1. Quy định tội cướp giật trong luật hình sự trước đây

Trong Luật hình sự Việt Nam, hành vi này bị coi là tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu. Trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985), tội phạm này được quy định trong Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 vẫn có hai tội cướp giật tài sản khác nhau - tội cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa và tội cướp giật tài sản của công dân. Bộ luật hình sự năm 1999 đã nhập hai tội này thành tội cướp giật tài sản.

Cướp giật tài sản là một trong bốn tội phạm của nhóm tội chiếm đoạt có tính công khai về hành vi khách quan cũng như về ý thức chủ quan của chủ thể. Trong đó, cướp giật tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản (sơ hở sẵn có hoặc do chính người cướp giật tự tạo ra) nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh. Thủ đoạn nhanh chóng lẩn tránh trong thực tế thường là nhanh chóng tẩu thoát.

Hình phạt được quy định cho tội cướp giật có mức cao nhất là hình phạt tù chung thân.

2. Quy định tội cướp giật trong luật hình sự hiện nay

Tội cướp giật tài sản được quy định tại điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể:

Điều 171 Bộ luật hình sự quy định tội cướp giật tài sản nhưng không mô tả cụ thể những dấu hiệu của tội này mà chỉ nhắc lại tội danh. Từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận có thể định nghĩa:

Tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai.

+ Dấu hiệu pháp lý tội cướp giật tài sản:

- Dấu hiệu hành vi phạm tội cướp giật tài sản:

Hành vi phạm tội của tội cướp giật tài sản được quy định là hành vi chiếm đoạt tài sản. Khác với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản, cấu thành tội phạm của tội cướp giật tài sản đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt không còn là mục đích mà phải là hành vi được thực hiện trên thực tế. Hành vi chiếm đoạt tài sản ở tội cướp giật tài sản có hai dấu hiệu để phân biệt với hành vi chiếm đoạt ở các tội phạm khác. Đó là dấu hiệu công khai và dấu hiệu nhanh chóng.

- Dấu hiệu công khai:

Dấu hiệu này vừa chỉ tính chất khách quan của hành vi

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

- (Phạm tội) có tổ chức;

- (Phạm tội) có tỉnh chất chuyên nghiệp;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

- Dùng thủ đoạn nguy hiểm: Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi nhanh chóng chiếm đoạt bằng những hình thức dễ dàng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của chủ tài sản.

Ví dụ: Giật tài sản của người đang đi xe máy...

- Hành hung để tẩu thoát: Đây là trường hợp người phạm tội đã có hành vi chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Việc chống trả này không đòi hỏi phải gây thương tích. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát. Nếu nhằm để giữ bằng được tài sản vừa cướp giật thì là trường họp chuyển hoá từ cướp giật sang cướp tài sản.

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ cùa người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thề từ 11% đến 30%;

- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

- (Phạm tội mà) gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

3. Phân biệt tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản.

Hành vi phạm tội: Tội “Cướp tài sản” sử dụng hành vi “Dùng vũ lực, đe dọa vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được”, còn tội cướp giật tài sản người phạm tội không sử dụng vũ lực (tuy một số trường hợp có sử dụng sức mạnh như đạp, xô cho bị hại ngã để cướp), đe dọa vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được như trong tội “Cướp tài sản” mà chỉ dựa vào sự nhanh nhẹn của bản thân và sự sơ hở của người bị hại, hay trường hợp người bị hại không đủ khả năng bảo vệ tài sản.

Như vậy, tính công khai của tội phạm là yếu tố cơ bản để phân biệt hai tội danh này trên thực tế.

Chuyển hóa tội phạm: Trường hợp người phạm tội sau khi đã cướp giật được tài sản nhưng sau đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản và người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì có sự chuyển hóa từ tội “Cướp giật tài sản” sang tội “Cướp tài sản”.

4. Phân biệt tội cướp tài sản với tội trộm cắp tài sản.

Điểm khác nhau cơ bản của hai tội phạm này đó là chính là mức độ công khai của hành vi:

Trong tội “Cướp tài sản” người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.

Trong tội “Trộm cắp tài sản” thì người phạm tội thực hiện một cách lén lút.

Như vậy, trong tội “Cướp tài sản” tính công khai của người phạm tội rõ ràng hơn so với tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngoài ra trong tội “Trộm cắp tài sản” định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được quy định trong cấu thành cơ bản còn đối với tội “Cướp tài sản” thì không quy định.

Chuyển hóa tội phạm: Cũng giống như hành vi chuyển hóa trong tội “Cướp giật tài sản”, trường hợp người phạm tội sau khi đã trộm cắp được tài sản nhưng sau đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản và người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì có sự chuyển hóa từ tội “Trộm cắp tài sản” sang tội “Cướp tài sản”.

5. Phân biệt tội cướp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Điều 172. Tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”.

Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hành vi phạm tội này đó là tính công khai trong hành vi phạm tội: Nếu trong tội “Cướp tài sản” người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được mới chiếm đoạt được thì trong tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” người phạm tội không cần dùng thủ đoạn nào cũng vẫn chiếm đoạt được tài sản.

Chủ thể tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên còn đối với tội “Cướp tài sản” thì chủ thể người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Cũng giống như tội “Trộm cắp tài sản” thì tội này tài sản chiếm đoạt có giá trị để định khung hình phạt.

6. Hình phạt chính đối với tội cướp giật tài sản.

Phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

- Phạt tù từ 3 năm đến 10 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

+) Có tổ chức;

+) Có tính chất chuyên nghiệp;

+) Tái phạm nguy hiểm;

+) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

+) Hành hung để tẩu thoát;

+) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

+) Gây hậu quả nghiêm trọng.

- Phạt tù từ 7 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp:

+) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

+) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

- Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

+) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

+) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2. Hình phạt bổ sung

Phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

6. Khi nào một người phạm tội cướp giật tài sản (tội phạm hoàn thành) ?

Tội phạm cướp giật tài sản hoàn thành (có nghĩa là người phạm tội phải chịu đầy đủ trách nhiệm hình sự và hình phạt theo quy định tại Điều 171 BLHS) khi hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản (cấu thành cơ bản) sau đây:

- Người đó phải đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự (xem mục 1.1 văn bản này);

- Người đó đã thực hiện hành vi giật tài sản và nhanh chóng tẩu thoát (xem mục 1.2 và mục 1.4 văn bản này);

- Người đó phải thực hiện hành vi cướp giật tài sản một cách cố ý (xem mục 1.3 văn bản này).

Cấu thành tội phạm gồm hai loại: Cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm có cấu thành vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xẩy ra, còn cấu thành tội phạm hình thức hoàn thành khi hành vi phạm tội xẩy ra mà không phụ thuộc vào việc hậu quả đã xẩy ra hay chưa.

Nội hàm của từ "giật tài sản" được quy định trong nội dung điều luật đã thể hiện hậu quả chủ sở hữu bị mất đi tài sản của mình. Do đó, tội cướp giật tài sản được pháp luật quy định là tội có cấu thành vật chất và tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã giật được tài sản từ chủ sở hữu.

Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi giật tài sản nhưng chưa lấy được tài sản của chủ sở hữu thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và chỉ phải chịu một phần trách nhiệm hình sự, hình phạt theo quy định tại Điều 171 BLHS.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)