ngăn chặn tình trạng trốn lậu thuế do kê khaikhông đứng, không đầy đủ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chú trọng các lĩnhvực kinh doanh nhà hàng, dịch vụ ăn uống, khách sạn, vũ trường, thuốc tândược... Đã phát hiện và xử lý đối với các vi phạm như doanh nghiệp không hoạtđộng tại địa chỉ đã đăng ký; kinh doanh sai nội dung đăng ký; kinh doanh khôngcó giấy phép; kinh doanh đĩa CD không tem kiểm soát, sao chép phần mềm bất hợppháp...

Nhằm tăng cường hiệu quả của côngtác chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hàng giả, Bộ Công thương sẽ báo cáoChính phủ đề nghị Quốc hội nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các Điều 153, 155 củaLuật Hình sự theo hướng nâng cao khung hình phạt, điều chỉnh nội dung của tộidanh cho phù hợp hoàn cảnh mới.

Trên đây là báo cáo của Bộ Côngthương về những vấn đề được các vị Đại biểu Quốc hội và cử tri quan tâm.

Xin chân thành cám ơn sự chú ý củacác vị Đại biểu Quốc hội./.

Nơi nhận:
-Như trên;
-Đoàn Thư ký kỳ họp;
-Thủ tướng Chính phủ (để b/c);
-Văn phòng Quốc hội;
-Văn phòng Chính phủ;
-Lãnh đạo Bộ;
-Lưu: VP, Vụ KH

BỘ TRƯỞNG




Vũ Huy Hoàng

[1] Giá tiêu dùng quý IV năm 2007 tăng 5%.

Sốliệu báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 2: kim ngạch nhập khẩu năm 2007 ước đạt 57tỷ đô la Mỹ, tăng 27%. Nhập siêu 9 tỷ đô la Mỹ, tỉ lệ nhập siêu là 18,75%