1. Công văn 48764/CT-HTr chính sách thuế thu tiền sử dụng đất Hà Nội

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THU
TP HÀ NỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 48764/CT-HTr
V/v trả lời chính sách thuế

Hà Nội, ngày 22 tháng 07 năm 2016

Kính gửi:Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài chính

Cục thuế TPHà Nội nhận được Phiếu chuyển số 550/PC-TCT ngày 29/6/2016 của Tổng cục Thuế chuyển thư hỏi của độc giả trên Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài chính, trong đó có độc giả Phạm Văn Hiện tại Hà Nội (sau đây gọi là “Độc giả”) hỏi về chính sách thuế, Cục thuế TP Hà Nội có ý kiến như sau:

Căn cứ Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất:

+ Tại Khoản 4 Điều 14 quy định thời hạn nộp tiền sử dụng đất:

“a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Thông báo của cơ quan thuế, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo Thông báo.

b) Trong vòng 60 ngày tiếp theo, người sử dụng đất phải nộp 50% tiền sử dụng đất còn lại theo Thông báo.

c) Quá thời hạn quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản này, người sử dụng đất chưa nộp đủ s tiền sử dụng đất theo Thông báo thì phải nộp tiền chậm nộp đối với s tiền chưa nộp theo mức quy định của pháp luật về quản thuế trừ trường hợp có đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất đi với những trường hợp được ghi nợ.”

+ Tại Khoản 3 Điều 17 quy định trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc xác định và tổ chức thu tiền sử dụng đất:

“a) Xác định số tiền sử dụng đất phải nộp, số tiền sử dụng đất được miễn hoặc giảm theo quy định tại Nghị định này và thông báo cho người sử dụng đất đúng thời hạn.

b) Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, giải đáp thắc mắc, giải quyết khiếu nại về thu, nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.”

Căn cứ các quy định nêu trên, Cục thuế TP Hà Nội hướng dẫn Độc gi nguyên tắc như sau:

- Trường hợp Độc giả nhận được Thông báo nộp tiền sử dụng đất của cơ quan thuế thì Độc giả phải nộp 50% tiền sử dụng đất trong thi hạn 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế ký Thông báo.

- Trường hợp Độc giả nhận được Thông báo vào ngày thứ 28, 29 hoặc sau 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế ký Thông báo dẫn đến việc Độc giả nộp số tiền sử dụng đất quá thời hạn quy định và phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp thì đề nghị Độc giả cung cấp cụ thể cơ quan thuế gửi Thông báo dẫnđến việc chậm nộp tiền sử dụng đất để Cục thuế TP Hà Nội kiểm tra và xử lý kịp thời hoặc Độc giả liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn, giải đáp cụ thể.

Cục thuế TP Hà Nội trả lời để Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài chính được biết và hướng dẫn độc giả thực hiện.


Nơi nhận:
- Như trên;
-
Tổng cục Thuế (để báo cáo);
- Phòng Pháp Chế;

-Lưu: VT,HTr(2).

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG




Mai Sơn

2. Công văn 3644/TCT-CS giải đáp vướng mắc chính sách thu tiền sử dụng đất 2014

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3644/TCT-CS
V/v giải đáp vướng mắc về chính sách thu tiền sử dụng đất.

Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2014

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Long An.

Trả lời công văn số 954/CT-QLĐ ngày 8/7/2014 của Cục Thuế tỉnh Long An về gia hạn nộp tiền sử dụng đất theo Thông tư số 48/2014/TT-BTC Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại Thông tư số 48/2014/TT-BTC ngày 22/4/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc gia hạn nộp tiền sử dụng đất, tiền mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 quy định:

+ Tại Khoản 1, Điều 1 quy định đối tượng áp dụng:

“1. Các chủ đầu tư dự án bất động sản được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà chủ đầu tư đã được bàn giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê, cho thuê mua; dự án đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; dự án đầu tư xây dựng công trình có nhiều mục đích sử dụng khác nhau trong đó có mục đích xây dựng nhà để bán, cho thuê, cho thuê mua theo quy định của pháp luật về kinh doanh bất động sản chưa nộp tiền sử dụng đất thì được gia hạn nộp tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 01/NQ-CP nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư này.”

+ Tại Điều 2 quy định phạm vi điều chỉnh:

“Dự án bất động sản được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với trường hợp không có thông báo của cơ quan thuế) ra thông báo lần đầu về nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014.”

+ Tại Điều 3 quy định thời gian được gia hạn:

“Trường hợp chủ đầu tư dự án thuộc đối tượng, phạm vi quy định tại Điều 1, Điều 2 và đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư này thì được xem xét gia hạn nộp tiền sử dụng đất trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ ngày phải nộp tiền sử dụng đất theo thông báo lần đầu của cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với trường hợp không có thông báo của cơ quan thuế) theo quy định của pháp luật và không bị tính tiền chậm nộp trong thời gian này.”

+ Tại Điều 4 quy định

“Chủ đầu tư dự án quy định tại Điều 1 Thông tư này được gia hạn nộp tiền sử dụng đất đối với dự án bất động sản theo Nghị quyết số 01/NQ-CP nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

1. Chưa được gia hạn nộp tiền sử dụng đất theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ hoặc Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ.

2. Kết quả tài chính của dự án tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013 là lỗ hoặc có giá trị hàng tồn kho của dự án lớn hoặc doanh nghiệp đã phát sinh chi phí đầu tư của dự án lớn nhưng chưa có doanh thu do chưa bán được hàng.”

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp Công ty cổ phần khai thác và Quản lý khu công nghiệp Đặng Huỳnh và Công ty TNHH Hải Sơn nếu thỏa mãn điều kiện như quy định tại Điều 4 thì thuộc đối tượng được gia hạn nộp tiền sử dụng đất tối đa 24 tháng theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 48/2014/TT-BTC nêu trên kể từ ngày đơn vị phải nộp tiền sử dụng đất theo thông báo lần đầu của cơ quan thuế, quá thời hạn này mới bị phạt chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, Tổng cục Thuế thống nhất với ý kiến đề xuất của Cục Thuế tỉnh Long An nếu Công ty cổ phần khai thác và Quản lý khu công nghiệp Đặng Huỳnh và Công ty TNHH Hải Sơn được gia hạn tiền sử dụng đất thì không bị xử phạt chậm nộp trong thời gian được gia hạn kể từ ngày có thông báo lần đầu của cơ quan thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Long An được biết./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ Pháp chế, Vụ CST (BTC);
- Cục QLCS;
- Vụ PC-TCT;
- Lưu: VT, CS (3b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn

3. Công văn 3724/TCT-CS 2014 chính sách thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3724/TCT-CS
V/v chính sách thu tiền sử dụng đất.

Hà Nội, ngày 03 tháng 09 năm 2014

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Cao Bằng.

Trả lời Công văn số 317/CT-THNVDT ngày 10/06/2014 của Cục Thuế tỉnh Cao Bằng về việc chính sách thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Tại Khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội quy định:

“29. Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

- Tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định:

“2. Giảm 50% tiền sử dụng đất trong hạn mức đất ở đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ nghèo tại các địa bàn không thuộc phạm vi tại khoản 8 Điều 12 Nghị định này khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai quyết định giao đất; công nhận (cấp giấy chứng nhận) quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng đất không phải là đất ở sang đất ở. Việc xác định hộ nghèo theo quy định của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội”

- Tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định thu tiền sử dụng đất quy định:

“1. Giảm 50% tiền sử dụng đất trong hạn mức đất ở đối với hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các địa bàn không thuộc phạm vi tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định này khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất; công nhận (cấp Giấy chứng nhận) quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở.

Việc xác định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ”.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp trong hộ gia đình có vợ (hoặc chồng) là người dân tộc thiểu số được xác định là hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số và có hộ khẩu thường trú tại địa bàn không thuộc tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định thì thuộc đối tượng được giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP (Nay là Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ) khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, công nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với đất đang sử dụng hoặc khi được chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích sử dụng đất ở.

Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Cao Bằng được biết./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC, Vụ CST (BTC);
- Cục QLCS;
- Vụ PC (TCT);
- Lưu: VT, CS (3b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn

4. Công văn 6719/VPCP-KTN năm 2008 thu tiền sử dụng đất bồi thường thu hồi đất

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 6719/VPCP-QHQT
V/v thu tiền sử dụng đất và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đối với đất được giao không đúng thẩm quyền

Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2008

Kính gửi:

- Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa;
- Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Bộ Tài chính.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (công văn số 2207/UBND ngày 16 tháng 4 năm 2008), ý kiến của các Bộ: Tài chính (công văn số 6289/BTC-QLCS ngày 30 tháng 5 năm 2008), Tài nguyên và Môi trường (công văn số 3801/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 01 tháng 10 năm 2008) về việc thu tiền sử dụng đất vàbồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất đối với đất được giaokhông đúng thẩm quyền, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có ý kiến như sau:

1. Đồng ý về đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và ýkiến của Bộ Tài chính tại các công văn nêu trên.

2. Giao Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, bổ sung đềnghị trên của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổsung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Ủy ban nhân dân tỉnhKhánh Hòa, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các cơ quan liên quan biết, thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Thủ tướng, PTT Hoàng Trung Hải;
- VPCP: BTCN, PCN Văn Trọng Lý,
Các Vụ: KTTH, TH, TTĐT;
- Lưu: VT, KTN (4) Th.16

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM




Văn Trọng Lý

5. Công văn 4982/TCT-CS thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 4982/TCT-CS
V/v thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2008

Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bình Thuận

Trả lời Công văn số 1498/CT-THNVDT ngày 29/7/2008 của CụcThuế tỉnh Bình Thuận hỏi về thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến nhưsau:

- Tại khoản 1, Điều 4 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồithường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại vềđất đai, quy định: "1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đã được cơquan nhà nước có thẩm quyền giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đấtthì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểmcó quyết định giao đất hoặc cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đấtkhông đúng với thời điểm ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất thì nghĩavụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giaođất thực tế.

- Tại điểm 1, mục III, Phần D Thông tư số 117/2004/TT-BTCngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất thì: "1- Các trườnghợp đã nộp đủ tiền sử dụng đất theo quy định trước ngày Nghị định số198/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành mà nay mới cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất thì vẫn áp dụng thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật trướcngày Nghị định số 198/2004/NĐ-CP có hiệu lực. Trường hợp đã được giao đất nhưngchưa nộp tiền sử dụng đất thì nay nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Nghịđịnh Số 198/2004/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư này".

- Tại điểm 1 Công văn số 723/TC-TCT ngày 19/01/2005 của BộTài chính về việc giải quyết các hồ sơ về nhà, đất tiếp nhận trước ngày01/01/2005 hướng dẫn: "1. Tất cả các trường hợp đã hoàn chỉnh hồ sơ kêkhai nộp các khoản thu liên quan đến nhà, đất mà cơ quan thuế đã tính và rathông báo nộp tiền theo đúng quy định tại thời điểm thông báo nộp tiền thì tiếptục thu theo số tiền ghi trên thông báo nộp tiền. Trường hợp người sử dụng đấtchậm nộp tiền so với ngày đã ghi trên thông báo thì xử phạt chậm nộp theo quyđịnh của pháp luật tại thời điểm ra thông báo (không phải tính lại số phải nộptheo chính sách thu và giá đất hiện hành."

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp cơ sở kinh doanh đượccơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất sau ngày 01/7/2004 và đãđược cơ quan thẩm quyền xác định tiền sử dụng đất phải nộp theo chính sách vàgiá đất quy định tại thời điểm quyết định hoặc bàn giao đất thực tế trước ngày01/01/2005. Cơ sở kinh doanh nộp một phần tiền sử dụng đất vào tháng 10 năm2004, đến tháng 9 năm 2006 mới nộp số tiền sử dụng đất còn lại thì tuỳ theotính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt chậm nộp tiền sử dụng đất đã thông báonhưng chậm nộp, không xác định lại tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đãnộp tiền sử dụng đất vào năm 2006.

Đề nghị Cục Thuế căn cứ quyết định giao đất và hồ sơ bàngiao đất thực tế để giải quyết thu tiền sử dụng đất theo quy định.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết./.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

6. Công văn 307/TCT-CS của Tổng cục Thuế về việc vướng mắc về chính sách thu tiền sử dụng đất

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
---------------------
Số: 307/TCT-CS
V/v: Vướng mắc về chính sách thu tiền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------------------
Hà Nội, ngày 24 tháng 01 năm 2011
Kính gửi: Cục thế tỉnh Long An
Trả lời Công văn số 1592/CT-THNVDT ngày 15/12/2010 của Cục thế tỉnh Long An về giá thu tiền sử dụng đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại khoản 1, Điều 11 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quy định:
“Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu thầu quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, cho thuê đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và trường hợp doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp”.
- Tại điểm 1, mục II Phần B Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định:
“II- Thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất
1- Khoản 1 quy định đối với tổ chức kinh tế; khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được giao đất không thu tiền sử dụng đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất thì thu đủ tiền sử dụng đất theo giá đất của mục đích sử dụng mới. Trường hợp đất được chuyển mục đích sử dụng có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng hoặc khi được giao đất phải bồi thường, hỗ trợ về đất cho người có đất bị thu hồi, thì thu tiền sử dụng đất theo chênh lệch giá giữa giá đất theo mục đích sử dụng mới với giá đất theo mục đích sử dụng trước đó tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng”.
- Ngày 06/08/2010 Bộ Tài chính có Công văn số 10285/BTC-QLCS về thời điểm xác định giá đất nhận chuyển nhượng khi chuyển mục đích sử dụng đất hướng dẫn:
“Giá đất để tính thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất là giá đất tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất; trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp”.
Do vậy, giá đất theo mục đích sử dụng mới và giá đất theo mục đích sử dụng trước đó là giá đất tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất; trường hợp giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất tính thu tiền sử dụng đất (giá đất theo mục đích sử dụng trước đó và giá đất theo mục đích sử dụng mới) theo quy định.
Việc xác định giá đất, các phương pháp xác định giá đất thị trường để tính thu tiền sử dụng đất theo quy định hiện hành của chính sách về giá đất, phương pháp xác định giá đất (Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/07/2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 6/12/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế được biết.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục QLCS; Vụ Chính sách thuế;
- Vụ Pháp chế; Vụ Pháp chế-TCT;
- Lưu: VT, CS (3b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Vũ Thị Mai

7. Công văn 5091/TCT/NV7 của Tổng cục Thuế về việc chính sách thu tiền sử dụng đất

Công văn

CÔNG VĂN

CỦA TỔNGCỤC THUẾ SỐ 5091 TCT/NV7 NGÀY 17 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ VIỆC CHÍNH SÁCH THU TIỀNSỬ DỤNG ĐẤT

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Tiền Giang

Trả lời Công văn số 241/CT-VP ngày 02/11/2001 của Cục thuế tỉnh Tiền Giang, nêu vướng mắc về chínhsách thu tiền sử dụng đất; Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

Tại điểm 1.3, mục II, phần B, Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định: "... Trườnghợp nhận chuyển nhượng là đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôitrồng thuỷ sản, đất làm muối, khi được phép chuyển sang làm đất ở thì phải nộptiền sử dụng đất nhưng được trừ số tiền sử dụng đất trả cho người chuyển nhượngquyền sử dụng đất, nếu tiền đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đượctrừ tối đa bằng giá đất của các loại đất khi nhận chuyển nhượng, không bao gồmgiá trị tài sản trên đất)".

Quy định trên đây được thực hiện đối với cả trường hợp quyđịnh tại khoản 12, Điều 1, Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 của Chínhphủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày11/02/2000 về thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai:"Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâmnghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối mà tiền nhận chuyển nhượng đókhông có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, khi được cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho phép chuyển sang sử dụng vào mục đích chuyên dùng thì không phảichuyển sang thuê đất những phải nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất theo quyđịnh của pháp luật".

Tổng cục thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Tiền Giang biết vàthực hiện.

8. Công văn 2244/TCT-TS thu tiền sử dụng đất trường hợp ông Võ Quý Hùng

BỘ TÀI CHÍNH******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 2244/TCT-TS
v/v: thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 14 tháng 07 năm 2005

Kính gửi : Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trả lời công văn số 1746 CT/TH&ĐT ngày31/5/2005 của Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc thu tiền sử dụng đất đốivới trường hợp ông Võ Quý Hùng, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ tiết a, khoản 4, Điều 3 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì hộ giađình, cá nhân đang sử dụng đất, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấttrong trường hợp đất đã sử dụng ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn xác nhận không có tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản1, 2, 3 và 4 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 thuộc đối tượng không phải nộptiền sử dụng đất.

Đối với diện tích của ông Võ Quý Hùng, theo nhưbáo cáo của Cục thuế: Diện tích đất 81,6m2 mà ông Võ Quý Hùng đang sử dụng,ngày 20/5/2004 ông đề nghị diện tích đất này được ghi nhận vào giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cùng với diện tích nhà đất liền kề 276m2 mà ông đã được muahóa giá năm 1991. Qua đề nghị của ông Hùng, ngày 19/11/2004 UBND thành phố VũngTàu đã ra quyết định giao đất đối với diện tích đất 81,6m2 và ông đã kê khaivới Chi cục Thuế thành phố Vũng Tàu và nộp tiền sử dụng đất vào ngân sách nhànước ngày 24/12/2004, số tiền là 35.642.000 đồng. Ngày 12/4/2005 ông Hùng làmđơn đề nghị hoàn trả lại số tiền sử dụng đất 35.642.000 đồng đã nộp vì diệntích đất 81,6m2 là được sử dụng từ năm 1991, không có tranh chấp (việc này đượcUBND phường xác nhận ngày 25/5/2005).

Đề nghị Cục thuế lấy ý kiến của Sở Tài nguyên vàMôi trường bằng văn bản về diện tích đất 81,6m2 mà ông Võ Quý Hùng đang sửdụng, nếu khẳng định đất này thuộc diện quy định tại Khoản 1, 2, 3 hoặc Khoản4, Điều 50 Luật đất đai năm 2003 thì Cục thuế xác định lại là không thu tiền sửdụng đất đối với ông Hùng và thực hiện hoàn trả lại tiền sử dụng đất(35.642.000 đồng) đã nộp ngân sách nhà nước cho ông Hùng.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Bà Rịa– Vũng Tàu biết và thực hiện.

Nơi nhận:
- Như trên
- Lưu VT, TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

9. Công văn 2888/TCT-TS thu tiền sử dụng đất đất ở do cơ sở tôn giáo cho hộ gia đình mượn, ở nhờ

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 2888/TCT-TS
V/v: Trả lời chính sách thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 14 tháng 08 năm 2006

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bình Dương

Trả lời Công văn số 4114/CT-THDT ngày 23/6/2006 của Cục thuế tỉnh Bình Dương hỏi về việc thu tiền sử dụng đất đối với đất ở do cơ sở tôn giáo cho hộ gia đình mượn, ở nhờ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Theo khoản 7, điều 33, Luật Đất đai năm 2003 quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau: "… cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại điều 99 của Luật này".

Căn cứ quy định trên việc xử lý thu tiền sử dụng đất đối với đất ở do cơ sở tôn giáo cho hộ gia đình mượn, ở nhờ thực hiện theo nguyên tắc sau:

- Trường hợp đất của các cơ sở tôn giáo cho hộ gia đình mượn, ở nhờ mà đất này hiện nay theo hồ sơ quản lý đất đai của các cơ quan Nhà nước vẫn thuộc đất của các cơ sở tôn giáo quản lý thì không thu tiền sử dụng đất.

- Trường hợp nếu đất của các cơ sở tôn giáo cho hộ gia đình mượn, ở nhờ; Nay đất ở này được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy hoạch lại thành đất ở, khu dân cư và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở thì thực hiện thu tiền sử dụng đất theo quy định.

Để xử lý cụ thể trường hợp Cục thuế nêu, đề nghị Cục thuế tỉnh Bình Dương liên hệ với Sở Tài nguyên và Môi trường để kiểm tra xác định rõ hồ sơ nguồn gốc đất nêu trên để thực hiện chính sách thu tiền sử dụng đất theo đúng quy định của Pháp luật./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Sở Tài nguyên MT tỉnh Bình Dương;
- Lưu: VT, TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

10. Công văn 1316/TCT-TS chính sách thu tiền sử dụng đất

TỔNG CỤC THUẾ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 1316/TCT-TS
V/v: Chính sách thu tiền sử dụng đất

Hà Nội, ngày 11 tháng 04 năm 2006

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Cần Thơ

Trả lời công văn số 63/CT-TTr ngày 20/3/2006 của Cục thuế tỉnh Cần Thơ về việc giải quyết Đơn Khiếu nại ngày 16/02/2006 của ông Phan Thanh Thao, cư ngụ tại số nhà 29C/5, đường Bùi Hữu Nghĩa, Khu vực III, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ khiếu nại việc cơ quan Thuế địa phương thực hiện chính sách thu tiền sử dụng đất đối với gia đình ông không đúng quy định của pháp luật, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

- Tại Khoản 3, Điều 87, Luật Đất đai năm 2003 quy định xác định diện tích đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao như sau:

"Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó".

- Tại Tiết b, Khoản 1, Điều 45, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình, cá nhân, trong đó có việc xác định diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành như sau:

"b/ Trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn, ao sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 87 của Luật Đất đai; khoản 2, 3 Điều 80 của Nghị định này; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp đất ở có vườn của ông Phan Thanh Thao được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01170/QSDĐ ngày 20/01/2003 trước ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 có hiệu lực thi hành thì diện tích đất ở có vườn là diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp; khi ông Thao có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở thì diện tích đất ở của ông Thao được xác định lại theo quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 87 Luật Đất đai và ông Thao không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tổng cục Thuế đề nghị Cục thuế thành phố Cần Thơ phối hợp với các ngành có liên quan ở địa phương kiểm tra kỹ hồ sơ kèm theo Đơn khiếu nại của ông Thao để thực hiện chính sách thu tiền sử dụng đất đối với ông Thao theo đúng quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Chi cục thuế Bình Thủy;
- Lưu: VT, TS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương