Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

1. Cơ sơ pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Nghị định 141/2017/NĐ-CP

Thông tư 15/2016/TT-BLĐTBXH

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

I- Sự cần thiết của xây dựng thang lương, bảng lương:

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động để làm cơ sở tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động.

>> Xem thêm:  Cơ sở để xác định công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?

Việc xây dựng thang lương, bảng lương của doanh nghiệp là một điều bắt buộc khi doanh nghiệp mới thành lập và bắt đầu tuyển dụng, nếu doanh nghiệp không tiến hành việc xây dựng thang bảng lương thì doanh nghiệp sẽ bị xử phạt .

II- Nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương:

- Doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn nào thì áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định đối với địa bàn đó.

- Nếu là đơn vị hoặc chi nhánh của doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu vùng của địa bàn đó.

- Mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao đọng làm việc trong điều kiện lao động bình thường, đảm bảo đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động và công việc được thỏa thuận phải bảo đảm:

+ Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đơn giản nhất;

+ Cao hơn 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề

+ Mức lương của công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có mức độ phức tạp tương đương làm việc trong điều kiện bình thường.

- Khoảng cách chênh lệch giữa hai bậc lương liền kề khi phân theo trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ, tích lũy kinh nghiệm, phát triển tài năng nhưng ít nhất bằng 5%.

- Khi xây dựng thang lương, bảng lương phải đảm bảo bình đẳng giữa các cá nhân người lao động, phải đảm bảo tiêu chuẩn xếp lương, điều kiện nâng bậc lương.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc đòi vàng cho vay từ năm 1997?

- Thang lương, bảng lương phải được sửa đổi, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế về đổi mới công nghệ, mặt bằng tiền lương trên thị trường lao động.

III - Việc xác định công việc nặng nhọc, độc hại và có qua đào tạo hay không có quyết định đến việc xác định mức lương của người lao động

Để xác định những người làm công việc tạp vụ, bảo vệ, nhân viên cắt chỉ, đóng gói có qua đào tạo không thì cần phải xác định cụ thể những công việc nào là đã qua đòa tạo nghề và học nghề. Người lao động đã qua học nghề, đào tạo nghề bao gồm các đối tượng sau:

a) Người đã được cấp chứng chỉ nghề, bằng nghề, bằng trung học chuyên nghiệp, bằng trung học nghề, bằng cao đẳng, chứng chỉ đại học đại cương, bằng đại học, bằng cử nhân, bằng cao học hoặc bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ theo quy định tại Nghị định số 90/CP ngày 24 tháng 11 năm 1993 của Chính phủ quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống văn bằng, chứng chỉ về giáo dục và đào tạo;
b) Người đã được cấp bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, bằng tốt nghiệp, đào tạo nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp; văn bằng giáo dục đại học và văn bằng, chứng chỉ giáo dục thường xuyên theo quy định tại Luật Giáo dục năm 1998 và Luật Giáo dục năm 2005;
c) Người đã được cấp chứng chỉ theo chương trình dạy nghề thường xuyên, chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc đã hoàn thành chương trình học nghề theo hợp đồng học nghề quy định tại Luật Dạy nghề;
d) Người đã được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định của Luật Việc làm;
đ) Người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; đào tạo thường xuyên và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác theo quy định tại Luật Giáo dục nghề nghiệp;
e) Người đã được cấp bằng tốt nghiệp trình độ đào tạo của giáo dục đại học theo quy định tại Luật Giáo dục đại học;
g) Người đã được cấp văn bằng, chứng chỉ của cơ sở đào tạo nước ngoài;
h) Người đã được doanh nghiệp đào tạo nghề hoặc tự học nghề và được doanh nghiệp kiểm tra, bố trí làm công việc đòi hỏi phải qua đào tạo nghề.
Như vậy nếu xét trong quy định trên và Nghị định 31/2015/NĐ-CP về các công việc được cấp chứng chỉ nghề quốc gia thì chỉ có công dịch vụ vệ sinh lau dọn bề ngoài công trình từ 10 tầng trở lên nếu bên bạn chỉ là tạp vụ thông thường thì tất cả các ngành nghề bạn nêu ra không phải là công việc đã qua học nghề hoặc đào tạo nghề. Và đồi chiếu với quy định tại Thông tư 15/2016/TT- BLĐTBXH về Danh mục nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc độc hại, nguy hiểm không bao gồm những công việc bạn nêu ra.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê