1. Công văn 552/TCT-PCCS đề nghị xem xét lại việc xử phạt hành vi làm mất hóa đơn thu phí bảo hiểm nhân thọ

 

TỔNG CỤC THUẾ

******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Số: 552/TCT-PCCS
V/v: Xử phạt đối với hành vi làm mất hóa đơn thu phí bảo hiểm

Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2006

Kính gửi:

Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Đ/c: Tầng 6, Tòa nhà OCEAN PARK

Trả lời công văn số 63/BVNT /TCKT-2006 ngày 13/10/2006 của Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam về đề nghị xem xét lại việc xử phạt đối với hành vi làm mất hóa đơn thu phí bảo hiểm nhân thọ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Việc xử phạt đối với hành vi làm mất hóa đơn đã được quy định tại Điều 16 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn. Đề nghị Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam thực hiện đúng quy định.

Về kiến nghị của Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam về việc không xử phạt đối với hành vi làm mất hóa đơn thu phí bảo hiểm nhân thọ, Tổng cục Thuế ghi nhận để nghiên cứu sửa đổi.

Tổng cục Thuế thông báo để Bảo hiểm nhân thọ biết và thực hiện./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, PCCS (3b).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

2. Công văn 2376/TCT-CS của Tổng cục Thuế về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp mất hóa đơn

 

 

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------
Số: 2376/TCT-CS
V/v: Xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp mất hóa đơn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Hà Nội, ngày 24 tháng 6 năm 2014
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lời công văn số 2818/CT-PC ngày 21/4/2014 của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh về xử phạt hành chính đối với trường hợp mất hoá đơn, Tổng cục Thuế có ý bến như sau:
Tại khoản 4 Điều 38 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 9/11/2013:
"Điều 38. Hành vi vi phạm quy định về sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ:
4. Phạt tiên từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi :
a) Làm mất, cháy, hỏng hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập hoặc hóa đơn đã lập (liên giao cho khách hàng) nhưng khách hàng chưa nhận được hóa đơn, trừ trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do thiên tai, hỏa hoạn. Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn, trừ liên giao cho khách hàng, trong thời gian lưu trữ thì xử phạt theo pháp luật về kế toán.
Trường hợp người bán tìm lại được hóa đơn đã mất (liên giao cho khách hàng) khi cơ quan thuế chưa ban hành quyết định xử phạt thì người bán không bị phạt tiền".
Tại điểm a khoản 4 Điều 11 Thông tư số 10/2014/TT-BTC ngày 17/1/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn :
"4. Phạt tiền 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
a) Làm mất, cháy, hỏng hoá đơn đã phát hành nhưng chưa lập hoặc hoá đơn đã lập (liên giao cho khách hàng) nhưng khách hàng chưa nhận được hoá đơn khi hoá đơn chưa đến thời gian lưu trữ, trừ trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn do thiên tai, hỏa hoạn. Trường hợp mất, cháy, hỏng hoá đơn, trừ liên giao cho khách hàng, trong thời gian lưu trữ thì xử phạt theo pháp luật về kế toán.
Trường hợp người bán tìm lại được hoá đơn đã mất (liên giao cho khách hàng) khi cơ quan thuế chưa ban hành quyết định xử phạt thì người bán không bị phạt tiền.
Trường hợp người bán làm mất, cháy, hỏng các liên hoá đơn đã lập sai và đã xoá bỏ (người ban đã lập hoá đơn khác thay thế cho các hoá đơn đã lập sai và đã xoá bỏ) thì người bán bị phạt cảnh cáo.
Trường hợp trong cùng một thời điểm, tổ chức, cá nhân thông báo mất nhiều số hoá đơn cho cơ quan thuế nhưng cơ quan thuế đủ căn cứ xác định tổ chức, cá nhân gộp nhiều lần mất hoá đơn để báo cáo cơ quan thuế thì xử phạt theo từng lần mất hoá đơn.
Trường hợp mất, cháy, hỏng hoá đơn đã lập (liên giao cho khách hàng) có liên quan đến bên thứ ba, bên thứ ba do người bán thuê thì xử phạt người ban theo quy định tại điểm này".
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp người bán tìm lại hoá đơn đã mất (liên giao cho khách hàng) khi đã có quyết định xử phạt thì cơ quan thuế không thu hồi quyết định xử phạt.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh biết./

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC - BTC;
- Vụ PC - TCT;
- Lưu: VT, CS (2b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Cao Anh Tuấn

3. Công văn 4518/TCT-PCCS Bị mất hóa đơn do hỏa hoạn

 

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ

******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Số: 4518/TCT-PCCS
V/v: Bị mất hóa đơn do hỏa hoạn

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2006

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bắc Ninh

Trả lời công văn số 1281/CT-AC ngày 18/10/2006 của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh về việc bị mất hóa đơn bán hàng liên 1, liên 3 đã sử dụng do hỏa hoạn; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Trường hợp hộ kinh doanh bị mất hóa đơn bán hàng liên 1, liên 3 đã sử dụng do hỏa hoạn, có xác nhận của UBND thị trấn sở tại, toàn bộ số thuế phát sinh của các hóa đơn này đã được nộp đầy đủ thì cơ quan thuế không xử phạt vi phạm hành chính do nguyên nhân khách quan theo quy định tại khoản 6, Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế biết và thực hiện./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ Pháp chế;
- Lưu: VT, PCCS.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương

4. Công văn 1267/TCT-CS của Tổng cục Thuế về việc xử phạt vi phạm hành chính về mất hóa đơn

 

 

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
---------------------
Số: 1267/TCT-CS
V/v: xử phạt vi phạm hành chính về mất hóa đơn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------------
Hà Nội, ngày 13 tháng 04 năm 2011
Kính gửi: Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 69/CT-KTT ngày 01/3/2011 của Cục Thuế tỉnh Cao Bằng, công văn số 959/CT-HCQTTVAC ngày 4/3/2011 của Cục Thuế tỉnh Nam Định và công văn số 3706/CT-KTNB ngày 17/3/2011 của Cục Thuế thành phố Hà Nội về việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điều 79 và Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
“Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật
1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước.
2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:
a) Quy định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;
b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.”
“Điều 83. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.
Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.
2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.”
Tại khoản 2, Điều 25 và khoản 6 Điều 33, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định:
“2. Sau khi lập biên bản tổ chức, cá nhân có hóa đơn bị mất, cháy, hỏng phải có đơn khai báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Thời hạn khai báo là ngày sau ngày biên bản được lập xong, nhưng chậm nhất không quá 05 (năm) ngày, kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hóa đơn”
“6. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với các hành vi:
a) Lập hóa đơn có sai lệch nội dung giữa các liên;
b) không báo cáo việc mất hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập, hoặc hóa đơn đã lập nhưng chưa giao cho khách hàng.”
Tại khoản 2, Điều 33, Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (có hiệu lực từ ngày 01/01/2011) quy định:
“2. Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh thực hiện kiểm kê để xác định hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành đã mua hoặc hóa đơn do doanh nghiệp đã tự in theo quy định tại Thông tư số 120/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 89/2002/NĐ-CP còn chưa sử dụng.
Trường hợp tổ chức, hộ, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì đăng ký hóa đơn tiếp tục sử dụng với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (mẫu số 3.12 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) để được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31/03/2011. Thời hạn gửi đăng ký chậm nhất là ngày 20/01/2011.”
Căn cứ quy định nêu trên, kể từ ngày 01/01/2011 khi Nghị định số 51/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì hành vi làm mất hóa đơn 3 liên đã phát hành nhưng chưa lập mà không báo cáo việc mất hóa đơn cho cơ quan thuế quản lý thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 25.000.000 theo quy định tại điểm a, khoản 6 Điều 33 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP.
Về xử phạt đối với hành vi làm mất hóa đơn tự in (đặt in) hoặc mua của cơ quan thuế trước năm 2011, đề nghị Cục Thuế căn cứ vào tình hình cụ thể để xử lý như sau:
- Trường hợp hóa đơn mất trước ngày 1/1/2011 (không có trong danh sách hóa đơn đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo mẫu số 3.12 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC để được tiếp tục sử dụng sau 31/12/2010) nhưng đến sau ngày 1/1/2011 mới báo cáo mất thì căn cứ vào mức xử phạt đối với hành vi mất hóa đơn tính theo quy định tại Điều 16, Nghị định số 89/2002/NĐ-CP và mức xử phạt tính theo Điều 33, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, chọn mức phạt nhẹ hơn trong hai cách tính nêu trên để áp dụng.
- Trường hợp mất hóa đơn sau ngày 1/1/2011 (hóa đơn có trong danh sách đăng ký với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo mẫu số 3.12 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư số 153/2010/TT-BTC để được tiếp tục sử dụng tiếp sau ngày 1/1/2011) nếu có báo cáo mất các số hóa đơn nêu trên với cơ quan thuế trong thời hạn không quá 05 (năm) ngày kể từ ngày xảy ra việc mất các số hóa đơn thì không bị xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn. Quá thời hạn quy định về việc thông báo mất hóa đơn nêu trên, đơn vị làm mất hóa đơn mới thực hiện báo cáo mất hóa đơn cho cơ quan thuế thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 6, Điều 33 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP.
Tổng cục Thuế trả lời Cục Thuế được biết và căn cứ vào tình hình thực tế để giải quyết cụ thể./.

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Vụ PC (BTC);
- Các Vụ, đơn vị của TCT;
- Lưu: VT, CS (6b).
KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Bùi Văn Nam

5. Công văn 8591/CT-TTHT 2016 mất hóa đơn Hồ Chí Minh

 

TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 8591/CT-TTHT
V/v: Hóa đơn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05tháng 9 năm 2016

Kính gửi: Công ty TNHH Tam Tấn Địa chỉ: ô 2-5, KCN Tam Thới Hiệp, P. Hiệp Thành, Q.12, TP.HCMMã số thuế : 0302462730

Trả lời văn thư số CV: 001/TAT-2016 ngày 17/08/2016 của Công ty về hóa đơn, Cục Thuế TP có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 24 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ quy định xử lý trong trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn;

“1. Tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh nếu phát hiện mất, cháy, hỏng hóa đơn đã lập hoặc chưa lập phải lập báo cáo về việc mất, cháy, hỏng và thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (mẫu số 3.8 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) chậm nhất không quá năm (05) ngày kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hóa đơn. Trường hợp ngày cuối cùng (ngày thứ 05) trùng với ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó.

2. Trường hợp khi bán hàng hóa, dịch vụ người bán đã lập hóa đơn theo đúng quy định nhưng sau đó người bán hoặc người mua làm mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn bản gốc đã lập thì người bán và người mua lập biên bản ghi nhận sự việc, trong biên bản ghi rõ liên 1 của hóa đơn người bán hàng khai, nộp thuế trong tháng nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) trên biên bản và người bán sao chụp liên 1 của hóa đơn, ký xác nhận của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu trên bản sao hóa đơn để giao cho người mua. Người mua được sử dụng hóa đơn bản sao có ký xác nhận, đóng dấu (nếu có) của người bán kèm theo biên bản về việc mất, cháy, hỏng liên 2 hóa đơn để làm chứng từ kế toán và kê khai thuế. Người bán và người mua phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc mất, cháy, hỏng hóa đơn.

Trường hợp mất, cháy, hỏng hóa đơn liên 2 đã sử dụng có liên quan đến bên thứ ba (ví dụ: bên thứ ba là bên vận chuyển hàng hoặc bên chuyển hóa đơn) thì căn cứ vào việc bên thứ ba do người bán hoặc người mua thuê để xác định trách nhiệm và xử phạt người bán hoặc người mua theo quy định.”

Trường hợp Công ty khi bán hàng hóa đã lập hóa đơn cho khách hàng, sau đó phát hiện hóa đơn liên 2 (giao cho khách hàng) bị mất, Công ty đã kê khai cho hóa đơn này vào kỳ kê khai thuế tháng 6/2016 và đã báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn quý 2/2016 thì hai bên mua bán phải xác định rõ bên làm mất hóa đơn để lập báo cáomất và thông báo với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp, Công ty và bên mua thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Thông tư 39/2014/TT-BTC nêu trên.

Cục Thuế TP. trả lời Công ty đểbiết và thực hiện theo đúng các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại công văn này./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Phòng Pháp chế;
- Phòng Kiểm Tra số 1;
-Lưu: HC, TTHT.1978-27233/16 Trung

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG




Trần Thị Lệ Nga