1. Đánh bạc dưới 5 triệu đồng có bị phạt tù hay không ?

Chào Luật sư, Tôi muốn hỏi Luật sư về tội đánh bạc, tôi bị công an bắt về hành vi đánh bạc với số tiền thu giữ là 4 triệu đồng, hành vi đánh tú lơ khơ. Đối với hành vi đánh bạc với số tiền là 4 triệu đồng có bị phạt tù không? Nếu không bị phạt tù thì sẽ bị xử lý như thế nào ?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về tội đánh bạc, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo quy định tại điều 321, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Được sửa đổi bổ sung tại Luật sửa đổi bổ sung Bộ Luật hình sự 2017 như sau:

120. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 321 như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

Như vậy hành vi đánh bạc chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đánh bạc được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng trở lên thì mới phạm tội đánh bạc.

Còn nếu đánh bạc bằng hình thức tú lơ khơ chưa đến 5.000.000 đồng thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy đinh sau:

Căn cứ theo điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi đánh bạc sau đây:

a) Đánh bạc trái phép bằng một trong các hình thức như xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, 3 cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật;

b) Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép;

c) Cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác;

d) Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nhận gửi tiền, cầm đồ, cho vay tại sòng bạc, nơi đánh bạc khác;

b) Che giấu việc đánh bạc trái phép.....

Như vậy hành vi của bạn sẽ bị xử phạt với số tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Kỷ Luật Đảng viên tham gia đánh bạc ? Quy định truy nã tội đánh bạc

2. Đánh bạc bao nhiêu tiền sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Thưa Luật sư! Theo luật hình sự mới có quy định về tội đánh bạc như thế nào? bao nhiêu tiền sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?
Luật sư giải đáp giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Theo Luật hình sự mới đánh bạc bao nhiêu tiền sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về tội đánh bạc, gọi:1900.0159

Luật sư tư vấn:

Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 có quy định về tội đánh bạc với mức tiền để truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua thắng bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

>> Như vậy số tiền để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc sẽ từ 5.000.000 đồng trở lên.

- Số tiền 5.000.000 đồng để làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bạc được tính như sau:

+) Tiền hoặc hiện vật thu trên chiếu bạc;

+) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

+) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

>> Tham khảo bài viết sau: Tội đánh bạc sẽ bị xử lý như thế nào theo Bộ Luật hình sự mới

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tội đánh bạc bị tạm giam có được tại ngoại hay không? Có được hưởng án treo không ?

3. Hình thức xử lý tội đánh bạc là gì ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi phạm tội đánh bạc dưới hình thức đá gà chọi. Công an thu giữ tiền mặt trong túi mọi người đánh tổng số tiền là 160 triệu đồng.

Tất cả gà bang đá và ghi chép số tiền đánh trên sổ có mức đánh từ 2 - 40 triệu đồng/1 người, tổng trên 18 người. Riêng cá nhân tôi có mức đánh với mọi người là 14.600.000 đồng.

Vậy tôi muốn hỏi khung mức phạt của tôi là bao nhiêu ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.T Sâm

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời

Xin chào chị, cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về cho bộ phận tư vấn luật Minh Khuê. Với câu hỏi của chị, chúng tôi xin phép được trả lời như sau:

Điều 248. Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999; Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009)

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.

Điều 249. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

- Dựa trên thông tin chị đã cung cấp là thì chúng tôi tạm hiểu là:

+ Chị chỉ chủ động tham gia chơi cá độ đá gà chọi cùng những người khác nhằm mục đích ăn tiền với số tiền là 14.600.000 đồng (lớn hơn 2 triệu, nhỏ hơn 50 triệu) và không tham gia việc tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ gà chọi nói trên.

+ Chị phạm tội này là lần đầu tiên, và chưa bị xử lý hình sự về tội đánh bạc trước đó.

+ Công an đã khởi tố bị can đối với vụ việc này.

- Như vậy, hành vi của chị đã đủ yếu tố cấu thành nên tội đánh bạc quy định ở Khoản 1, Điều 248 trên đây và chị sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức khung xử phạt sau đây:

Khung phạt cơ bản:

+ Bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng

+ Cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm

Khung phạt bổ sung:

+ Bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng (căn cứ theo Khoản 3, Điều 248)

Nếu chị còn có điều gì thắc mắc hoặc muốn bổ sung làm rõ về vấn đề này, chị có thể tiếp tục gửi thư đặt câu hỏi cho chúng tôi hoặc liên hệ qua tổng đài 1900.0159 để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền xử phạt của trưởng công an xã đối với hành vi đánh bạc trái phép ?

4. Một số vướng mắc về tội đánh bạc ?

Thưa luật sư, Tôi ngồi uống cafe, bên kia đường là sòng bài, khi công an ập vào bắt thì lấy luôn xe của tôi (vì xe mấy con bạc cũng để bên quán cafe) công an nói tạm giữ để điều tra, nếu tôi không có chơi thì họ thả xe tôi, đến nay gần 01 tháng, công an không mời tôi làm việc, tôi lên hỏi thì nói chưa giải quyết. Xin hỏi tôi phải làm sao để lấy lại tài sản của tôi và công an huyện làm như vậy có đúng không ?

Trả lời:

Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định như sau:

“Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, chúng tôi hiểu rằng bạn chỉ đi làm công việc làm thuê cho gia đình khác để kiếm tiền, tuy nhiên gia đình đó lại đánh bạc. Căn cứ theo Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tội đánh bạc chỉ những người trực tiếp tham gia đánh bạc với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp mới cấu thành tội đánh bạc. Trường hợp của bạn chỉ là người có liên quan trong vụ việc này (được xem là nhân chứng trong vụ việc đánh bạc của gia đình kia), do đó, hành vi của bạn không cấu thành tội đánh bạc vì bạn không trực tiếp tham gia đánh bạc.

Căn cứ Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định về xử lý vật chứng như sau:

"1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Theo đó, trong trường hợp của bạn, bạn chỉ uống cafe ở quán bên đối diện, xe của bạn để cạnh xe của những người tham gia đánh bạc, do đó, chiếc xe của bạn cũng được xem là vật chứng trong vụ án này. Công an có quyền tịch thu chiếc xe để xem xét, kiểm tra, xác minh sự việc.

Trong trường hợp, cơ quan có thẩm quyền xác minh được bạn không có liên quan đến việc đánh bạc, cũng như những người bị công an bắt về tội đánh bạc kia không sử dụng chiếc xe của bạn để tiến hành việc đánh bạc, cơ quan có thẩm quyền sẽ trả lại chiếc xe cho bạn nếu xét thấy nó không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

Thẩm quyền xử lý chiếc xe của bạn ở từng giai đoạn là khác nhau, nếu xét thấy việc trả lại chiếc xe cho bạn không làm ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có quyền trả lại xe cho bạn trong từng giai đoạn khác nhau.

Như vậy, với trường hợp của bạn, nếu tài sản của bạn không được dùng để thực hiện hành vi phạm tội, thì nó có thể được trả lại cho bạn. Nếu cơ quan điều tra không chủ động trả lại xe thì bạn có quyền làm đơn đề nghị được nhận lại xe. Sau khi nhận đơn, nếu xét thấy việc tạm giữ xe là không cần thiết thì cơ quan điều tra có trách nhiệm trả lại cho bạn. Trường hợp chiếc xe bị hư hỏng hoặc giảm sút giá trị do hành vi phạm tội gây ra thì bạn có quyền yêu cầu người phạm tội bồi thường thiệt hại.

Chào Quý Luật sư! Tôi có thắc mắc muốn hỏi là một người đã bị tuyên án tội phạm thì người đó có thể còn đủ điều kiện để khởi kiện người khác được không? Và một người chưa bị tuyên án (còn đang trong quá trình xét xử chẳng hạn) thì như thế nào? Có được khởi kiện hay không? Xin cảm ơn!

Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện nay, mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, không ai có quyền hạn chế năng lực hành vi dân sự của công dân, trong đó có quyền khởi kiện.

Tại Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về bảo đảm quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp của đương sự:

"1. Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ.

3. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.

4. Không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự."

Cũng tại Điều 9 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật."

Như vậy, có thể thấy, mọi công dân đều có quyền bình đẳng như nhau trước pháp luật, chỉ cần đủ năng lực hành vi dân sự thì đều có thể khởi kiện người khác khi có đủ điều kiện chứng minh người khác là phạm tội. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu là những người đã bị tuyên án là phạm tội (có thể hiểu là bị phạt tù, án treo) hoặc người đang trong quá trình xét xử (có thể bị tạm giam, tạm giữ) thì thông thường, việc họ tiến hành khởi kiện người khác thường gặp một số khó khăn, song họ vẫn có thể yêu cầu người khác đại diện cho họ để tiến hành việc khởi kiện như bình thường.

Cũng như các bạn khác, tôi cũng hay đi làm về ban đêm nên cũng hơi lo lắng, tôi có sử dụng côn nhị khúc để phòng ngừa về đêm. nếu như vậy có vi phạm pháp luật không? xin luật sư cho tôi biết.xin cảm ơn.

Căn cứ theo Pháp lệnh 16/2011/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, theo đó, khi bạn hay phải đi làm về đêm, nhằm để có thể tự bảo vệ bản thân, phòng vệ khi có trường hợp xấu xảy ra, bạn có sử dụng côn nhị khúc để phòng vệ. Pháp luật hiện nay không cấm sử dụng loại công cụ này, nếu mục đích sử dụng côn nhị khúc của bạn là phòng vệ, tự vệ cho bản thân thì không vi phạm pháp luật, tuy nhiên, trong trường hợp bạn sử dụng công cụ này để xâm phạm sức khỏe, tính mạng; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng để phòng vệ nhưng vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bạn sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về tội phạm tương ứng với hành vi của mình.

Thưa luật sư, Tội phạm đã hoàn thành có còn xuất hiện quan hệ đồng phạm không (trong trường hợp không có sự hứa hẹn, bàn bạc từ trước). Giải thích và cho ví dụ dẫn chứng.

Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 về đồng phạm, theo đó:

"1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm."

Như vậy, có thể hiểu, đồng phạm chỉ xuất hiện khi có sự hứa hẹn, bàn bạc từ trước và các bên phải có mục đích cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhất định.

Ví dụ: A, B và C cùng thỏa thuận, bàn bạc với nhau đến nhà D để trộm cắp tài sản, sau đó, chỉ có A và B cùng thực hiện hành vi trộm cắp, tổng giá trị tài sản là 30 triệu ở nhà D (C không tham gia được do bị ốm). Theo đó, A và B đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm, cả hai sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản, là đồng phạm của vụ án. Còn C tuy có bàn bạc thỏa thuận nhưng không thực hiện hành vi phạm tội, C có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung 2009:

"1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt."

Nếu không có sự hứa hẹn, bàn bạc từ trước thì không được xem là đồng phạm hay nói cách khác là tội phạm đã hoàn thành không thể xuất hiện đồng phạm được nữa mà nó sẽ chuyển thành một tội phạm khác độc lập với tội của người phạm tội đã hoàn thành trước đó. Ví dụ như tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009:

"1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Chơi game bài online với số tiền nạp thẻ lớn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc ?

5. Mức phạt cao nhất tội đánh bạc trái phép ?

Xin chào luật sư, xin hỏi: Tôi bị truy tố về tôi đánh bạc với hình phạt là 12 tháng tù và 5 triệu đồng phạt bổ sung . Tôi đánh bạc nhiều lần , mỗi lần đánh bạc dao động từ 100.000 đồng đến 4,000,000 đồng . Nay tôi vẫn chưa được tòa án đưa ra xét xử .
Xin hỏi luật sư :
Theo công văn 80/TANDTC-CP thì nếu tôi bị đưa ra xét xử trước ngày 1/7/2016 thì tôi có được miễn trách nhiệm hình sự không? Nếu được xét xử sau 1/7/2016 thì tôi có được tuyên vô tội không?
Tôi xin chân thành cám ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 321-Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sư 2015) quy định về tội đánh bạc trái phép như sau :

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Điều 25 bộ luật Hình sự 1999 : Miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
2. Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
3. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.
Điều 248 : Tội đánh bạc trái phép :
Điều 248. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
Điều 1, 2 Công văn Số 80/2014/TANDTC-CP:

1. Kể từ ngày 09-12-2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự năm 2015) đến hết ngày 30-6-2016, đối với người thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích, nếu vụ án đang trong giai đoạn xét xử thì Tòa án phải mở phiên tòa và căn cứ vào Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

2. Kể từ ngày 01-7-2016, nếu hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nhưng đã được xóa án tích mới bị phát hiện, Điều tra, truy tố, xét xử thì áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 để tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Theo BLHS năm 1999 sủa đổi , bổ sung năm 2009, hành vi đánh bạc trái phép với số tiền từ triệu đồng trở lên (như trường hợp của bạn lên đến 4 triệu đồng) sẽ bị kết án về tội đánh bạc trái phép theo điều 248. Nhưng theo BLHS năm 2015 số tiền đánh bạc từng lần của bạn đều nhỏ hơn 5 triệu đồng nên bạn không phạm tôi đánh bạc trái phép, vì vậy :
1. Nếu vụ án của bạn được đưa ra xét xử từ ngày 09-12-2015 (ngày công bố Bộ luật hình sự năm 2015) đến hết ngày 30-6-2016 thì bạn vẫn bị truy cứu về tội Đành bạc trái phép nhưng bạn sẽ được miễn hình phạt theo điều 25 BLHS 1999 do hành vi đánh bạc của bạn không còn gây nguy hiểm cho xã hội nữa ..
2. Nếu vụ án được đua ra xét xử kể từ ngày 01/07/2016 , lúc này BLHS năm 2015 bắt đầu có hiệu lực thì bạn sẽ không bị truy cứa trách nhiệm hình sự về tội danh này .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tội đánh bạc thì phải bị tạm giam bao lâu ? Chịu trách nhiệm hình sự ra sao?