BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

Số: 768 TCT/PCCS
V/v quản lý, sử dụng và xử lý vi phạm về ấn chỉ thuế

Hà Nội, ngày 17 tháng 03 năm 2005

Kínhgửi: Cục thuế tỉnh Quảng Ninh

Trả lời công văn số 2541 CT/AC ngày27/8/2004 của Cục thuế tỉnh Quảng Ninh về việc quản lý, sử dụng và xử lý viphạm về ấn chỉ thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

1. Tại khoản 4, Điều 10 Nghị địnhsố 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luậtthuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT quy định:“Cáccơ sở kinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hóa cho người tiêu dùng, đối với hàng hóacó giá bán dưới mức quy định phải lập hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bánhàng, nếu cơ sở không lập hóa đơn thì phải lập bảng kê hàng hóa bán lẻ theo mẫubảng kê của cơ quan thuế để làm căn cứ tính thuế giá trị gia tăng; trường hợpngười mua yêu cầu lập hóa đơn … thì phải lập hóa đơn theo đúng quy định”; tạiKhoản 1, Điều 10 Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạtđộng kinh doanh cũng đã quy định:“Tổ chức, cá nhân … khi bán lẻ hàng hóahoặc cung cấp dịch vụ một lần có giá trị dưới mức quy định của Bộ Tài chính thìkhông bắt buộc phải lập hóa đơn bán hàng, trừ khi người mua hàng yêu cầu giaohóa đơn thì người bán hàng phải lập và giao hóa đơn theo đúng quy định. Hànghóa bán lẻ hoặc cung cấp dịch vụ một lần có giá trị dưới mức quy định tuy khôngbắt buộc phải lập hóa đơn nhưng vẫn phải lập bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụhoặc có thể lập hóa đơn bán hàng theo quy định để làm chứng từ kế toán. Trườnghợp lập bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ thì cuối mỗi ngày phải căn cứ vào sốliệu tổng hợp của bảng kê để lập hóa đơn bán hàng trong ngày theo quy định”

Căn cứ vào quy định nêu trên, cơ sởkinh doanh trực tiếp bán lẻ hàng hóa, dịch vụ có giá trị dưới mức quy định phảilập hóa đơn mà khách hàng không yêu cầu cung cấp hóa đơn thì không bắt buộc phảilập hóa đơn nhưng phải lập bảng kê bán lẻ. Cuối mỗi ngày, căn cứ vào số liệutổng hợp trên bảng kê, cơ sở kinh doanh phải lập hóa đơn bán hàng trong ngày đểlàm căn cứ kê khai tính thuế. Liên 2 của hóa đơn không được xé rời và phải lưutại quyển hóa đơn.

2. Chứng từ khi xuất hàng ra khỏi khongoại quan.

Tại Khoản 1, Điều 36 Nghị định số 101/2001/NĐ-CPngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtHải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan đã quy địnhthủ tục hải quan khi đưa hàng hóa ra khỏi kho ngoại quan, trong đó có nêu:“Chủhàng hoặc đại diện hợp pháp của chủ hàng đưa hàng hóa ra khỏi kho ngoại quan đểxuất ra nước ngoài phải khai hải quan và nộp cho hải quan kho ngoại quan cácchứng từ sau:

- Tờ khai hải quan hàng hóa xuấtkhẩu

- Giấy ủy quyền xuất hàng (nếu khôngghi trong hợp đồng thuê kho)

- Phiếu xuất kho theo mẫu của BộTài chính”

Căn cứ vào quy định nêu trên thì chủhàng hoặc đại diện hợp pháp của chủ hàng khi đưa hàng hóa ra khỏi kho ngoại quanđề xuất ra nước ngoài phải có Phiếu xuất kho theo mẫu quy định tại Hệ thống chếđộ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Phiếu xuất kho phải có đầy đủ chỉ tiêu vànội dung theo quy định của Bộ Tài chính, đơn vị sử dụng phải tự quản lý và chịutrách nhiệm về việc sử dụng chứng từ ngày.

3. Sử dụng hóa đơn đối với Nhà thầunước ngoài

Tại Mục II, Phần C Thông tư số 05/2005/TT-BTCngày 11/1/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thuế áp dụng đối với tổ chứcnước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanhhoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam quy định: Bên Việt Nam ký hợp đồng vớiNhà thầu nước ngoài không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam phải có trách nhiệmkê khai, nộp thuế GTGT thay cho Nhà thầu nước ngoài và khấu trừ thuế TNDN vàotiền thanh toán cho Nhà thầu nước ngoài nộp vào Ngân sách Nhà nước; Tại điểm 4,Mục III, Phần C Thông tư này cũng đã quy định“Việc quyết toán thuế đượcthực hiện theo từng hợp đồng nhà thầu”

Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên, Nhà thầunước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tưtheo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không thực hiện chế độ kế toán ViệtNam, thi công các công trình thuộc nguồn vốn ODA thì khi thanh toán với chủ đầutư phải có hóa đơn yêu cầu thanh toán của Công ty mẹ ở nước ngoài phát hành kèmtheo hợp đồng, biên bản quyết toán và thanh lý hợp đồng.

4. Xử lý vi phạm đối với hành vilàm mất ấn chỉ thuế

a. Đối với hành vi làm mất hóa đơn

Tại Khoản 2, Điều 16 Nghị định số 89/2002/NĐ-CPngày 7/11/2002 của Chính phủ quy định về in, phát hành, quản lý, sử dụng hóađơn quy định:Phạt tiền 200.000 đồng đối với hành vi làm mất các liên khácvà liên 2 của mỗi số hóa đơn đã sử dụng”

Căn cứ vào quy định nêu trên thì:

+ Mất các liên của cùng số hóa đơn chưasử dụng (trừ liên 2) thì bị xử phạt 200.000 đồng cho mỗi 1 liên bị mất.

+ Mất các liên của cùng số hóa đơn đãsử dụng thì bị xử phạt 200.000 đồng cho mỗi 1 liên bị mất

b. Đối với hành vi làm mất chứng từthu phí, lệ phí.

Tại Khoản 5b, Điều 14 Nghị định số 106/2003/NĐ-CPngày 23/9/2003 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực phí, lệ phí quy định:“Phạt tiền 200.000 đồng đối với hành vi làmmất các liên của mỗi số chứng từ, trừ liên 2 giao cho khách hàng của chứng từchưa sử dụng”

Căn cứ vào quy định nêu trên thì phạt200.000 đồng đối với hành vi làm mất các liên chứng từ cùng một số chứng từchưa sử dụng, trừ liên 2 giao cho khách hàng.

c. Đối với hành vi làm mất chứng từcó in sẵn mệnh giá

Chứng từ in sẵn mệnh giá là loại chứngtừ đã được in sẵn giá trị, mệnh giá trên đó, do vậy khi mất chứng từ đã hạn chếđược việc lợi dụng, gian lận về thuế. Mức phạt hành chính đối với hành vi nàylà bồi thường theo mệnh giá in trên chứng từ bị mất.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuếbiết và thực hiện.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Lưu: VP (HC), PCCS (2b)

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG




Phạm Duy Khương