CÔNG VĂN

CỦA TOÀÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 81/2002/TANDTC
NGÀY 10 THÁNG 6 NĂM 2002 VỀ VIỆC GIẢI ĐÁP CÁC VẤN ĐỀ
NGHIỆP VỤ

Kính gửi:- Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự cáccấp

- Các đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao

Trong thời gian chuẩnbị Hội nghị và tại Hội nghị triển khai công tác ngành Toà án năm 2002 và tập huấn nghiệp vụ (từ ngày 28 đến ngày 30-12-2001)cũng như trong thời gian vừa qua nhiều Toà án nhân dân địa phương và Toà ánquân sự các cấp đề nghị Toà án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Sau đây là giải đáp của Toà án nhân dântối cao về các vấn đề đó; cụ thể là:

I. VỀ HÌNH SỰ.

1. Có ý kiến cho rằngNghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự (sau đây gọi tắt là Nghị quyếtsố 32)nhưng không quy định là để thihành Bộ luật hình sự cụ thể nào, thế nhưng trong Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 ngày 28-1-2000 của Uỷban thường vụ Quốc hội về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "về việc thi hành Bộ luật hình sự" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số229) và Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 "Hướngdẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày21-12-1999 của Quốc hội" (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 02) lạinêu cụ thể là Bộ luật hình sự năm 1999. Như vậy Nghị quyếtsố 229 và Thông tư liên tịch số 02 có mâuthuẫn với Nghị quyết số 32 hay không?

Trước hết cần phải khẳng định là các văn bản quy phạm phápluật này không có gì mâu thuẫn với nhau. Tất cả các văn bản này đều có nội dungtriển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 1999. Nghiên cứu Nghị quyết số 32 chúngta có thể nhận thấy mặc dù tên của Nghị quyết là "về việc thi hành Bộ luậthình sự", nhưng trong nội dung của Nghị quyết đã thể hiện rõ là về việcthi hành Bộ luật hình sự năm 1999; cụ thể tại Mục 1 của Nghị quyết đã quy định:"Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hộithông qua ngày 21-12-1999 có hiệu lực từngày 01-7-2000". Bộ luật hình sựnày thay thế... Như vậy khái niệm "Bộ luật hình sự này" trongNghị quyết số 32 phải hiểu là Bộ luật hình sự năm 1999.

Giả thiết cho rằng trong nội dung Nghị quyết số 32 chỉ đềcập đến "Bộ luật hình sự" mà không có một quy định nào đề cập cụ thểđến "Bộ luật hình sự năm 1999" và để hiểu thống nhất là Bộ luật hìnhsự nào, thì theo quy định của Hiến pháp năm 1992 Uỷ ban thường vụ Quốc hội cóthẩm quyền giải thích cụ thể đó là Bộ luật hình sự nào; do đó, trong Nghị quyếtsố 229 đã giải thích cụ thể đó là Bộ luật hình sự năm 1999 là không có gì mâuthuẫn. Trên cơ sở Nghị quyết số 229, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hànhThông tư liên tịch số 02 và hướng dẫn cụ thể đó là Bộ luật hình sự năm 1999 làđúng quy định của pháp luật.

2. Khi áp dụng Điều 7 Bộluật hình sự năm 1999, việc so sánh Bộ luật hình sự năm 1999 với Bộ luậthình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộc quy định tại khoản 2 hoặckhoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thực hiện như thế nào? So sánh cácđiều luật tương ứng quy định trong hai Bộluật hình sự hay so sánh các khoản cụ thể trong các điều luật tương ứngquy định trong hai Bộ luật hình sự này?

Trong các khoản 1, 2 và 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999quy định: "Điều luật được áp dụng...", "Điều luật quy định mộttội phạm...", "Điều luật xoá bỏ một tội phạm...". Khác với Điều7, trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các loại tội phạm không dùng"điều luật" mà dùng "khung hình phạt đối với tội ấy..."; dođó, việc so sánh Bộ luật hình sựnăm 1999 với Bộ luật hình sự năm 1985 để xác định trường hợp nào thuộcquy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 được thựchiện bằng việc so sánh các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hìnhsự. Vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịchsố02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA ngày 5-7-2000 của Toàán nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sựnăm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốchội" (sau đây gọi tắt và viết tắt là TTLT số 02). Ngoài ra, việc so sánhphải bằng các điều luật tương ứng quy định trong hai Bộ luật hình sự, chứ khôngphải bằng các khoản cụ thể trong các điều luật tương ứng, bởi vì trong nhiềuđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định nhiều khoản hơn trong điều luậttương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985. Ví dụ: "Tội giết người do vượt quágiới hạn phòng vệ chính đáng" Điều 102 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quyđịnh 1 khoản, còn Điều 96 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định hai khoản hoặc"Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác"(không thuộc trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, không thuộc trườnghợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng) Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985quy định 3 khoản, còn Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định 4 khoản.Nếu so sánh theo khoản thì trong các trường hợpnày không thể so sánh được.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy bằng việc so sánh cácđiều luật tương ứng thì điều luật của Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, nhưngđiều luật của Bộ luật hình sự năm 1985 có quy định khác có lợi hơn hoặc ngượclại; do đó, tại điểm b7 Mục 2 và tại điểm d7 Mục 3 TTLT số 02 đã hướng dẫn cụthể việc áp dụng pháp luật trong các trường hợp này.

Hai ví dụ sau đây minh hoạ việc so sánh trên:

a. Về tội giết người: So sánh Điều 101 Bộ luật hình sự năm1985 với Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu theo điều luật, rõ ràng Điều 101Bộ luật hình sự năm 1985 nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi giết người được thựchiện trước ngày 1-7-2000 mà không thuộc một trong các trường hợp định khungtăng nặng, thì phải áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sựnăm 1985 để xét xử. Tuy nhiên, xem xét khoản2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999 thì mức cao nhất của khung hình phạt là mườilăm năm tù; do đó, tuy áp dụng khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 để xétxử, nhưng phải áp dụng tinh thần quy định có lợi cho người phạm tội quy địnhtại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999, cụ thể là dù trong trường hợp nàocũng không được xử phạt quá mười lăm năm tù.

b. Về tội cố ý gây thương tích: So sánh Điều 109 Bộ luậthình sựnăm 1985 với Điều 104 Bộ luậthình sự năm 1999 nếu theo điều luật, rõ ràng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985nhẹ hơn; do đó, đối với hành vi cố ý gây thương tích cho người khác được thựchiện trước ngày 1-7-2000 màtỷ lệthương tật dưới 11% nhưng thuộc trường hợp có tính chất côn đồ hoặc tái phạmnguy hiểm thì phải áp dụng Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử. Tuynhiên, trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành thì phải áp dụngkhoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử, nhưng nay theo quy địnhtại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 trường hợp này thuộc quy định tại khoản1; do đó, cần áp dụng tinh thần quy định này có lợi cho người phạm tội, cho nênchỉ được áp dụng khoản 1 Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 để xét xử.

3. Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự năm1999, thì khi cho hưởng án treo Toà án ấnđịnh thời gian thử thách. Thế nhưng tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ lại quy định thời gian thử tháchcủa án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhậnđược quyết định thi hành bản án và trích lục bản án? Như vậy, hai quy định nàycó mâu thuẫn với nhau không? Toà án ấn định thời gian thử thách như thế nào?Thời gian thử thách được tính từ ngày nào?

Quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày30-10-2000 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 61) không có gì mâuthuẫn với quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.

Việc Toà án cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo và ấnđịnh thời gian thử thách vẫn thực hiện theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hìnhsự năm 1999 theo thủ tục chung; cụ thể là vẫn thực hiện như các hướng dẫn trướcđây.

Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61 quy định: "Người đượchưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công nhân quốc phòng, người laođộng làm công ăn lương, thì thời gian thử thách cũng được tính vào thời giancông tác, thời gian tại ngũ nhưng không được tính vào thời gian xét nâng lương,phong quân hàm theo niên hạn. Thời gian thử thách được tính từ ngày cơ quan, tổchức giám sát, giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành bản án và tríchlục bản án".

Như vậy quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định số 61 được ápdụng đối với người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, côngnhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương nếu vẫn được tiếp tục làmviệc, thì thời gian thử thách để được tính vào thời gian công tác, thời giantại ngũ chỉ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người đó nhậnđược quyết định thi hành bản án và trích lục bản án, chứ không phải kể từ ngàyToà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

4. Một người đang chấp hành hình phạt tù do bị ốm nặng đãđược Chánh án Toà án ra quyết định cho được tạm đình chỉ chấp hành hình phạttù. Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì người đó lạiphạm tội mới và bị đưa ra xét xử. Trong trường hợp này phải áp dụng khoản nàocủa Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 để tổng hợp hình phạt?

Một người đang chấp hành hình phạt tù do bị ốm nặng đã đượcChánh án Toà án ra quyết định cho được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì người đó đang phải chấp hành bản án đốivới phần hình phạt tù còn lại và các quyết định khác trong bản án, mà họ chưathi hành. Nếu trong thời gian này người đó lại phạm tội mới và bị đưa ra xétxử, thì việc tổng hợp hình phạt đối với họ theo quy định tại khoản 2Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999.

5. Người phạm tội bị bắt quả tang đã khai báo đầy đủ hành viphạm tội của mình, thì có được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khaibáo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sựnăm 1999 hay không?

Mặc dù người phạm tội bị bắt quả tang, nhưng sau khi bị bắtđã khai báo đầy đủ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứkhác có trong hồ sơ vụ án thì Toà án áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thànhkhẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm1999 cho họ. Nếu sau khi bị bắt người phạm tội quanh co, chối tội hoặc khai báokhông đúng sự thật của vụ án và chỉ sau khi cơ quan tiến hành tố tụng đã chứngminh được đầy đủ hành vi phạm tội của họ, họ mới nhận sự việc phạm tộicủa họ đúng như cơ quan tiến hành tố tụng đãchứng minh, thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khaibáo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trongtrường hợp tại cơ quan điều tra hoặc tại phiên toà sơ thẩm người phạm tội quanhco, chối tội hoặc khai báo không đúng sự thật, nhưng sau khi có kết luận điềutra hoặc sau khi xét xử sơ thẩm đến phiên toà phúc thẩm đã khai báo lại mộtcách đầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội, thì vẫn được áp dụng tìnhtiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" đối với họ, nhưng mức độ giảm nhẹtrong trường hợp này không thể bằng trong trường hợp ngay từ đầu họ đã khai báođầy đủ và đúng sự thật diễn biến việc phạm tội.

6. Khi xét xử vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích,trong đó bị cáo là chồng (hoặc là vợ), người bị hại là vợ (hoặc là chồng) thìcó buộc người chồng (hoặc người vợ) phải bồi thường thiệt hại cho người vợ(hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm hay không?

Về nguyên tắc theo quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm1999, các điều 609, 610 và 613 Bộ luật dân sự thì người chồng (hoặc người vợ) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuynhiên, theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự thì việc Toà áncó buộc người chồng (hoặc người vợ) phải bồi thường thiệt hại cho người vợ(hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâm phạm hay không là phụ thuộc vào người bịhại có yêu cầu hay không. Trong trường hợp người bị hại là người vợ (hoặc ngườichồng) có yêu cầu thì Toà án cần buộc người chồng (hoặc người vợ) có tráchnhiệm bồi thường thiệt hại cho người vợ (hoặc người chồng) do sức khoẻ bị xâmphạm. Tuy nhiên, trong trường hợp này cần chú ý là quan hệ giữa bị cáo và ngườibị hại là vợ chồng cho nên còn bị điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình; dođó, khi quyết định việc bồi thường thiệt hại cần chú ý đến các quy định củaLuật hôn nhân và gia đình về trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ, chồng; về chế độ tàisản riêng, tài sản chung của vợ, chồng...

7. Phân biệt việc áp dụngtình tiết giảm nhẹ trong trường hợp "tựthú" và trong trường hợp "đầu thú" như thế nào?

"Tự thú" là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội củamình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị pháthiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mìnhnhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện,thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hànhvi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện. "Đầu thú" là có người đã biết mìnhphạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyềntrình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày2-6-1990của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi hànhchính sách đối với người phạm tội ra tự thú", thì các trường hợpnày đều được coi là tự thú. Tuy hướng dẫn các trườnghợp này đều được coi là tự thú để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưngkhông hướng dẫn cụ thể trong trường hợp nào áp dụng khoản 1, trongtrường hợp nào áp dụng khoản 2 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985. Để áp dụngđúng và thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các trường hợptrên đây, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể như sau:

- Nếu người phạm tội tự mình nhận tội và khai ra hành viphạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội thì áp dụngtình tiết giảm nhẹ "tự thú" quyđịnh tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với người phạmtội.

- Nếu có người đã biết hành vi phạm tội của người phạm tộinhưng biết không thể trốn tránh được nên người phạm tội đến cơ quan có thẩmquyền trình diện thì áp dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xemxét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội. Cũng cần chú ý là, trongtrường hợp này, nếu người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc cónhững việc làm khác thuộc trường hợp được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì được hưởng tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng quy định tại khoản 1 Điều 46Bộ luật hình sự năm 1999.

8. Đối với người nước ngoài phạm tội nhưng có nhiều tìnhtiết giảm nhẹ, nếu xử phạt tù thì không thể cho hưởng án treo được. Vậy có thểáp dụng hình phạt tiền đối với họ được không?

Việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với ngườiphạm tội nói chung, cũng như đối với người nước ngoài phạm tội nói riêng phảituân thủ quy định tại Điều 30 Bộ luật hình sự năm 1999. Trong trường hợp ngườiphạm tội là người nước ngoài có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nếu xử phạt tù thìkhông thể cho hưởng án treo được, nhưng họ có đủ các điều kiện quy định tạiĐiều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 và đã được hướng dẫn tại Mục 10 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao"Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sựnăm 1999" để có thể được chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹhơn, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án có thể áp dụng hình phạt trụcxuất hoặc hình phạt tiền.

9. Đề nghị hướng dẫn các tình tiết hàng phạm pháp là hàngcấm (thuốc lá điếu của nước ngoài) có số lượng lớn, có số lượng rất lớn và cósố lượng đặc biệt lớn.

Để áp dụng đúng và thốngnhất các tình tiết này thì cần phải có sự thống nhất của liên ngành để hướngdẫn. Tuy nhiên, trong thời gian chờ hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dântối cao tạm thời hướng dẫn như sau:

- Được coi là hàng phạm pháp có số lượng lớn đối với thuốclá điếu nước ngoài từ 1.500 bao đến dưới 4.500 bao (mỗi bao 20 điếu);

- Được coi là hàng phạm pháp có số lượng rất lớn đối vớithuốc lá điếu nước ngoài từ 4.500 bao đến dưới 13.500 bao (mỗi bao 20 điếu);

- Được coi là hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn đốivới thuốc lá điếu nước ngoài từ 13.500 bao trở lên (mỗi bao 20 điếu).

10. Nếu chỉ căn cứ vào sốlượng tiền giả thì trường hợp nào ápdụng khoản 1, trường hợp nào áp dụng khoản 2 và trường hợp nào áp dụng khoản 3 Điều 180 Bộ luật hình sựnăm 1999.

Đây là vấn đề cần phải có sự thống nhất của liên ngành đểhướng dẫn. Trong thời gian chờ hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tốicao tạm thời hướng dẫn như sau:

a. Đối với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả:

- Áp dụng khoản1 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả dưới 3 triệuđồng;

- Áp dụng khoản2 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999đểxét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 3 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng;

- Áp dụng khoản3 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999đểxét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 15 triệu đồng trở lên.

b. Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngânphiếu giả, công trái giả:

- Áp dụng khoản1 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo, nếu tiền giả dưới 10triệu đồng;

- Áp dụng khoản2 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999đểxét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 10 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng;

- Áp dụng khoản3 Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999đểxét xử bị cáo, nếu tiền giả từ 30 triệu đồng trở lên.

11. Đối với người nhiều lần lưu hành tiền giả thì số lượngtiền giả để truy cứu trách nhiệm hình sự là căn cứ vào từng lần cụ thể hay lấytổng số lượng tiền giả của tất cả các lần cộng lại? Nếu lấy tổng số lượng tiền giảcủa tất cả các lần cộng lại thì có áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiềulần" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999nữa hay không?

Cần phải lấy tổng số lượng tiền giả của tất cả các lần phạmtội cộng lại để truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu trong các lần phạm tội đó cótrường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không xem xéttrách nhiệm hình sự đối với trường hợp đó (không cộng số lượng tiền giả của lầnphạm tội đó). Nếu có hai lần phạm tội lưu hành tiền giả trở lên thì ngoài việccộng số lượng tiền giả của các lần phạm tội để làm căn cứ truy cứu trách nhiệmhình sự, còn phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần" quy định tạiđiểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

12. Đề nghị hướng dẫn đối với các trường hợp sử dụng điệntrái phép làm chết người thì xét xử về tội gì?

Để xét xử đúng tội cần phải xem xét từng trường hợp cụ thể.Về nguyên tắc chung, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

a. Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộmcắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người.

b. Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để diệt chuột,chống súc vật phá hoại mùa màng thì cần phân biệt như sau:

+ Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi có nhiều người qualại (cho dù có làm biển báo hiệu), biết việc mắc điện trong trường hợp này lànguy hiểm đến tính mạng con người, nhưng cứ mắc hoặc có thái độ bỏ mặc cho hậuquả xẩy ra và thực tế là có người bị điện giật chết, thì người phạm tội bị xétxử về tội giết người.

+ Nếu người sử dụng điện mắc điện ở nơi họ tin rằng không cóngười qua lại, có sự canh gác cẩn thận, có biển báo nguy hiểm và tin rằng hậuquả chết người không thể xảy ra..., nhưng hậu quả có người bị điện giật chết,thì người phạm tội bị xét xử về tội vô ý làm chết người.

II. VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1. Theo quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát có quyềnkháng nghị đối với các bản án, quyết định của Toà án. Vậy quyết định trả hồ sơcho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị haykhông?

Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị quyết định trả hồ sơcho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Theo tinh thần quy định tại Điều 154 Bộluật tố tụng hình sự thì những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõtrong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung. Nếu xét thấy những vấn đề cần điềutra bổ sung mà Toà án yêu cầu là có căn cứ và cần thiết thì Viện kiểm sát tiếnhành điều tra bổ sung; trong trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đìnhchỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà ánbiết. Nếu xét thấy những vấn đề cần điều tra bổ sung mà Toà án yêu cầu là khôngcó căn cứ không thể điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát vẫn giữ nguyênquyết định truy tố. Toà án tiến hành xét xử căn cứ vào hồ sơ vụ án và kết quảthẩm vấn tại phiên toà để quyết định khi nghị án.

2. Trong nhiều hồ sơ vụ án hình sự (và dân sự) có các giấytờ, tài liệu như đăng ký xe máy, giấy phép lái xe, giấy tờ tuỳ thân... Sau khixét xử nếu đương sự đến xin lại giấy tờ mà Toà án cho họ lấy về thì có vi phạmquy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự hay không?

Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định thẩm quyền xửlý vật chứng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử đối với vật chứng làcông cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành; vật chứng là những vật, tiềnbạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc sở hữu của người khác bị ngườiphạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội; vật chứng là tiền bạc hoặctài sản do phạm tội mà có; vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được.Đối với các giấy tờ, tài liệu tuỳ thân, như: hộ chiếu, giấy chứng minh nhândân, thẻ thương binh, giấy đăng ký xe máy, giấy phép lái xe..., thì theo quyđịnh tại Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự khi khám xét Điều tra viên được tạmgiữ nếu là vật chứng hoặc có liên quan trực tiếp đến vụ án. Việc tạm giữ nàyphải tuân thủ quy định tại Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi Toà án đãxét xử và bản án đã có hiệu lực pháp luật, nếu đương sự đếnToà án xin được lấy lại giấy tờ, tài liệunày, thì việc có trả lại giấy tờ, tài liệu này cho đương sự hay không về nguyêntắc chung phải căn cứ vào quyết định của Toà án trong bản án; cụ thể là:

a. Nếu trong bản án không có quyết định của Toà án có liênquan trực tiếp đến việc sử dụng các giấy tờ, tài liệu này và các giấy tờ, tàiliệu này là cần thiết trong cuộc sống và sinh hoạt của người bị kết án hoặc củathân nhân người bị kết án, thì Toà án trả lại các giấy tờ, tài liệu này cho họ.

Ví dụ:

- Giấy chứng minh nhân dân, Thẻ thương binh, Giấy chứng nhậnhuân chương, huy chương... thì Toà án trả lại cho họ.

- Trong bản án không có quyết định cấm hành nghề lái xe thìToà án trả lại giấy phép lái xe cho họ.

b. Nếu trong bản án có quyết định của Toà án có liên quantrực tiếp đến việc họ được tiếp tục sử dụng các giấy tờ, tài liệu này, thì Toàán trả lại các giấy tờ, tài liệu này cho họ.

Ví dụ: Trong bản án có quyết định trả lại chiếc xe máy chongười phạm tội thì Toà án trả lại giấy đăng ký xe máy cho họ.

c. Nếu trong bản án có quyết định của Toà án có liên quantrực tiếp đến việc không được tiếp tục sử dụng các giấy tờ, tài liệu này thìkhông trả lại các giấy tờ, tài liệu này cho họ.

Ví dụ:

- Trong bản án có quyết định tịch thu chiếc xe máy của ngườiphạm tội, đã dùng vào việc thực hiện tội phạm thì không trả lại giấy đăng ký xemáy đó cho họ.

- Trong bản án có quyết định cấm hành nghề lái xe trong hainăm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù thì không trả lại giấy phép lái xecho họ. Tuy nhiên, hết thời hạn cấm mà giấy phép lái xe này vẫn có giá trị sử dụngthì Toà án trả lại giấy phép lái xe này cho họ.

Cần lưu ý rằng phải phôtô lại các giấy tờ, tài liệu sẽ trảlại và việc trả lại các giấy tờ, tài liệu này phải được lập thành biên bản, cóchữ ký của người trả và của người nhận; bản phôtô các giấy tờ, tài liệu và biênbản trả lại giấy tờ, tài liệu phải được lưu vào hồ sơ vụ án đúng vị trí của cácgiấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được trả lại.

3. Theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự thì Tòaán có quyền ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua xét xử tại phiên toà mà pháthiện được người phạm tội mới cần phải điều tra. Vậy Viện kiểm sát có quyềnkháng nghị quyết định này hay không?

Theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự, nếu quaviệc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mớicần phải điều tra, thì Toà ánra quyếtđịnh khởi tố vụ án (đoạn 2 khoản 1). Quyết định khởi tố vụ án này phải được gửiđến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra (khoản 3).

Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, nếu xét thấy quyếtđịnh khởi tố của Toà án không có căn cứ thì theo quy định tại khoản 3 Điều 91Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát cóquyền kháng nghị lên Toà án cấp trên.

4. Vì bị cáo ốm không đến được phiên toà nên Toà án phảiquyết định hoãn xét xử nhiều lần, vậy trường hợp này giải quyết như thế nào?

Theo quy định tại Điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự thì trongtrường hợp bị cáo đã được giao giấy triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiêntoà với lý do "bị ốm", tuỳ từng trường hợp mà Toà án quyết định nhưsau:

1. Nếu đúng bị cáo bị ốm (có bệnh án, có chứng nhận của cơsở chữa bệnh...) và sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử (như:phạm tội quả tang, chứng cứ đã đầy đủ rõ ràng...), thì Tòa án có thể tiến hànhxét xử vắng mặt bị cáo (điểm c khoản 2 Điều 162); nếu sự vắng mặt của bị cáo cótrở ngại cho việc xét xử (như: cần đối chất, cần kiểm tra một số tình tiết nàođó của vụ án...), thì Toà án phải hoãn phiên toà (đoạn 1 khoản 1 Điều 162).

2. Nếu gia đình bị cáo thông báo cho Toà án về việc bị cáoốm, nhưng không có chứng cứ chứng minh là bị cáo bị ốm (không có bệnh án, khôngcó chứng nhận của cơ sở chữa bệnh...), thì sự vắng mặt của bị cáo là không cólý do chính đáng và bị cáo sẽ bị áp giải đến phiên toà (đoạn 1 khoản 1 Điều162). Tuy nhiên, trong trường hợp sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại choviệc xét xử thì Toà án có thể tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo (điểm c khoản 2Điều 162).

3. Nếu bị cáo bị ốm do bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèokhác (ung thư, lao phổi nặng...), thì Toà án phải ra quyết định tạm đình chỉ vụán cho đến khi bị cáo khỏi bệnh (đoạn 2 khoản 1 Điều 162). Nếu họ thuộc đốitượng phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, thì Toà án phải ra quyết địnháp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với họ.

5. Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự phảicó đơn khởi kiện của các đối tượng theo luật định thì Toà án mới giải quyết cácvụ án. Vậy phần dân sự trong vụ án hình sự được tách ra để giải quyết riêng thìkhi giải quyết phần dân sự đó họ có phải làm đơn khởi kiện hay không, trongtrường hợp nào thì tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết riêng?

Theo tinh thần quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999thì khi xét xử một vụ án hình sự cùng với việc quyết định trách nhiệm hình sựđối với người phạm tội, Toà án buộc người phạm tội phải trả lại những vật, tiềnbạc đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữahoặc bồi thường các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gâyra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp Toà án phải tách phần dân sự trong vụ ánhình sự để giải quyết trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Thông thườngToà án chỉ tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết trong một vụándân sự khác khi chưa xác định đượcngười bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc đã xác định được người bị hại, nguyên đơndân sự nhưng khi xét xử không biết họ ở đâu hoặc đã xác định được người bị hại,nguyên đơn dân sự, nhưng họ chưa có yêu cầu trả lại những vật, tiền bạc đã bịngười phạm tội chiếm đoạt, chưa có yêu cầu phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệthại, chưa chứng minh được đầy đủ thiệt hại do tội phạm gây ra. Đối với cáctrường hợp này, Toà án chỉ thụ lý để giải quyết phần dân sự khi đương sự có yêucầu (có đơn yêu cầu hoặc đơn khởi kiện) và vụ án được giải quyết theo thủ tụcchung theo quy định củaPháp lệnh Thủtục giải quyết các vụ án dân sự.

6. Khi xét xử sơ thẩm một số vụ án hình sự, Toà án đã quyếtđịnh xử phạt bị cáo đúng bằng thời gian tạm giam và trả tự do ngay cho bị cáotại phiên tòa. Việc quyết định như vậy có đúng hay không và việc quyết định nhưvậy có ảnh hưởng gì tới quyền kháng cáo, kháng nghị và việc ra quyết định thihành án hay không?

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào quyđịnh của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặngtrách nhiệm hình sự, xét thấy trong trường hợp cụ thể đó xử phạt bị cáo mứchình phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam là thoả đáng, thì Toà án cấpsơ thẩm có quyền xử phạt bị cáo đúng bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Theoquy định tại Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự thì một trong những trường hợpHội đồng xét xử phải tuyên bố trả lại tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo đangbị tạm giam nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác khi thời hạn tù bằngthời gian bị cáo đã bị tạm giam; do đó, trong trường hợp Toà án cấp sơ thẩm đãquyết định xử phạt bị cáo đúng bằng thời gian bị cáo bị tạm giam và tuyên bốtrả lại tự do ngay cho bị cáo tại phiên toà, nếu họ không bị tạm giam về mộttội phạm khác là đúng với các quy định của pháp luật.

Việc quyết định như trên không có ảnh hướng gì tới quyềnkháng cáo, kháng nghị và việc ra quyết định thi hành án. Những vấn đề này vẫnđược thực hiện theo quy định chung của Bộ luật tố tụng hình sự.

7. Người bị kết án làm đơnxin hoãn thi hành án phạt tù với lý doốm nặng. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày30-6-1993 thì trường hợp ốm nặng là người bị các bệnh như: lao, ung thư, bại liệt...Nếu theo bệnh án của người bị kết án xin hoãn thi hành án phạt tù thì họ bịbệnh khác (không phải là các bệnh nêu trên) với tỷ lệ mất sức lao động là trên70%. Trong trường hợp này có coi là họ ốm nặng để cho họ hoãn thi hành án haykhông?

Theo hướng dẫn tại điểm d Mục 2 Thông tư liên ngành số03/TTLNngày 30- 6-1993 củaToà án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ- Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướngdẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù" thì:"một trong những lý do để Toà án cho người bị kết án được hoãn hoặc tạmđình chỉ chấp hành hình phạt tù là "người bị kết án ốm nặng". Ngườibị kết án ốm nặng là người bị kết án bị đau ốm tới mức không thể đi chấp hànhhình phạt tù hoặc tiếp tục chấp hành hình phạt tù được. Việc đi chấp hành hìnhphạt tù hoặc tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng củahọ và cần thiết phải cho họ được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tùđể cho họ có điều kiện chữa bệnh (như bị bệnh ung thư, bị lao nặng, bị bại liệt...)".Như vậy, theo hướng dẫn trên đây thì không phải khi người bị kết án bị mắc mộttrong các bệnh: lao, ung thư, bại liệt mới được coi là bị ốm nặng. Cần chú ý làba loại bệnh đó chỉ là ví dụ, nếu người bị kết án mắc phải, thì được coi là bịốm nặng. Trong Thông tư sau khi viện dẫn baloại bệnh đó còn có ba dấu chấm (...). Điều đó có nghĩa là ngoài ba loạibệnh đó còn có thể có nhiều loại bệnh khác (ví dụ như: xơ gan cổ chướng,AIDS...), nếu người bị kết án mắc phải các bệnh này thì cũng có thể coi là họbị ốm nặng để xem xét cho họ hoãn chấp hành hình phạt tù hoặc tạm đình chỉ chấphành hình phạt tù. Tuy nhiên, dù mắc phải bệnh gì, thì điều kiện quyết định đểcho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù hoặc được tạm đình chỉchấp hành hình phạt tù là họ phải bị đau ốm tới mức không thể đi chấp hành hìnhphạt tù hoặc tiếp tục chấp hành hình phạt tù được, việc đi chấp hành hình phạttù hoặc tiếp tục chấp hành hình phạt tù sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng của họ.Việc quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù trong các trườnghợp này là nhằm tạo cho họ có điều kiện để chữa bệnh.

8. Khi hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến cho Toà án,nhưng cáo trạng chưa được tống đạt cho bị can thì Toà án có nhận hồ sơ vụ án vàvào sổ thụ lý hay không? Nếu Toà án nhận hồ sơ thì Toà án có quyền áp dụng cácbiện pháp ngăn chặn không?

1. Vấn đề có nhận hồ sơ vụ án và vào sổ thụ lý haykhông trong trường hợp này đã được hướng dẫn tại các điểm 1 và 2 Thông tư liênngành số 7/TTLN ngày 15-9-1990 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhândân tối cao "Hướng dẫn việc giao nhận hồ sơ vụ án hình sự"; cụ thể là"Đối với vụ án chỉ có bị can bị tạm giam thì trong thời hạn ba ngày, kể từngày ra quyết định truy tố Viện kiểm sát gửi đến Toà án hồ sơ vụ án và quyếtđịnh truy tố cùng với biên bản về việc Viện kiểm sát giao cáo trạng cho bị can.Nếu trong hồ sơ vụ án chưa có biên bản về việc Viện kiểm sát giao cáo trạng chobị can thì Toà án chưa nhận hồ sơ vụ án. Đối với vụ án vừa có bị can đang bịtạm giam, vừa có bị can tại ngoại, cũng như vụ án chỉ có bị can tại ngoại, thìtrong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát gửi đếnToà án hồ sơ vụ án và quyết định truy tố cùng với biên bản giao cáo trạng chobị can đang bị tạm giam, cũng như bị can tại ngoại. Nếu Viện kiểm sát gặp khókhăn trong việc giao cáo trạng cho bị can tại ngoại, thì chậm nhất là 15 ngàykể từ ngày gửi cho Toà án hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát gửi đến Toà án biên bản vềviệc Viện kiểm sát giao cáo trạng cho bị can tại ngoại. Hết thời hạn đó, nếuViện kiểm sát không gửi đến Toà án đủ các biên bản giao cáo trạng cho bị can,thì Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát vì lý do chưa hoàn thành thủ tục tốtụng" (Xem cuốn các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế và tố tụng; năm1990; trang 164-165).

2. Việc hướng dẫn Toà án nhận hồ sơ vụ án trong trường hợpcó bị can tại ngoại và Viện kiểm sát gặp khó khăn trong việc giao cáo trạng cầnđược hiểu là Toà án tạm thời nhận hồ sơ chờ Viện kiểm sát hoàn thành thủ tục tốtụng. Trong trường hợp này Toà án chỉ vào sổ theo dõi mà chưa thụ lý vụ án. Toàán chỉ thụ lý vụ án và phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà sau khi Việnkiểm sát đã hoàn thành thủ tục tố tụng (sau khi nhận được biên bản bàn giao cáotrạng cho bị can). Chỉ khi có căn cứ khẳng định được rằng bị can đã nhận đượccáo trạng, Tòa án đã thụ lý vụ án, thì Toà án mới có quyền quyết định áp dụngbiện pháp ngăn chặn.

9. Một người thực tế có tham gia vào việc phạm tội nhưngkhông bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự theoquy định tại Điều 12và Điều 25 Bộ luậthình sự năm 1999 (Ví dụ: Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi không chịutrách nhiệmhình sự về tội phạm ítnghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọngtheoquy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999) hoặc họ có thể là bị đơndân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nếu như xét thấysự có mặt của họ tại phiên toà là cần thiết để khai báo và đối chất với các bịcáo trong vụ án, Tòa án đã triệu tập họ hợp lệ đến lần thứ 2 mà họ vẫn cố tìnhvắng mặt không có lý do chính đáng, thì có thể dẫn giải họ đến phiên toà đượckhông? Nếu được thì áp dụng điều khoản nào của Bộ luật tố tụng hình sự và cơquan nào được quyền ra lệnh dẫn giải, cơ quan nào thi hành lệnh dẫn giải?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 43Bộ luật tố tụng hình sự thì "người nào biết được những tình tiết có liênquan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng". Như vậy, đối vớitrường hợp một người thực tế có tham gia thực hiện tội phạm nhưng không bị truycứu trách nhiệm hình sự (do chưa đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tộiphạm đã thực hiện) hoặc được miễn trách nhiệm hình sự, thì họ không những cóthể là bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án màhọ còn có thể là người làm chứng; vì vậy, nếu xét thấy sự có mặt của họ tạiphiên toà là cần thiết để khai báo và đối chất với các bị cáo trong vụ án, thìTòa án có thể triệu tập họ đến phiên toà với tư cách là người làm chứng. Trongtrường hợp họ đã được Toà án triệu tập, nhưng cố ý không đến mà không có lý dochính đáng thì theo quy định tại khoản 4 Điều 43 Bộ luật tố tụng hình sự họ cóthể bị dẫn giải đến phiên toà. Việc dẫn giải người làm chứng đến phiên toà đã được hướng dẫn tại điểm 2 Thông tư liênngành số 01/TTLN ngày20-3-1993 của TANDTC, VKSNDTC, BNV, BTP"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa BLTTHS"; cụ thể là: "... Trongtrường hợp... Toà án ra quyết định dẫn giải người làm chứng, thì quyếtđịnh đó được gửi cho Thủ trưởng cơ quan công an cùng cấp. Cơ quan công an cótrách nhiệm dẫn giải người làm chứng đến đúng thời gian, địa điểm ghi trong quyết định..." (Xem cuốnCác văn bản về hình sự, dân sự, kinhtế và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1995; trang 106, 107).

10. Hiện nay ở địa phương có hai quan điểm trái ngược nhauvề một vấn đề như sau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: ở giai đoạn điều tra chỉ cónhững người là điều tra viên mới được quyền tiến hành tố tụng, thu thập cácchứng cứ (như hỏi cung bị can, ghi lời khai của người bị hại hoặc nhânchứng...); còn những tình tiết có liên quan đến vụ án được thu thập bởi nhữngngười không phải là điều tra viên thì không phải là chứng cứ pháp lý được quyđịnh tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Quan điểm thứ hai cho rằng: những cán bộ cảnh sát hình sựhoặc phó (trưởng) công an xã, phường, thị trấn cũng có thể ghi lời khai củangười bị hại hoặc nhân chứng... thu thập vật chứng... và các tài liệu đó cũngđược xem là chứng cứ.

Trong hai quan điểm trên thì quan điểm nào là đúng?

Trước hết cần chú ý là không phải bất cứ biên bản hỏi cungbị can, biên bản ghi lời khai của người bị hại, biên bản ghi lời khai của nhânchứng... (mặc dù do điều tra viên thực hiện) đều được coi là chứng cứ. Chỉ đượccoi là chứng cứ những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật tốtụng hình sự quy định mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căncứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạmtội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án đúng đắn.Ví dụ: Biên bản ghi lời khai của một người được điều tra viên xác định là ngườilàm chứng, nhưng sự thực người đó không biết bất cứ tình tiết nào có liên quanđến vụ án, thì biên bản ghi lời khai của người này không phải là chứng cứ.

Theo quy định tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự thì:"Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cóquyền... yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu, trình bàynhững tình tiết làm sáng tỏ vụ án" (khoản 1) và "... cơ quan, tổ chứchoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày nhữngvấn đề có liên quan đến vụ án" (khoản 2). Đồng thời theo quy định tại Điều60 Bộ luật tố tụng hình sự thì: "những tình tiết có liên quan đến vụ ánđược ghi trong các tài liệu do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp có thểđược coi là chứng cứ. Trong trường hợp nhữngtài liệu này có những dấu hiệu quy định tại Điều 56 Bộ luật này thì đượccoi là vật chứng". Do đó, trong các trường hợp cán bộ cảnh sát hình sự,Trưởng hoặc Phó trưởng công an xã, phường, thị trấn trong khi thực hiện công vụđã tiến hành lập biên bản về việc vi phạm pháp luật, ghi lời khai của người bịhại hoặc người làm chứng... và chuyển cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vàToà án thì các tài liệu này cũng được coi là chứng cứ, nếu đáp ứng các điềukiện quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự.

11. Cách xác định ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo, ngườibị hại chưa thành niên như thế nào để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bịcan, bị cáo trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biệnpháp hợp pháp nhưng vẫn không xác định được?

Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sựthật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứxác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và nhữngtình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo.

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiếnhành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mìnhvô tội".

Như vậy, theo tinh thần quy định trên đây trong trường hợpcác cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn khôngxác định được ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo, người bị hại thì về nguyêntắc chung các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng phương pháp nào xác địnhtrách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo chính xác và có lợi cho bị can, bị cáo;do đó, trong trường hợp này cần xác định ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo,người bị hại chưa thành niên như sau:

1. Cách xác định ngày, tháng sinh của bị can, bị cáo chưathành niên.

a- Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định đượcngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh củabị can, bị cáo để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

b- Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xácđịnh được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuốicùng của quý đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo để xem xét trách nhiệm hình sựđối với bị can, bị cáo;

c- Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm,nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30 tháng 6 hoặc ngày 31 tháng 12tương ứng của năm đó làm ngày sinh củabị can, bị cáo để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

d- Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nàotrong năm thì lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáođể xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

2. Cách xác định ngày, tháng sinh của người bị hại chưathành niên.

a- Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định đượcngày nào trong tháng đó thì lấy ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh củangười bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo;

b- Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xácđịnh được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mồng một của tháng đầu củaquý đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bịcan, bị cáo;

c- Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm,nhưng không xác định được ngày, tháng nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thìlấy ngày mồng một tháng giêng hoặc ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đólàm ngày sinh của người bị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can,bị cáo;

d- Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nàotrong năm, thì lấy ngày mồng một tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của ngườibị hại để xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo.

12. Đề nghị hướng dẫn về thủ tục điều chỉnh hình phạt tù đốivới các bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp Chánh án Toà ánđã xét xử sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án và người bị kết án đang chấphành hình phạt tù, nhưng lại được Toà án cấp phúc thẩm giảm hình phạt tù theoquy định tại khoản 2 Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự?

Không cần phải có bất kỳ thủ tục nào điều chỉnh hình phạttù, quyết định thi hành án phạt tù đối với bị cáo không có kháng cáo, không bịkháng cáo, kháng nghị trong trường hợp Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm đã raquyết định thi hành án phạt tù và họ đang chấp hành hình phạt tù, nhưng lạiđược Tòa án cấp phúc thẩm giảm án theo quy định tại khoản 2 Điều 221 Bộ luật tốtụng hình sự, bởi vì việc Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm đã ra quyết địnhthi hành án phạt tù là đúng. Việc tính thời hạn chấp hành hình phạt tù chongười bị kết án trong trường hợp này cũng được thực hiện tương tự như trongtrường hợp người đang chấp hành hình phạt tù được giảm thời hạn chấp hành hìnhphạt tù. Cụ thể là Toà án cấp phúc thẩm trực tiếp hoặc thông qua Toà án cấp sơthẩm gửi cho cơ quan thi hành án phạt tù, người bị kết án bản sao bản án phúcthẩm để thi hành. Cơ quan thi hành án sẽ lưu bản sao bản án phúc thẩm này vàohồ sơ thi hành án và căn cứ vào bản sao bản án phúc thẩm này để tính thời hạnchấp hành hình phạt tù cho người bị kết án.

Đối với Toà án cấp phúc thẩm cần chú ý là trong trường hợpbị cáo bị phạt tù và đang chấp hành hình phạt tù mà Toà án cấp phúc thẩm giảmnhẹ hình phạt cho bị cáo và hình phạt này bằng hoặc ngắn hơn thời hạn họ đãchấp hành hình phạt tù, thì Toà án cấp phúc thẩm cần tuyên bố trong bản án làtrả tự do ngay cho bị cáo, nếu họ không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạmpháp luật khác.

13. Trường hợp bị cáo bỏ trốn, cơ quan công an đã ra lệnhtruy nã nhưng không có kết quả; Toà án xét xử vắng mặt bị cáo và ra quyết địnhthi hành án phạt tù nhưng không bắt được bị cáo; trường hợp này Toà án có phảiyêu cầu cơ quan công an ra lệnh truy nã mới để bắt người bị kết án đi chấp hànhhình phạt tù hay không?

Theo tinh thần quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cũngnhư tinh thần hướng dẫn trong Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7-1-1995 củaToà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, thì thẩmquyền ra quyết định (lệnh) truy nã và quyết định đình nã là của cơ quan điềutra. Quyết định (lệnh) truy nã chỉ hết hiệu lực khi người bị truy nã đã chếthoặc bị bắt giữ theo quyết định (lệnh) truy nã hoặc trong trường hợp có quyết địnhđình nã của cơ quan điều tra; do đó, trong trường hợp bị cáo bỏ trốn, cơ quancông an đã ra quyết định (lệnh) truy nã nhưng không có kết quả và Toà án xét xửvắng mặt bị cáo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫntrong Thông tư liên ngành số 03/TTLN nói trên, thì khi bản án sơ thẩm của Toàán có hiệu lực pháp luật Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hànhán và gửi cho cơ quan thi hành án phạt tù cùng bản sao bản án này mà không cầnphải yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định (lệnh) truy nã mới.

14. Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Trongtrường hợp cần thiết, việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra phải có mặt đạidiện của gia đình bị can...". Vậy "trường hợp cần thiết" lànhững trường hợp như thế nào để có căn cứ xác định có sự vi phạm nghiêm trọngthủ tục tố tụng hay không?

Việc quy định (hoặc hướng dẫn) cụ thể những trường hợp nàolà trường hợp cần thiết mà khi thuộc một trong những trường hợp đó việc hỏicung bị can tại cơ quan điều tra phải có mặt đại diện của gia đình bị can làrất quan trọng, bởi lẽ để căn cứ vào đó mà Viện kiểm sát, Toà án xác định có sựvi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không. Tuy nhiên, do Bộ luật tố tụnghình sự chưa có quy định cụ thể và Bộ Công an, Bộ Quốc phòng cũng chưa có hướngdẫn, đồng thời theo quy định tại khoản 1 Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự, thìđại diện của gia đình bị can, bị cáo có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng theoquyết định của cơ quan điều tra; do đó, việc đánh giá trường hợp nào là"trường hợp cần thiết" hiện nay phụ thuộc vào đánh giá của cơ quanđiều tra. Vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên toà, nếutheo đánh giá của Toà án thì trường hợp đó có thể được coi là trường hợp cầnthiết, nhưng việc hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra không có mặt đại diệncủa gia đình bị can (do cơ quan điều tra đánh giá trường hợp này không phải làtrường hợp cần thiết), thì Toà án không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung vớilý do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

15. Hội thẩm nhân dân là giáo viên đã nghỉ hưu có thể thamgia thành phần Hội đồng xét xử đối với bị cáo vị thành niên theo như quy địnhtại khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự được hay không?

Khi xét xử sơ thẩm mà bị cáo là người chưa thành niên, thìtheo quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự "thành phần Hộiđồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoànthanh niên cộng sản Hồ Chí Minh".

Khái niệm "giáo viên" quy định tại khoản 1 Điều277 Bộ luật tố tụng hình sự cần được hiểu là những "nhà giáo" - nhữngngười làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dụckhác, kể cả trong trường hợp họ đã nghỉ hưu.

16. Trường hợp bị cáo là người chưa thành niên đã bỏ nhà đikhỏi địa phương, nhiều năm đến địa phương khác, không có nơi ở nhất định, giađình bị cáo cũng đã chuyển đi không còn ai ở địa phương nơi bị cáo sinh ra.Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú trước đây cũng như tại nơi bị cáo đếnđều trả lời không biết bị cáo là ai nên họ không tham gia làm đại diện. Trongtrường hợp này việc áp dụng khoản 1 Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự như thếnào?

Vấn đề này đã được hướngdẫn tại điểm 6 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 20-6-1992 của Toà ánnhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ "Hướng dẫnthực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về lý lịch của bị can, bịcáo"; cụ thể: "Theo quy định ở Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự thìtại phiên toà xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện củagia đình bị cáo, đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội nơi bị cáo họctập, lao động và sinh sống. Tuy nhiên, trong trường hợp không xác minh được lýlịch của bị cáo thì tại phiên toà xét xử không nhất thiết phải có mặt đại diệncủa gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường hoặc tổ chức xã hội". (XemCuốn các văn bản vềhình sự, dân sự, kinh tếvà tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1992; trang 144). Như vậy, trong trường hợp này, Toà ánchỉ cần yêu cầu Đoàn luật sư cử ngườibào chữa cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 37 và Điều 275Bộ luật tố tụng hình sự.

17. Nếu tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy cần khởi tố vụ ándo phát hiện được tội phạm mới hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra thìhình thức quyết định khởi tố vụ án bằng một quyết định khởi tố vụ án riêng hayghi thành một điểm trong phần quyết định của bản án? Dù bằng hình thức nào thìviệc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định này như thế nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự,thì "...Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiêntoà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra".Khoản 3 Điều này quy định "Trong thời hạn 24 giờ... quyết định khởi tố củaToà án được gửi đến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra".Đồng thời theo quy định về nội dung bản án tại Điều 198 Bộ luật tố tụng hình sựthì trong bản án không có việc xem xét quyết định khởi tố vụ án. Như vậy, theocác quy định này thì việc Toà án khởi tố vụ án tại phiên toà là bằng một quyếtđịnh khởi tố vụ án riêng mà không được ghi thành một điểm trong phần quyết địnhcủa bản án.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 91 Bộ luật tố tụng hình sựthì "trong trường hợp quyết định khởi tố của Toà án không có căn cứ thìViện kiểm sát kháng nghị lên Toà án cấp trên".

Cần chú ý là theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hìnhsự thì cả Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm đều có quyền ra quyết địnhkhởi tố vụ án. Đồng thời theo quy định tại khoản 2 Điều 213 Bộ luật tố tụnghình sự thì chỉ có quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Toà án cấpsơ thẩm mới có thể bị kháng cáo (trừ quyết định về việc áp dụng biện pháp bắtbuộc chữa bệnh thì việc kháng cáo hoặc kháng nghị đối với quyết định này đượctiến hành như đối với bản án sơ thẩm); do đó, đối với quyết định khởi tố vụ áncủa Toà án thì không người nào có quyền kháng cáo.

18. Tại phiên toà phúc thẩm nếu những người tham gia tố tụnghoặc Viện kiểm sát đề nghị hoãn phiên toà vì chưa được thông báo về việc khángcáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 210 Bộ luật tố tụng hình sự thì giải quyết như thế nào, có phải hoãnphiên toà theo Điều 168a Bộ luật tố tụng hình sự không?

Khoản 1 Điều 210 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định Toà áncấp sơ thẩm thông báo cho Viện kiểm sát mà không quy định cụ thể là Viện kiểmsát nào (Viện kiểm sát cùng cấp hay Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Việnkiểm sát cùng cấp). Tinh thần của quy định này cần được hiểu là Viện kiểm sátcùng cấp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự thì:"Tại phiên toà phúc thẩm sự tham gia của kiểm sát viên Viện kiểm sát cùngcấp là bắt buộc; nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên toà". Đồng thời theo hướng dẫn tại Mục 3 phần VI Thông tư liênngành số 01/TTLN ngày8-12-1988 của Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao"Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự"thì: "Để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm có tài liệu thamgia phiên toà, khi gửi hồ sơ kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp sơ thẩm cần gửithêm một bản sao bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm (bản này không đánh sốthứ tự các tài liệu trong hồ sơ).

Để cả hai bên đều được chủ động thời gian nghiên cứu hồ sơ,trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Toà án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơcho Viện kiểm sát cùng cấp để Viện kiểm sát nghiên cứu trước. Thời gian nghiêncứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp tỉnh là 10 ngày, của Viện phúc thẩm Viện kiểmsát nhân dân tối cao là 20 ngày. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Toà ántrong thời hạn đó". (Xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng;Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1990; trang 138).

Mặt khác theo quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng hình sựthì "Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xétthấy cần thiết thì Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bịkháng cáo, kháng nghị của bản án". Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu hồsơ vụ án để tham gia phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát cấp phúc thẩm cũng phảinghiên cứu các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án sơ thẩm; dođó, nếu Viện kiểm sát cấp phúc thẩm đề nghị hoãn phiên toà vì chưa được thôngbáo về việc kháng cáo, kháng nghị là không đúng tinh thần quy định của Bộ luậttố tụng hình sự và các hướng dẫn của Thông tư liên ngành nói trên.

Đối với những người tham gia tố tụng liên quan đến việckháng cáo, kháng nghị mà xin hoãn phiên tòa với lý do chưa được thông báo vềviệc kháng cáo, kháng nghị thì theo quy định tại khoản 1 Điều 210 Bộ luật tốtụng hình sự "Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo cho họ biết"; do đó,nếu họ có yêu cầu xin hoãn phiên toà thì Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầucủa họ về việc xin hoãn phiên toà đó, đồng thời thông báo luôn cho họ biết vềviệc kháng cáo, kháng nghị.

Thời hạn hoãn phiên toàphúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự làkhông được quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.

19. Tại phiên toà trong phần xét hỏi thấy có những chứng cứquan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được, thì Hội đồngxét xử có quyền quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung không? Nếu được thìđối với quyết định đưa vụ án ra xét xử trước đó được giải quyết như thế nào?

Mặc dù trong phần xét xử sơ thẩm của Bộ luật tố tụng hình sựkhông có Điều luật quy định cụ thể về việc Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơđể điều tra bổ sung như Điều 154 quy định thẩm quyền của Thẩm phán trong giaiđoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tại phiên toà sơ thẩm, khi thấy có một trong các trườnghợp quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xétxử không được ra quyết định trả hồ sơ đểđiều tra bổ sung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự thì một trong các quyết định mà Hộiđồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng nghị án, đó là quyết định yêucầu điều tra bổ sung. Điều đó có nghĩa là tại phiên toà khi xét thấy có mộttrong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự thìHội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự để ra quyếtđịnh trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Theo hướng dẫn tại Mục 4 Phần I Thông tư liên ngành số01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tốicao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hìnhsự" thì: "khi Toà án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, thìToà án xoá sổ thụ lý, Viện kiểm sát ghi việc Toà án trả hồ sơ vào sổ thụ lý củamình. Khi nhận lại hồ sơ, Toà án thụ lý lại. Ngày chuyển hồ sơ cho Viện kiểmsát và ngày thụ lý lại cũng được đóng dấu (hoặc ghi) vào bìa hồ sơ"; dođó, đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử trước đó Toà án không phải giảiquyết gì, mà vẫn được lưu trong hồ sơ vụ án. Sau khi Viện kiểm sát đã điều trabổ sung hoặc không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu điều tra bổ sungvà chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án thì Toà án thụ lý lại và giải quyết vụ án theothủ tục chung. Theo hướng dẫn tại Mục II Thông tư liên ngành nói trên thì"... khi nhận lại hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, Toà án ra quyết định đưavụ án ra xét xử" (xem cuốn Các văn bản về hìnhsự, dân sự và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1990; trang135).

20. Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trườnghợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng. Thực tế có trường hợp Luật sư và Thưký phiên toà có quan hệ là cha con ruột thì có coi là vi phạm nghiêm trọng thủtục tố tụng không?

Nếu không có căn cứ rõ ràng nào khác (ngoài các căn cứ quyđịnh tại các điểm 1 và 2 Điều 28, Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự), mặc dùtrong vụ án giữa người tiến hành tố tụng là Thư ký phiên toà và người tham giatố tụng là Luật sư (người bào chữa) có quan hệ ruột thịt (cha con, anh emruột...) thì Thư ký phiên toà không thuộc một trong các trường hợp phải từ chốitiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.Tuy nhiên, trong trường hợp này theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 Bộluật tố tụng hình sự thì Luật sư không được bào chữa. Nếu Toà án chấp nhận họlà người bào chữa là vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 Bộ luật tốtụng hình sự, tức là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễncho thấy có Luật sư đã tham gia bào chữa cho bị can từ giai đoạn điều tra (hoặcbào chữa cho bị cáo từ giai đoạn sơ thẩm) và tiếp tục bào chữa cho bị cáo tạiphiên toà sơ thẩm (hoặc bào chữa cho bị cáo tại phiên toà phúc thẩm) thì trongtrường hợp này để tạo thuận lợi cho Luật sư và bảo đảm quyền bào chữa của bịcáo, Toà án không phân công người thân thích của Luật sư làm Thư ký phiên toà.Nếu đã phân công thì cần thay đổi người khác làm Thư ký phiên toà.

21. Bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm phạt tù và phạt tiền làhình phạt bổ sung. Chỉ có bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Khi xét xửphúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù, nhưngcho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời tăng mức hình phạt tiền là hình phạtbổ sung. Toà án cấp phúc thẩm quyết định như vậy có đúng hay không?

Trong trường hợp này chỉ có kháng cáo của bị cáo xin đượchưởng án treo và Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên (hoặc giảm) mức hình phạt tù,nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là theo hướng có lợi cho bị cáo. Tuy nhiênviệc Toà án cấp phúc thẩm tăng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung khikhông có kháng nghị của Viện kiểm sát là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụngquy định tại khoản 3 Điều 221 Bộ luật tố tụng hình sự.

22. Việc xét giảm thời gian thử thách của án treo được tiếnhành như thế nào? Thành phần của Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của ántreo gồm những ai?

Trước đây về điều kiện,thủ tục và thành phần Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của án treo đã đượchướng dẫn cụ thể tại Mục VIII Nghị quyết số 1/HĐTP ngày 18-10-1990 củaHội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn về việc áp dụng Điều44 Bộ luật hình sự" (xem cuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụngtập 2; năm 1992; tr.13). Quy định về án treo trong Bộ luật hình sự năm 1999 vềcơ bản không có gì khác quy định về án treo trong Bộ luật hình sự năm 1985; dođó, điều kiện, thủ tục và thành phần Hội đồng xét giảm thời gian thử thách củaán treo vẫn được thực hiện theo hướng dẫn trong Nghị quyết số 1/HĐTP nói trên.Cần lưu ý là ở những Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,Toà án quân sự khu vực nếu có đủ Thẩm phán thì Hội đồng xét giảm thời gian thửthách của án treo là ba Thẩm phán; nếu không có đủ ba Thẩm phán thì thành phần Hội đồng xét giảm thời gian thử thách của ántreo là hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân (hoặc Hội thẩm quân nhân).

23. Đối với các vụ án về các tội chiếm đoạt nếu theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự là thuộc thẩm quyền xét xửcủa Toà án nhân dân cấp huyện, nhưng trong vụ án có người bị hại hoặc nguyênđơn dân sự là người nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài, thì Toà án cấp nào cóthẩm quyền xét xử?

Không chỉ đối với các vụ án về các tội chiếm đoạt, mà đốivới tất cả các loại vụ án nói chung, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộluật tố tụng hình sự là thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện,nhưng trong vụ án có bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi hoặc nghĩa vụliên quan, nguyên đơn dân sự là người nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài, thìcăn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành là thuộc thẩm quyền xétxử của Toà án nhân dân cấp tỉnh.

24. Hiện nay vừa có các Đoàn luật sư vừa có các Văn phòngluật sư. Vậy trong các trường hợp pháp luậtquy định bắt buộc phải có Luật sư bào chữa cho bị cáo, thì Toà án yêucầu Đoàn luật sư hay yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị cáo?

Theo tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 37 Bộ luật tố tụnghình sự thì trong các trường hợp pháp luật quy định bắt buộc phải có Luật sưbào chữa cho bị cáo, nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mờingười bào chữa, thì Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bịcáo. Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư mà không phải là Văn phòng luật sư, bởivì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, còn Văn phòng luật sư là tổchức hoạt động kinh doanh, dịch vụ tư vấn pháp lý.

25. Người bị kết án là phụ nữ đang chấp hành hình phạt tù,nhưng phát hiện là có thai và được Ban giám thị trại giam đề nghị Toà án chotạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì Toà án có chấp nhận không?

Theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 Bộ luật tố tụng hìnhsự, thì phụ nữ đang có thai là một trong các trường hợp có thể được tạm đìnhchỉ chấp hành hình phạt tù; do đó, khi người bị kết án là phụ nữ đang chấp hànhhình phạt tù, nhưng phát hiện có thai, nếu Ban giám thị trại giam đề nghị Toàán cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, thì nói chung Toà án nên chấp nhậncho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, trừ các trường hợp sau đây:

a) Nếu xét thấy cho họ được tạm đình chỉ chấp hành hình phạttù thì họ lại tiếp tục phạm tội;

b) Họ không có nơi cư trú nhất định;

c) Họ bị xử phạt tù từ 10 năm trở lên về tội rất nghiêmtrọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.

III. VỀ DÂN SỰ

1. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểmcao độ gây ra quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 627 Bộ luật dân sự được xácđịnh như thế nào?

a. Khoản 2 Điều 627 Bộ luật dân sự quy định về chủ thể phảichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Trướcđây Toà án nhân dân tối cao tạm hướng dẫn là: "Nếu chủ sở hữu đã giao chongười khác chiếm hữu, hoặc giao cho người khác sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ,thì chủ sở hữu và người chiếm hữu hoặc người sử dụng phải chịu trách nhiệm liênđới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra" (Xem Cuốn giảiđáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng;Toà án nhân dân tối cao xuất bản năm 1999; trang 111). Nay Toà án nhân dân tốicao thống nhất hướng dẫn như sau:

- Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệthại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu chủ sở hữu vẫn chiếm hữu, sử dụng.

- Người được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng nguồnnguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra,trừ trường hợp chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thoả thuậnkhác. Thoả thuận khác không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc khôngnhằm trốn tránh việc bồi thường (ví dụ: chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu,sử dụng thoả thuận cùng chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại; thoảthuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước, sau đó người được giao chiếm hữu,sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường; thoả thuận ai cóđiều kiện hơn thì người đó bồi thường thiệt hại trước...)

b. Khoản 3 Điều 627 Bộ luật dân sự quy định các trường hợpphải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Theo quy định tại khoản 3 này thì chủ sở hữu, người được chủsở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hạicả khi không có lỗi, trừ thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bịthiệt hại (ví dụ một người đâm đầu vào xe ô tô để tự tử), thiệt hại xảy ratrong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, trong trườnghợp pháp luật có quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trườnghợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì thực hiện theo quy định đó củapháp luật.

c. Khoản 4 Điều 627 Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao gây ra trong trường hợp nguồn nguy hiểmcao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật.

Về nguyên tắc chung nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữugiao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi trong việc để nguồnnguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (đã thực hiện đầy đủ cácquy định về bảo quản, sử dụng... nguồn nguy hiểm cao độ), thì chỉ người chiếmhữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ mà gây thiệt hại phải bồithường. Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồnnguy hiểm cao độ cũng có lỗi (Ví dụ: để xe ô tô bên vệ đường không khoá vàkhông rút chìa khoá khỏi ổ điện...) để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sửdụng trái pháp luật và gây thiệt hại, thì phải liên đới cùng với người chiếmhữu, sử dụng trái pháp luật bồi thường thiệt hại.

2. Việc quyết định bồi thường thiệt hại do tính mạng, sứckhoẻ bị xâm phạm quy định tại Điều 616 Bộ luật dân sự được thực hiện theophương thức nào, bởi vì thực tiễn cho thấy có Toà án quyết định bồi thường hàngtháng, có Toà án quyết định bồi thường một lần...?

Điều 616 Bộ luật dân sự chỉ quy định thời hạn hưởng bồithường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm (bao gồm bồi thường thiệthại trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động; tiềncấp dưỡng trong trường hợp người bị thiệt hại chết). Khi giải quyết yêu cầu đốivới các khoản này, trước hết Toà án cần tiến hành hoà giải; nếu qua hoà giải màcác bên thoả thuận được với nhau về phương thức bồi thường thiệt hại nào (hàngtháng, hàng quý, hàng năm hoặc một lần) thì Toà án chấp nhận sự thoả thuận củacác bên về phương thức bồi thường thiệt hại đó. Trường hợp các bên không thoảthuận được thì Toà án quyết định phương thức bồi thường thiệt hại hàng tháng.Trong trường hợp đặc biệt, nếu người được bồi thường thiệt hại hoặc người đượccấp dưỡng yêu cầu được bồi thường hoặc cấp dưỡng theo phương thức một lần vàxét thấy yêu cầu của họ là chính đáng và người phải bồi thường, người có nghĩavụ cấp dưỡng có điều kiện thi hành án thì Toà án có thể quyết định phương thứcmột lần.

3. Khi giải quyết các tranh chấp về cho vay ngoại tệ có lãithì đối với phần lãi cần quyết định như thế nào?

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các giao dịch giữacác cá nhân về việc vay ngoại tệ có lãi là vô hiệu; do đó, khi có tranh chấp vàcó yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án áp dụng Điều 146 Bộ luật dân sự buộcbên vay phải trả cho bên cho vay số nợ gốc (tính ra tiền Việt Nam tại thời điểmxét xử sơ thẩm). Đối với khoản lãi nếu bên vay đã trả cho bên cho vay thì phảituyên tịch thu sung quỹ Nhà nước; nếu chưa trả thì không tuyên tịch thu.

4. Khi có các yêu cầu chia tài sản chung là nhà mặt phố códiện tích hẹp, nhưng có địa thế kinh doanh tốt thì cần giải quyết thế nào?

Về nguyên tắc chúng ta phải tuân theo quy định tại Điều 238Bộ luật dân sự về chia tài sản thuộc sở hữu chung. Để có quyết định đúng Toà áncần điều tra xem xét cụ thể nhà ở. Nếu các đương sự đều có yêu cầu chia tài sảnchung và tài sản chung đó có thể chia được để sử dụng kinh doanh, cho thuê lại(vẫn bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu và sự độc lập của mỗi chủ sở hữu saukhi chia) thì Toà án quyết định chia tài sản chung. Nếu tài sản chung là nhà ởđó không thể chia được (không bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu và sự độclập của mỗi chủ sở hữu sau khi chia) thì Toà án cho định giá tài sản thành tiềntheo giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương vào thời điểm xét xử sơ thẩm đểchia.

5. Khi giải quyết việc ly hôn và có yêu cầu phân chia tàisản mà có trường hợp người khác nợ vợ chồng họ hoặc vợ chồng họ nợ người khác,thì có đưa những người đó vào tham gia tố tụng không?

Khi giải quyết việc ly hôn và có yêu cầu phân chia tài sảnmà người khác nợ vợ chồng họ hoặc vợ chồng họ nợ người khác thì cần phải đưangười nợ hoặc chủ nợ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan, trừ các trường hợp sau đây:

- Vợ chồng cùng đồng ý không buộc người nợ phải trả nợ chohọ;

- Chủ nợ đồng ý không buộc vợ chồng họ phải trả nợ cho chủnợ.

- Chủ nợ chưa có yêu cầu vợ chồng họ phải trả nợ cho chủ nợ.

6. Người có công với cách mạng được Nhà nước trợ cấp hay hỗtrợ cho một khoản tiền. Nay người đó đã chết, nếu xảy ra tranh chấp đòi chia sốtiền đó và có yêu cầu Toà án giải quyết, thì đây là vụ án chia thừa kế hay vụán dân sự khác?

Tuỳ thuộc vào từng trườnghợp cụ thể mà xác định đó là vụ án gì; cụ thể như sau:

a. Trong các trường hợp sau đây là tranh chấp chia thừa kế,nếu có yêu cầu Toà án giải quyết thì Toà án thụ lý để giải quyết theo thủ tụcchung như đối với vụ án chia thừa kế:

- Nếu khoản tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho chínhngười có công với cách mạng và người đó đã nhận được khi còn sống, nhưng saukhi chết còn để lại số tiền đó hoặc tài sản được tạo lập từ số tiền đó và nhữngngười thân thích của người đó có tranh chấp;

- Nếu khoản tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗ trợ cho chínhngười có công với cách mạng, nhưng sau khi người đó chết, thì những người thânthích của người đó mới nhận được và giữa họ có tranh chấp.

b. Trong trường hợp khoản tiền đó là Nhà nước trợ cấp hay hỗtrợ cho những người thân thích của người có công với cách mạng và giữa họ cótranh chấp, đồng thời có yêu cầu Toà án giải quyết, thì đây là vụ án dân sự vềyêu cầu chia tài sản chung, nhưng cần chú ý:

- Nếu trong văn bản, tài liệu về trợ cấp, hỗ trợ có ghi rõtrợ cấp hay hỗ trợ cho người nào cụ thể, thì chỉ những người có tên trong vănbản, tài liệu đó mới được hưởng.

- Nếu trong văn bản, tài liệu về trợ cấp, hỗ trợ không ghirõ trợ cấp hay hỗ trợ cho người nào cụ thể mà chỉ ghi trợ cấp, hỗ trợ cho thânnhân của người có công với cách mạng, thì cần căn cứ vào văn bản quy phạm phápluật của nhà nước quy định về đối tượng, điều kiện được hưởng trong việc thựchiện chính sách cụ thể đó để xác định thân nhân của người có công với cách mạngtrong việc thực hiện trợ cấp, hỗ trợ cụ thể này bao gồm những ai. Chỉ nhữngngười thuộc đối tượng và có đủ điều kiện đã quy định mới được hưởng.

7. Trong trường hợp hai bên nam nữ kết hôn với nhau nhằm mụcđích để được xuất cảnh đi nước ngoài hoặc để được nhập hộ khẩu, nếu đương sự cóđơn xin ly hôn thì Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật hay xử cho ly hôn?

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì nếuviệc kết hôn vi phạm một trong các quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật nàylà trái pháp luật và nếu dù một trong các bên hoặc cả hai bên có đơn xin lyhôn, thì tuỳ từng trường hợp vi phạm mà Toà án áp dụng Điều 9, Điều 10 và Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 huỷviệc kết hôn trái pháp luật.

Trong trường hợp hai bên nam nữ kết hôn với nhau mặc dù chỉvới mục đích để được xuất cảnh đi nước ngoài hoặc để được nhập hộ khẩu nhưngkhông vi phạm một trong các Điều 9, Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,nay đương sự xin ly hôn thì Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án xin ly hôn theothủ tục chung.

8. Trường hợp nam, nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợchồng trong khoảng thời gian từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 và đến nayhọ có yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Khi giải quyết vụ án Toà án nhậnthấy họ không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 thì Toà án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng hay tuyên bố huỷkết hôn trái pháp luật?

Điểm b Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9-6-2000 củaQuốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình" (sau đây gọitắt là Nghị quyết số 35 của Quốc hội) quy định: "Nam và nữ chung sống vớinhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 mà có đủ điều kiện kếthôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trongthời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lựccho đến ngày 01-01-2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn,nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hônnhân và gia đình năm 2000 để giải quyết".

Theo quy định trên đây Toà án áp dụng các quy định về ly hôncủa Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết việc ly hôn khi có yêu cầunếu có đủ các điều kiện sau đây:

a. Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng (Thếnào là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng đã được hướng dẫn tại điểm d mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày3-1-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn thi hành Nghị quyết số35/2000/QH10 ngày9-6-2000 củaQuốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình").

b. Việc họ chung sống với nhau như vợ chồng có đủ các điềukiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Thế nào làvi phạm điều kiện kết hôn đã được hướng dẫntại điểm d Mục 2 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫnáp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000").

Như vậy, trong trường hợp họ không có đủ các điều kiện a vàb trên đây thì quan hệ của họ không được coi như quan hệ vợ chồng, nếu họ cóyêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hộituyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng mà không tuyên bố huỷ kết hôn tráipháp luật, bởi vì họ không có đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này nếu có yêucầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luậthôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

IV. VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

1. Trong trường hợp có đương sự đề nghị trưng cầu giám định,nhưng họ lại không nộp tiền tạm ứng chi phí về giám định thì Toà án giải quyếtnhư thế nào?

Trong trường hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự cóđề nghị trưng cầu giám định biết quy định tại Điều 33 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự; cụ thể là: "Đương sự đã đề nghị trưng cầu giámđịnh phải nộp tiền tạm ứng chi phí về giám định; nếu vì họ không nộp mà việcgiám định không được tiến hành thì Toà án có thể căn cứ vào kết quả điều tra đãđạt được để giải quyết vụ án hoặc tự mình trưng cầu giám định". Nếu Toà ánđã giải thích mà đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí về giám định và vì thếviệc giám định không thể tiến hành được, thì Toà án có thể tự mình trưng cầu giámđịnh. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong tố tụng dân sự trách nhiệm chứng minhlà của đương sự cho nên thông thường Toà án không tự mình trưng cầu giám định,song Toà án cần tiến hành mọi biện pháp có thể để điều tra, thu thập chứng cứvà căn cứ vào kết quả điều tra, thu thập chứng cứ đã đạt được để giải quyết vụán.

2. Tại điểm 5 Phần II Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một sốquy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự" có hướng dẫn:"Trước khi xét xử phúc thẩm Toà án cũng tiến hành hoà giải...". Thựctiễn xét xử cho thấy trước khi xét xử phúc thẩm các Toà án cấp phúc thẩm thườngkhông tiến hành hoà giải. Vậy có vi phạm thủ tục tố tụng không?

Trước đây Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao cóhướng dẫn: "trước khi xét xử phúc thẩm Toà án cũng tiến hành hoàgiải...". Hướng dẫn này không cụ thể là có bắt buộc hay không? Nay Toà ánnhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể về vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Điều 65 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết cácvụ án dân sự thì trước khi xét xử phúc thẩm Toà án "có quyền" hoàgiải. Như vậy theo tinh thần của quy định này thì trước khi xét xử phúc thẩmkhông bắt buộc Toà án cấp phúc thẩm phải tiến hành hoà giải. Tuy nhiên, theoquy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì:"Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để giúp cácđương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án, trừ những trường hợp khônghoà giải được hoặc pháp luật quy định không được hoà giải"; do đó, sau khithụ lý vụ án để tiến hành giải quyết theo trình tự phúc thẩm, Toà án cấp phúcthẩm nên tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giảiquyết vụ án (trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp luật quy địnhkhông được hoà giải). Trong trường hợp trước khi mở phiên toà, Toà án tiến hànhhoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thìlập biên bản hoà giải thành. Trong trường hợp tại phiên toà, Toà án tiến hànhhoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thìkhông cần phải lập biên bản hoà giải thành, nhưng phải ghi đầy đủ vào biên bảnphiên toà. Tuy nhiên, cần chú ý là dù trước khi mở phiên toà, Toà án tiến hànhhoà giải mà các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thìToà án cấp phúc thẩm cũng phải mở phiên toà. Trên cơ sở sự thoả thuận của cácđương sự về việc giải quyết vụ án, Toà án cấp phúc thẩm căn cứ vào điểm 2 Điều69 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự để sửa bản án sơ thẩm, côngnhận sự thoả thuận của các đương sự.

3. Về giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân đượcxác lập trước ngày 1-7-1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân,tổ chức nước ngoài tham gia, nếu có yêu cầu thì Toà án có thụ lý giải quyết haykhông?

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội "Về giao dịch dân sự về nhà ởđược xác lập trước ngày 1-7-1991", thì Nghị quyết này áp dụng đối với giaodịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập trước ngày 1-7-1991 baogồm: thuê nhà ở; cho mượn; cho ở nhờ nhà ở; mua bán nhà ở; đổi nhà ở; tặng chonhà ở; thừa kế nhà ở; quản lý nhà vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân mà có ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia. Tại khoản2 Mục II Thông tư liên tịchsố 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-1-1999 của Toà án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghịquyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1-7-1991 của Uỷ banthường vụ Quốc hội" cũng đã hướng dẫn đối với các tranh chấp phát sinh từcác giao dịch dân sự về nhà ở quy định tạikhoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 nói trên mà có ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia, thì Toà ánchưa thụ lý giải quyết; nếu đã thụ lý và đang giải quyết thì ra quyết định tạmđình chỉ việc giải quyết; nếu đã có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết,thì tiếp tục tạm đình chỉ việc giải quyết.

Đây là vấn đề rất bức xúc, đang được Uỷ ban thường vụ Quốchội xem xét và sẽ có Nghị quyết riêng để giải quyết đối với loại giao dịch dânsự này.

4. Người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, học tập... và kếthôn với người Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Sau một thời gian chung sống, thì người nước ngoài về nướcvà không còn có liên lạc gì với người vợ (hoặc người chồng) ở Việt Namvới thời gian trên 6 tháng. Người vợ (hoặc người chồng) ở Việt Nam có đơn yêucầu Toà án giải quyết cho ly hôn với người nước ngoài đó, thì Toà án có thụ lýđể giải quyết không?

Trong Báo cáo Công tác ngành Toà án năm 2000 (tr. 34) có đềxuất theo hướng nếu có yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với người nướcngoài thì Toà án thụ lý và giải quyết cho ly hôn. Đề xuất này là đáp ứng đượcđòi hỏi của thực tiễn, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người Việt Nam.Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Toà án phải thụ lý để giải quyết,nhưng cần phân biệt như sau:

a. Nếu thông qua con đường ngoại giao, qua việc uỷ thác tưpháp hoặc bằng các biện pháp khác mà đã liên hệ được với bị đơn là người nướcngoài, thì Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử không phụ thuộc vào thái độcủa bị đơn có đồng ý, không đồng ý hoặc cố tình trốn tránh (cần chú ý là phảicó văn bản chứng minh việc đã liên hệ được với bị đơn, như: biên bản làm việcvới bị đơn, lời khai của bị đơn, văn bản của cơ quan thực hiện việc uỷ thác chobiết đã liên hệ được với bị đơn…).

b. Nếu thông qua con đường ngoại giao, qua việc uỷ thác tưpháp hoặc bằng các biện pháp khác mà chưa liên hệ được với bị đơn là người nướcngoài, thì Toà án phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, chờquy định mới của cơ quan có thẩm quyền.

5. Công dân Việt Nam đi học tập, lao động, công tác ở nướcngoài sau khi hết thời hạn thì bỏ đi đâu không rõ và đã quá thời hạn hai năm.Người có quyền, lợi ích liên quan có yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết tuyênbố mất tích thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp nào?

Khi công dân Việt Nam đi học tập, lao động, công tác ở nướcngoài sau khi hết thời hạn thì bỏ đi đâu không rõ và không có tin tức thì khôngthể coi đây là trường hợp có nhân tố nước ngoài; do đó, nếu người có quyền, lợiích liên quan có yêu cầu Toà án nhân dân giải quyết tuyên bố mất tích, thì Toàán nhân dân cấp huyện có thẩm quyền thụ lý giải quyết.

6. Đối với trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhậnđơn kháng cáo, nhưng xét thấy phần án phí trong bản án sơ thẩm có sai sót nêncó sửa một phần của bản án sơ thẩm về phần án phí. Vậy trường hợp này đương sựcó phải chịu tiền án phí phúc thẩm không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự, thì trong phần quyết định của bản án Toà án cần quyếtđịnh về việc giải quyết vụ án, về án phí và quyền kháng cáo của đương sự. Đốivới các quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ,trả tiền công lao động, cấm hoặc buộc phải thực hiện hành vi nhất định thì Hộiđồng xét xử có thể quyết định cho thi hành ngay. Mặt khác theo khoản 2 Điều 12Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ "quy định về án phí, lệphí Toà án" thì : "Đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm nếu Toàán cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm, huỷ một phần hoặc toàn bộ bảnán, quyết định sơ thẩm". Do đó, đối với trường hợp Toà án cấp phúc thẩm tuy chỉsửa một phần quyết định của bản án về phần án phí, thì cũng là đã sửa một phầnquyết định của bản án sơ thẩm; vì vậy, trong trường hợp này đương sự kháng cáokhông phải chịu án phí phúc thẩm.

7. Nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, nhưng thường chưaxuất trình được ngay biên lai nộp tiền cho Toà án được mà phải sau một thờigian; vậy trong trường hợp này khi Toà án nhận được biên lai thì Toà án lấyngày thụ lý vụ án là ngày nào, ngày nhận được biên lai hay ngày đương sự nộptiền (ghi trong biên lai)? Nếu lấy ngày đương sự nộp tiền (ghi trong biên lai),thì trong thời gian từ ngày đương sự nộp tiền đến ngày Toà án nhận được biênlai, Toà án đã thụ lý nhiều vụ án khác.

Cần chú ý là khoản 1 và khoản 3 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tụcgiải quyết các vụ án dân sự chỉ quy định thời hạn phải nộp tiền tạm ứng án phí,mà không quy định cụ thể thời hạn phải xuất trình cho Toà án biên lai nộp tiềntạm ứng án phí. Thực tiễn cho thấy là ngày đương sự xuất trình biên lai nộptiền tạm ứng án phí cho Toà án thường sau ngày đương sự nộp tiền tạm ứng án phícho cơ quan thi hành án. Khoản 2 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ ándân sự quy định: "Toà án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng ánphí. Nếu đương sự được miễn án phí thì ngày thụ lý là ngày Toà án nhận đơn khởikiện. Nếu đương sự được miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý là ngàyToà án cho miễn nộp tiền tạm ứng án phí". Mặc dù khoản 2 Điều 37 này không quyđịnh cụ thể như Điều 33 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, khoản 2Điều 35 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, khoản 2 Điều 32Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, nhưng không nên hiểu máy móc"ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí" là ngày họ trực tiếp nộptiền tạm ứng án phí cho cơ quan thi hành án (ghi trong biên lai). Về nguyêntắc, Toà án chỉ chấp nhận đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí khi họ xuất trìnhcho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí; do đó, trong trường hợp nguyên đơnđã nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án, nhưng chưa xuất trình đượcngay biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án mà phải sau một thời gian mớixuất trình cho Toà án được, thì ngày thụ lý vụ án là ngày đương sự xuất trìnhbiên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

8. Theo Toà án thì khi có người đến nộp đơn xin ly hôn Toàán hướng dẫn cho họ đến cơ quan thi hành ánđể nộp dự phí ly hôn, nhưng ở một số địa phương khi đương sự đến nộp dự phí ly hôn thì cơ quan thi hànhán thu ngay án phí ly hôn và nộp luôn vàocông quỹ. Cơ quan thi hành án cho rằng thu ngay án phí ly hôn mới đúngNghị định số 70/CP của Chính phủ. Vì vậy, khi Toà án có quyết định trả 50% dựphí cho đương sự thì cơ quan thi hành án không trả lại cho đương sự. Cách hiểunhư một số cơ quan thi hành án như vậy có đúng không? Nếu cơ quan thi hành ánkhông trả lại cho đương sự tiền dự phí ly hôn thì phải giải quyết như thế nào?

Trước hết cần lưu ý với các Toà án các cấp là khái niệm"dự phí" được sử dụng trước khiToà án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 85/TATC ngày 6-8-1982"Về chế độ án phí, lệ phí tại Toà án". Kể từ khi ban hành Thông tưnày đến nay trong các văn bản quy phạm pháp luật không dùng khái niệm "dựphí" này nữa. Theo Thông tư số 40/TATC ngày 1-6-1976 của Toà án nhân dântối cao "về chế độ án phí, lệ phí và cấp phí thi hành tại Toà án nhândân" thì dự phí sơ thẩm chính là tiền tạm ứng án phí sơ thẩm,dự phí kháng cáo chính là tiền tạm ứng án phí phúcthẩm (xem Tập hệ thống hoá luật lệ về tố tụng dân sự; Toà án nhân dântốicao xuất bản năm 1976; trang 64,65). Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ ándân sự, thì khi nhận được đơn khởi kiện "nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền củamình, Toà án báo ngay cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạnmột tháng, kể từ ngày nộp đơn, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, trừtrường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí".

Đồng thời khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định số 70/CPngày 12-6-1997 của Chính phủ "quy định về án phí,lệ phí Toà án" quy định:

"...

2. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được nộp cho cơquan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhànước và được rút ra để thi hành án theo quy định của Toà án.

3. Trong trường hợp người nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phínêu tại khoản 2 Điều này được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp,thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng phải làm thủ tục trả lại tiền chongười đã nộp. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí phảichịu án phí thì ngay sau khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành số tiền tạm ứng đã thu phải được chuyểnnộp vào ngân sách Nhà nước".

Như vậy, khi nhận đơn xin ly hôn, xét thấy vụ án thuộc thẩmquyền của mình Toà án đã báo cho nguyên đơn đến cơ quan thi hành án để nộp tiềntạm ứng án phí ly hôn là đúng. Theo tinh thần quy định tại Điều 11 Nghị định số70/CP nói trên và khoản 2 Điều 53 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dânsự, thì đương sự chỉ phải chịu án phí khi có quyết định của Toà án về việc giảiquyết vụ án trong đó có quyết định về án phí. Việc một số cơ quan thi hành áncho rằng trong trường hợp xin ly hôn thì thu ngay án phí ly hôn mà không phảilà tiền tạm ứng án phí ly hôn là hoàn toàn không đúng với quy định tại Nghịđịnh số 70/CP nói trên của Chính phủ. Các Toà án cần thực hiện đúng quy địnhtrong Nghị định số 70/CP của Chính phủ về án phí, lệ phí Toà án. Khi bản án,quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật trong đó có quyết định của Toà ántrả lại 50% tiền tạm ứng án phí cho đương sự thì theo quy định của Hiến pháp,Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Thi hành án dân sự, Nghị định số 70/CP của Chính phủ, cơ quan thi hành án có trách nhiệm phải thi hành. Nếu không thihành là không đúng quy định của pháp luật và đương sự có quyền khiếu nại đến cơquan có thẩm quyền giải quyết.

9. Ông A làm đơn khởi kiện đến Toà án, nhưng do hoàn cảnhđặc biệt là vì già yếu không đi lại được, đường xá xa xôi, không có ai để uỷquyền, nên không có mặt tại phiên toà được. Trong khi đó có cơ sở xác địnhquyền lợi của ông A bị xâm hại. Vậy Toà án nơi cư trú của nguyên đơn có đượcthụ lý để giải quyết vụ án hay không? Nếu Toà án có thẩm quyền thụ lý vụ án,nhưng nguyên đơn vì già yếu, ốm đau không thể có mặt tại Toà án, nên không thểtiến hành hoà giải được, thì Toà án có được xét xử vắng mặt nguyên đơn haykhông?

a- Nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tạicácđiểm 3, 4 và 5 Điều 14 Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì Toà án nơi cư trú của nguyên đơn khôngđược thụ lý vụ án để giải quyết, vì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết củaToà án đó.

b- Theo quy định tại Điều 5 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết cácvụ án dân sự thì hoà giải là thủ tục bắt buộc chỉ khi không hoà giải được hoặchoà giải không thành thì mới đưa vụ án ra xét xử, trừ những trường hợp khôngphải hoà giải quy định tại Điều 43 của Pháp lệnh này. Đồng thời theo hướng dẫntại điểm 4 Mục II Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng thẩm phánToà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự", thì những việc không hoà giải đượclà những việc "bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắngmặt không có lý do chính đáng (khoản 4 Điều 44) hoặc những trường hợp không cóđiều kiện tiến hành hoà giải như: có một bên đương sự đang ở nước ngoài, đangbị giam giữ hoặc do những trở ngại khách quan như bị tai nạn, ốm đau nên khôngthể có mặt được khi hoà giải". Mặt khác theo quy định tại khoản 3 Điều 48Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì "việc xét xử vẫn đượctiến hành nếu đương sự yêu cầu xét xử vắng mặt họ...". Như vậy, theo cácquy định và hướng dẫn trên đây trong trường hợp nguyên đơn do sức khỏe già yếu,ốm đau, không có người để uỷ quyền cho họ tham gia tố tụng và có yêu cầu xét xửvắng mặt họ, thì Toà án không phải tiến hành hoà giải và tiến hành việc xét xửvụ án theo thủ tục chung mà không cần sự có mặt của nguyên đơn.

10. Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 70/CP quy định "Trướckhi mở phiên toà, Toà án hoà giải mà các đương sự tự thoả thuận với nhau vềgiải quyết vụ án, thì đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định tại Điều 7 củaNghị định này".

Tại khoản 3 Điều 11 quy định "... Trong trường hợp thuậntình ly hôn, thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí dân sự sơ thẩm"

Vậy trong trường hợpthuận tình ly hôn thì theo Nghị định số 70/CP nói trên mỗi bên đương sựphải chịu 25.000đ hay 12.500đ?

Cần chú ý là trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn khôngthuộc trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giảiquyết trong vụ án (hòa giải thành) để được tính án phí theo quy định tại khoản2 Điều 11 Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ "quy định về ánphí, lệ phí Toà án". Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn (thuận tình lyhôn), Toà án tiến hành hoà giải để hai bên đương sự trở về đoàn tụ với nhau,nhưng họ vẫn kiên quyết xin ly hôn thì đây là hoà giải đoàn tụ không thành. Nếunhư đối với các trường hợp tranh chấp khác thì trong trường hợp này Toà án phảilập biên bản hoà giải không thành và đưa vụ án ra xét xử, nhưng đối với trườnghợp họ vẫn kiên quyết xin ly hôn, thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụkhông thành và sau đó lập biên bản về sự thoả thuận của các đương sự về thuậntình ly hôn... Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập các biên bản này mà cácđương sự không có thay đổi ý kiến thì Toà án áp dụng khoản 2 Điều 44 Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000ra quyết định công nhận cho thuận tình ly hôn. Chính vì vậy, khoản 3 Điều 11Nghị định số 70/CP nói trên quy định trong trường hợp thuận tình ly hôn, thìmỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí dân sự sơ thẩm, có nghĩa là phải chịumột nửa của 50.000 đồng (tức là 25.000 đồng).

11. Trong vụ án ly hôn hai bên thoả thuận chia tài sản chungthì Toà án có cần phải định giá tài sản hay không và họ có phải chịu án phí đốivới tài sản như vụ án có giá ngạch hay không?

Có cần phải định giá tài sản hay không và họ có phải chịu ánphí đối với tài sản như vụ án có giá ngạch hay không thì tuỳ vào từng trườnghợp cụ thể như sau:

a. Nếu các đương sự đã tự thoả thuận được với nhau về việcchia tài sản chung và sự thoả thuận đó bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ vàcon theo quy định tại Điều 90, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thìToà án không cần phải định giá tài sản và họ không phải chịu án phí đối với tàisản như vụ án có giá ngạch.

b. Nếu các đương sự khi có yêu cầu ly hôn chưa thoả thuậnđược với nhau về việc chia tài sản và cũng chưa thoả thuận được về giá trị tàisản có yêu cầu Toà án giải quyết hoặc có thoả thuận với mức thấp nhằm mục đích trốn thuế, giảm tiền nộp án phí thì theo quy địnhtại điểm đ khoản 1 Điều 38 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dânsự, Toà án phải yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giátài sản có tranh chấp trước khi hoà giải. Nếu Toà án tiến hành hoà giải theoquy định tại Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (Toà án tiếnhành hoà giải trước khi mở phiên toà) mà các đương sự thoả thuận được với nhauvề việc chia tài sản chung, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều11 Nghị định số 70/CP ngày 12-6-1997 củaChính phủ quy định về án phí, lệ phí Toàán, các đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định tại khoản 2 Điều 7của Nghị định này, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí. Nếu tạiphiên toà Toà án tiến hành hoà giải mà các đương sự mới thoả thuận được vớinhau về việc chia tài sản chung thì họ phải chịu án phí như trường hợp Toà ánphải tiến hành xét xử.

12. Theo quy định tại khoản 2 Điều31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì: "... Người kháng cáo theothủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn khángcáo; Nếu trong thời hạn đó mà không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì coinhư không kháng cáo..., trừ trường hợp có lý do chính đáng". Thực tiễn chothấy trong phần quyết định của các bản án dân sự sơ thẩm chỉ ghi quyền khángcáo mà không ghi "nếu có kháng cáo thì phải nộp 50.000đ tiền tạm ứng án phíphúc thẩm trong thời hạn kháng cáo". Như vậy trong các bản án dân sự sơthẩm không ghi vấn đề này có phải là thiếu sót hay không? Đề nghị hướng dẫn cócần phải ghi thêm việc phải nộp 50.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trongphần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm hay không?

Khoản 2 Điều 53 Pháp lệnh Thủ tục giải quyếtcác vụ án dân sự quy định:

"Trong bản án Hội đồng xét xử trìnhbày đầy đủ nội dung vụ án, những tình tiết đã được chứng minh, những chứng cứ,căn cứ pháp luật mà Toà án dựa vào để giải quyết các vấn đề trong vụ án, quyếtđịnh của Toà án về giải quyết vụ án, về án phí và quyền kháng cáo của các đươngsự... Đối với các quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng,sức khoẻ, trả tiền công lao động, cấm hoặc buộc phải thực hiện hành vi nhấtđịnh thì Hội đồng xét xử có thể quyết định cho thi hành ngay". Như vậy,theo khoản 2 Điều 53 này thì Tòa án chỉ phải ghi trong phần quyết định của bảnán dân sự sơ thẩm quyền kháng cáo (ai có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo vàđối tượng kháng cáo) mà không phải ghi hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứngán phí phúc thẩm, nếu có kháng cáo; do đó, trong các bản án dân sự sơ thẩmkhông ghi hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là đúng vớiquy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự mà không phải làthiếu sót.

Để bảo đảm cho các đương sự thựchiện được quyền kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật tại Phần VII Nghịquyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao"Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ ándân sự" đã hướng dẫn:

"Các đương sự phải chịu án phítheo quy định của pháp luật, cho nên ngay sau khi nhận đơn khởi kiện của đươngsự, Toà án phải giải thích cho họ biết về chế độ án phí, về việc họ phải nộptiền tạm ứng án phí thì Toà án mới thụ lý vụ án để giải quyết; giải thích ngaycho tất cả các đương sự biết cả việc nếu họ kháng cáo theo thủ tục phúc thẩmthì họ phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàytuyên án sơ thẩm và hậu quả của việc không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩmtrong thời hạn đó" (Mục 2) và "Người kháng cáo không nộp tiền tạm ứngán phí phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo (trừ trường hợp không phải nộp tiềntạm ứng án phí phúc thẩm), mặc dù đã được Toà án giải thích, nhắc nhở, thì coinhư không kháng cáo và Toà án cấp sơ thẩm không phải gửi hồ sơ lên Toà án cấpphúc thẩm, nhưng trong hồ sơ phải phản ánh rõ việc giải thích, nhắc nhở đó." (Mục3).

13. Một người có hành vi phạm tội đã bị khởi tố bị can,nhưng bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, nhưng đã hơn hai nămvẫn không có kết quả. Người có quyền, lợi ích liên quan như Ngân hàng là chủ nợcó đơn yêu cầu Toà án tuyên bố người bị truy nã đó mất tích để xử lý khoản nợtheo quy định của pháp luật hoặc người vợ (hay người chồng) có đơn yêu cầu Toàán tuyên bố người bị truy nã đó mất tích đồng thời xin ly hôn với người đó thìToà án có thụ lý vụ án hay không? Nếu thụ lý vụ án thì hướng giải quyết vụ ánđó như thế nào?

Theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thì trường hợp này không thuộc một trongnhững trường hợp Toà án trả lại đơn khởi kiện; do đó, Toà án phải thụ lý vụ ántheo quy định tạiĐiều 37 của Pháp lệnhnày. Việc giải quyết vụ án về tuyên bố một người mất tích trong trường hợp nàycũng được thực hiện theo thủ tục chung có nghĩa là phải theo đúng các quy địnhtại khoản 1 Điều 88 Bộ luật dân sự, các quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyếtcác vụ án dân sự và hướng dẫn tại Mục III Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một sốquy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự". Trong trườnghợp người vợ (hoặc người chồng) của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin lyhôn, thì căn cứ vào khoản 2 Điều 88 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 89 Luật hônnhân và gia đình năm 2000, Toà án giải quyết cho ly hôn. Đối với chia tài sảnchung của vợ chồng, việc nuôi dưỡng giáo dục con và việc quản lý tài sản củangười bị tuyên bố mất tích, thì Toà án áp dụng các quy địnhcủa Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 89 Bộluật dân sự để giải quyết.

14. Cả hai vợ chồng đều có đơn xin ly hôn, Tòa án đã thụ lývà tiến hành hoà giải để hai bên trở về đoàn tụ với nhau, nhưng không thành. Cảhai bên đều xin được ly hôn và thoả thuận được với nhau về việc chia tài sảnchung, việc trông nom nuôi dưỡng giáo dục con. Toà án đã lập biên bản về việccả hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và về việc các đương sự thoả thuận được vớinhau về việc chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng giáo dục con. Trongthời hạn 15 ngày, một trong hai bên đương sự thay đổi ý kiến về việc chia tàisản chung và yêu cầu Toà án giải quyết. Vậy trong trường hợp này Toà án phảigiải quyết như thế nào? Toà án có được tách phần tự nguyện xin ly hôn và raquyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về mặt tình cảm (ly hôn)hay không? Toà án có được tiếp tục tiến hành hoà giải về việc chia tài sảnchung hay không?

Theo hướng dẫn tại điểm 2 Mục IINghị quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 củaHội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng mộtsố quy định của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự" thì"hoà giải cũng là một thủ tục bắt buộc khi cả hai vợ chồng có đơn xinthuận tình ly hôn; do đó, nếu Toà án đã hoà giải để hai bên đương sự trở vềđoàn tụ với nhau, nhưng họ vẫn kiên quyết xin ly hôn, thì Toà án lập biên bảnhoà giải đoàn tụ không thành, sau đó lập biên bản về sự thoả thuận của cácđương sự về thuận tình ly hôn, phân chia tài sản và nuôi con...Việc ra quyếtđịnh công nhận sự thoả thuận của các đương sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xétxử trong các trường hợp này cũng được thực hiện theo hướng dẫn trên" (Xemcuốn Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng; Toà án nhân dân tối cao xuấtbản năm 1992; tr.292). Theo hướng dẫn tại đoạn 1 điểm 2 này cũng như quy địnhtại khoản 2 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì"trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà cóđương sự thay đổi ý kiến...thì Toà án đưa vụ án ra xét xử". Mặt khác theotinh thần quy định tại Điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì khi thuậntình ly hôn các bên phải có thoả thuận việc chia tài sản chung, việc trông nom,nuôi dưỡng, giáo dục con, Toà án mới công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy,trong trường hợp trên đây mặc dù chỉ có một đương sự thay đổi ý kiến về việcchia tài sản chung thì Toà án cũng không được tách phần thuận tình ly hôn để raquyết định công nhận thuận tình ly hôn mà Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xétxử theo thủ tục chung và tất cả các vấn đề đều được giải quyết trong bản án củaTòa án.

15. Anh A xin ly hôn chị B, Toà án thụ lý vụ án và tiến hànhhoà giải. Tại phiên hoà giải anh A nhất trí về đoàn tụ với chị B. Trong trườnghợp này, Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ngay sau khi các đươngsự thoả thuận được với nhau hay sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản về việccác đương sự thoả thuận được với nhau.

Toà án ra quyết định gì và vào thời điểm nào là hoàn toànphụ thuộc vào nội dung của việc "anh A nhất trí với chị B"; cụ thểlà:

a- Nếu tại phiên hoà giải mà anh A nhất trí về đoàn tụ vớichị B và rút đơn xin ly hôn, thì Toà án lập biên bản về việc anh A rút đơn xinly hôn và áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sựra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

b- Nếu tại phiên hoà giải mà anh A nhất trí về đoàn tụ vớichị B nhưng không rút đơn xin ly hôn mà thoả thuận cùng chị B về đoàn tụ vớinhau trên cơ sở hoà giải của Toà án, thì theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Toà án lập biên bản hoà giải thành.Trong trường hợp này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giảithành, đương sự không thay đổi ý kiến, thì Toà án ra quyết định công nhận sựthoả thuận của các đương sự. Quyết định này có hiệu lực pháp luật.

16. Về nội dung hoà giải và thành phần tham gia hoà giảitrong vụ án về ly hôn (vợ hoặc chồng có đơn xin ly hôn hoặc cả hai vợ chồng xinly hôn), còn có ý kiến khác nhau.

Theo một số Toà án hiểu thì mục đích của việc hoà giải là đểhai bên đương sự về đoàn tụ với nhau; do đó, nội dung hòa giải là phân tích,khuyên nhủ để vợ chồng về đoàn tụ với nhau và thành phần mà Toà án triệu tập đểhoà giải là nguyên đơn và bị đơn trong vụ kiện (vợ và chồng). Một số Viện kiểmsát nhân dân cho rằng nội dung và thành phần tham gia hoà giải như trên là chưađầy đủ. Theo ý kiến của Viện kiểm sát thì việc hoà giải mà Toà án phải tiếnhành bao gồm cả 3 nội dung: hoà giải về hôn nhân, nuôi con và phân chia tàisản; thành phần tham gia hoà giải ngoài nguyên đơn, bị đơn (vợ chồng) còn phảicó mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ).

Đề nghị Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn: Việc hòa giảitrong vụ kiện ly hôn bao gồm những vấn đề gì và nội dung nào? Thành phần thamgia hoà giải gồm những ai?

Việc xác định những vấn đề gì cần phải tiến hành hoà giải,nội dung hoà giải như thế nào và ai phải có mặt khi hoà giải trong các vụ án lyhôn phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.

a. Về những vấn đề gì cần phải tiến hành hoà giải

Theo tinh thần quy định tại Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự, thì trong quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hànhhoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết tất cả nhữngvấn đề mà một hoặc các bên đương sự có yêu cầu Toà án giải quyết, trừ các việcToà án không được tiến hành hoà giải quy định tại các điểm 1, 2, 3 và 4 Điều 43này. Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà Toà án quyết định tiến hành hoàgiải việc gì trước và hoà giải việc gì sau.

Ví dụ 1: Vợ hoặcchồng có đơn xin ly hôn hoặc cả hai vợ chồng đều có đơn xin ly hôn và yêu cầuToà án giải quyết việc chia tài sản, cũng như việc trông nom, nuôi dưỡng, giáodục con, thì trước hết Toà án tiến hành hoà giải để hai bên trở về đoàn tụ vớinhau; nếu hai bên đồng ý trở về đoàn tụ với nhau, thì Toà án không phải tiếnhành hoà giải các vấn đề khác còn lại; nếu một trong hai bên hoặc cả hai bênkiên quyết xin ly hôn, thì Toà án tiến hành hoà giải các vấn đề khác còn lạivới nội dung trong trường hợp Toà án xử cho ly hôn hay công nhận cho thuận tìnhly hôn thì các đương sự thoả thuận việc chia tài sản như thế nào, việc trôngnom, nuôi dưỡng, giáo dục con như thế nào?

Ví dụ 2: Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật có yêucầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc chia tài sản chungcủa họ và việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì Toà án không được tiếnhành hoà giải yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, nhưng Toà án vẫn phảitiến hành hoà giải với nội dung trong trường hợp Toà án huỷ việc kết hôn tráipháp luật thì các đương sự thoả thuận việc chia tài sản như thế nào và việctrông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con như thế nào?

b. Về nội dung hoà giải

Việc hoà giải các vấn đề khác nhau có nội dung khác nhau.Tuy nhiên, có thể khái quát nội dung của hoà giải là bằng sự có mặt của ngườiThẩm phán, các bên đương sự trình bày những lý do mà họ phải yêu cầu Toà ángiải quyết. Trên cơ sở đó Thẩm phán hỏi ý kiến của các bên; phân tích các quyđịnh của pháp luật; những mặt được của việc các bên thoả thuận được với nhau vềviệc giải quyết vấn đề đó; hậu quả pháp lý của việc Toà án phải quyết định...Cóthể nói nội dung hoà giải và kết quả của việc hoà giải phụ thuộc rất nhiều vàonăng lực, kỹ năng nghiệp vụ của người Thẩm phán.

c. Về thành phần tham gia hoà giải

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án dân sự thì: "nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩavụ liên quan phải có mặt khi hoà giải". Tuy nhiên, trong khi hoà giải vềly hôn mà có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ của vợchồng) thì cần phân biệt như sau:

- Nếu giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợhoặc con nợ) với vợ chồng đã tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyếtquyền, nghĩa vụ của các bên, thì không cần phải tiến hành hoà giải giữa vợchồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ).

- Nếu giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợhoặc con nợ) với vợ chồng không thoả thuận được với nhau về việc giải quyếtquyền, nghĩa vụ của các bên thì cần phân biệt là trong vụ án này có hai nhómquan hệ: nhóm quan hệ giữa vợ, chồng và nhóm quan hệ giữa vợ chồng với người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ). Mặt khác, nhóm quan hệ giữavợ chồng là quan hệ nhân thân; do đó, không tiến hành hoà giải hai nhóm quan hệnày trong cùng một phiên hoà giải. Nếu thuộc trường hợp có điều kiện tiến hànhhoà giải thì cần tiến hành hoà giải việc giải quyết quyền, nghĩa vụ giữa vợchồng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chủ nợ hoặc con nợ) trong mộtphiên hoà giải khác.

V. VỀ HÀNH CHÍNH.

1. Trong trường hợp có nhiều người khiếu kiện đến Toà án đốivới một quyết định hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhàở... (khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính), thìcó thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không, nếu tất cả những người nàykhông khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung), thì trong trường hợpkhiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính không được giải quyết hoặctrong trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính, khiếu nạiquyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức đã được giải quyết lần đầu,nhưng người khiếu nại không đồng ý, thì họ có quyền khiếu nại đến người có thẩmquyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc khiếu kiện vụ án hành chính tại Toàán có thẩm quyền. Theo điểm a khoản 1 Điều 13 này chỉ trong trường hợp có nhiềungười, trong đó có người khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền,có người khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo (cùng đối vớimột quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính), thì việc giải quyết mớithuộc thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo; do đó,trong trường hợp có nhiều người khiếu kiện đến Toà án đối với một quyết địnhhành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở... mà không có aikhiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo hoặc trongtrường hợp có nhiều người đều khiếu kiện đến Toà án đối với một quyết định hànhchính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở...đồng thời đều khiếu nạiđến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo, thì việc giải quyếtkhiếu kiện đó thuộc thẩm quyền của Toà án.

2. Đề nghị giải đáp cụm từ: "... vì những trở ngạikhách quan khác" mà người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạnquy định tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh Thủ tục giảiquyết các vụ án hành chính thì những trường hợp được coi là trở ngại khách quanlà những trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơixa. Ngoài ra trong thực tế còn có những trở ngại khác; ví dụ: do nhu cầu chiếnđấu và phục vụ chiến đấu nơi xa; do yêu cầu của công tác đặc biệt không đượcliên lạc với bên ngoài; do bị một tổ chức tội phạm bắt cóc... cũng được coi làtrở ngại khách quan mà trong điều luật không thể liệt kê cụ thể hết được chonên mới dùng cụm từ "trở ngại khách quan khác". Tham khảo Từ điểnTiếng Việt thì "khách quan" là cái tồn tại bên ngoài không phụ thuộcvào ý thức, ý chí của con người... và "trở ngại" là cái gây khó khăn,cái làm cản trở. Như vậy, có thể hiểu "trở ngại khách quan" là nhữngkhó khăn, cản trở tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của conngười. Ngoài những trở ngại khách quan được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 30Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thì bất cứ một trở ngại nàođáp ứng các điều kiện này đều có thể được Toà án chấp nhận là "trở ngạikhách quan khác" và thời gian có trở ngại khách quan đó không tính vàothời hiệu khởi kiện.

3. Người ra quyết định hành chính bị khiếu kiện đã chuyểncông tác đi nơi khác hoặc do chia tách huyện, tách tỉnh không còn ở huyện, tỉnhcũ hoặc về hưu, thì xác định tư cách "người bị kiện" như thế nào? Toàán nơi xảy ra khiếu kiện hay Toà án nơi người đã ra quyết định cư trú (hay côngtác) có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện này?

Cần chú ý là người có thẩm quyền trong cơ quan hành chínhnhà nước quy định tại Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chínhlà người có chức vụ, chức danh cụ thể và theo quy định của pháp luật thì ngườicó chức vụ, chức danh đó mới có thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc cóhành vi hành chính. Mặc dù một quyết định hành chính hoặc một hành vi hànhchính do một người cụ thể (Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B...) ký hoặc thực hiện,nhưng việc người đó ký quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chínhđó phải dưới danh nghĩa một chức vụ, chức danh có thẩm quyền (ví dụ: Chủ tịchUỷ ban nhân dân huyện..., Trưởng Công an phường...); do đó, chỉ có thể gọiquyết định hành chính đó, hành vi hành chính đó của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân...của Trưởng Công an phường... mà không thể gọi quyết định hành chính đó, hành vihành chính đó của một người cụ thể (Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B...). Vì vậy,trong trường hợp người ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính đãchuyển công tác đi nơi khác hoặc về hưu... mà quyết định hành chính hoặc hànhvi hành chính đó bị khiếu kiện, thì người được bầu, được cử, được bổ nhiệm...thay chức vụ, chức danh của người đó phải kế thừa quyền và nghĩa vụ, có nghĩahọ chính là người bị kiện.

Trên cơ sở xác định người bị kiện như trên, căn cứ vào quyđịnh tại Điều 12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính để tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà xác định Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án hànhchính đó.

VI. VỀ LAO ĐỘNG.

Trong một doanh nghiệp Nhà nước có việc lập quỹ trái phép.Người lao động được giao nhiệm vụ quản lý quỹ trái phép đã chiếm đoạt tiềntrong quỹ trái phép đó, nên đã bị doanh nghiệp ra quyết định xử lý kỷ luật bằnghình thức sa thải. Vậy quyết định xử lý kỷ luật của doanh nghiệp là đúng haysai?

Mặc dù là quỹ trái phép nhưng vẫn là tài sản của Nhà nước;do đó, hành vi chiếm đoạt tiền trong quỹ trái phép của người được giao trách nhiệm quản lý là hành vi tham ô. Căn cứ vào điểm akhoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động, thì doanh nghiệp có quyền xử lý kỷluật người lao động bằng hình thức sa thải.

Trên đây là những giải đáp của Toà án nhân dân tối cao vềmột số vấn đề vướng mắc trong thực tiễn công tác của Toà án. Trong quá trìnhthực hiện nếu có vấn đề gì chưa cụ thể hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, đề nghịphản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để cóhướng dẫn bổ sung hoặc sửa đổi.