BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------

Số: 743/TCT-KK
V/v phối hợp thu nợ thuế

Hà Nội, ngày 06 tháng 03 năm 2009

Kính gửi: Tổng cục Hải quan

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 60/TCHQ-KTTT ngày06/01/2009 của Tổng cục Hải quan về việc vướng mắc khi thu nợ thuế hàng nhậpkhẩu qua thuế giá trị gia tăng (GTGT) nội địa chờ hoàn, Tổng cục Thuế có ý kiếnnhư sau:

Theo hướng dẫn tại Mục V Phần II Thông tư số 62/2007/TT-BTCngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/2007/NĐ-CPngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡngchế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;

Theo quy định tại Luật quản lý thuế, Nghị định số 85/2007/NĐ-CPngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậtquản lý thuế và hướng dẫn thực hiện tại Phần G Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày14/6/2007 của Bộ Tài chính;

Theo hướng dẫn tại Điểm 3.3, Điểm 3.4 và Điểm 4 Mục III PhầnII Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thihành Luật quản lý thuế về đăng ký thuế.

Theo nội dung công văn số 60/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quanthì: Công ty TNHH sản xuất túi xốp Hoàn Cầu (MST: 0301482981) tại thành phố HồChí Minh có nợ thuế GTGT hàng nhập khẩu quá hạn tại Cục Hải quan tỉnh BìnhDương. Hiện Công ty đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, người điều hànhquản lý không có, ngân hàng đã niêm phong xưởng sản xuất. Qua tìm hiểu thôngtin từ cơ quan thuế thì Công ty đang còn số tiền thuế GTGT âm đến tháng 10/2008(theo báo cáo thuế tháng 9/2008) tại Chi cục Thuế Quận 11 thành phố Hồ ChíMinh; Chi cục Thuế cho biết do giám đốc Công ty bỏ trốn nên Công ty không có hồsơ hoàn thuế, do vậy Chi cục không thể phối hợp với cơ quan hải quan để thu hồinợ thuế.

Căn cứ theo các quy định nêu trên và trường hợp của Công tyHoàn Cầu nêu trên, thì:

- Trường hợp số thuế GTGT âm theo báo cáo thuế tháng 9/2008của Công ty Hoàn Cầu chỉ là số liệu qua kê khai của Công ty, không phải là sốliệu theo Biên bản quyết toán thuế toàn Công ty do cơ quan thuế lập nên khôngcó đủ căn cứ để xác định đây là số tiền thuế GTGT thuộc loại cơ quan thuế phảihoàn trả cho Công ty. Trường hợp này, nếu Công ty (hoặc tổ chức, cá nhân đượcthụ hưởng theo pháp luật) có hồ sơ đề nghị hoàn thuế của Công ty gửi cơ quanthuế thì cơ quan thuế mới có đủ căn cứ để phối hợp với cơ quan hải quan để thựchiện bù trừ số thuế GTGT Công ty được xét hoàn với số tiền thuế GTGT hàng nhậpkhẩu mà Công ty còn nợ cơ quan hải quan theo đề nghị của cơ quan hải quan.

- Trường hợp của Công ty Hoàn Cầu nêu trên (giám đốc Công tybỏ trốn, Công ty đã ngừng hoạt động, cơ quan hải quan đã có ý kiến về việc Côngty còn nợ thuế GTGT hàng nhập khẩu) nên cơ quan thuế không có căn cứ để đóng mãsố thuế của Công ty mà chỉ thông báo công khai tình trạng không tồn tại củangười nộp thuế và cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu đăng ký thuế của NgànhThuế, chờ kết luận cuối cùng của cơ quan chức năng để có căn xử lý tồn tại vềthuế đối với Công ty.

Từ các nội dung trên, Tổng cục Thuế không có căn cứ để hướngdẫn cơ quan thuế địa phương thực hiện bù trừ số tiền thuế GTGT còn âm theo sốliệu kê khai của doanh nghiệp tương ứng với số thuế doanh nghiệp còn nợ cơ quanthuế cũng như còn nợ cơ quan hải quan. Trường hợp doanh nghiệp đề nghị cơ quanthuế quyết toán thuế giải thể doanh nghiệp theo quy định hiện hành, thì cơ quanthuế sẽ thực hiện bù trừ số tiền thuế còn phải hoàn trả doanh nghiệp ghi trênbiên bản quyết toán thuế tương ứng với số tiền thuế doanh nghiệp còn nợ ngânsách nhà nước, trong đó có nợ cơ quan hải quan theo quy định hiện hành.

Tổng cục Thuế thông báo để Tổng cục Hải quan được biết./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Các Ban: PC, CS, QLN, TTr;
- Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh;
- Lưu VT, KK.

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Văn Huyến