1. Căn cứ pháp lý về đào ngũ

Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

2. Khái niệm tội đào ngũ

Tội đào ngũ là hành vi tự ý rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời chiến, làm suy yếu kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tội đào ngũ được quy định tại Điều 402 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

"1. Người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Trong chiến đấu;

b) Trong khu vực có chiến sự;

c) Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn;

d) Trong tình trạng khẩn cấp;

đ) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Theo đó, đào ngũ được hiểu là hành vi của quân nhân rồi bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Đào ngũ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ trách nhiệm phục vụ quân đội của quân nhân. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, tội đào ngũ được quy định trong Sắc luật số 163 năm 1946 và được bổ sung bởi Sắc luật số 264 năm 1948. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999, tội này đều được quy định trong chương các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự năm 1999, tội này được quy định cụ thể hơn để phân biệt với hành vi đào ngũ chưa phải là tội phạm. Theo Bộ luật hình sự năm 1999, tội đào ngũ có các dấu hiệu sau:

1) Chủ thể phải là người đang trong hàng ngũ quân đội (quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong hiến đấu, phục vụ chiến đấu),

2) Chủ thể đã có hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội (hành động đi khỏi đơn vị hoặc hành động không trở về đơn vị);

3) Lỗi của chủ thể là cố ý và nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ của quân nhân;

4) Hành vi đào ngũ bị coi là tội phạm khi hành vi này đã gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc trong trường hợp chủ thể đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc hành vi xảy ra trong thời chiến.

Hình phạt được quy định cho tội này có mức cao nhất là 12 năm tù.

Đào ngũ chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:

– Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp;

– Hạ sỹ quan, binh sỹ.

3. Các yếu tố cấu thành tội đào ngũ

– Mặt khách quan

+ Về hành vi

Có hành vi rồi bỏ hàng ngũ quân đội. Được hiểu là hành vi của quân nhân đang trong thời gian thời hạn thực hiện nghĩa vụ quân sự, nhiệm vụ được giao đã tự ý bỏ đi khỏi đơn vị (hành vi hành động) hoặc không đến đơn vị (hành vi không hành động) để thực hiện nhiệm vụ được giao nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.

+ Dấu hiệu khác

Hành vi nêu trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến (xem giải thích tương tự tội chống mệnh lệnh). Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

– Khách thể

Hành vi phạm tội xâm phạm đến chế độ kỷ luật của Quân dội nhân dân Việt Nam.

– Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

– Chủ thể

Chủ thể của tội đào ngũ là bất kỳ quân nhân nào.

4. Về khung hình phạt tội đào ngũ

Tội đào ngũ là hành vi tự ý rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời chiến, làm suy yếu kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam.

Hiện nay Tội đào ngũ được quy định tại Điều 402 Bộ luật hình sự như sau:

1. Người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Trong chiến đấu;

b) Trong khu vực có chiến sự;

c) Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn;

d) Trong tình trạng khẩn cấp;

đ) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Theo đó, đào ngũ được hiểu là hành vi của quân nhân rồi bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ.

Thứ nhất, Các yếu tố cấu thành tội đào ngũ

– Mặt khách quan

+ Về hành vi

Có hành vi rồi bỏ hàng ngũ quân đội. Được hiểu là hành vi của quân nhân đang trong thời gian thời hạn thực hiện nghĩa vụ quân sự, nhiệm vụ được giao đã tự ý bỏ đi khỏi đơn vị (hành vi hành động) hoặc không đến đơn vị (hành vi không hành động) để thực hiện nhiệm vụ được giao nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.

+ Dấu hiệu khác

Hành vi nêu trên chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến (xem giải thích tương tự tội chống mệnh lệnh). Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

– Khách thể

Hành vi phạm tội xâm phạm đến chế độ kỷ luật của Quân dội nhân dân Việt Nam.

– Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

– Chủ thể

Chủ thể của tội đào ngũ là bất kỳ quân nhân nào.

Thứ hai: Về khung hình phạt tội đào ngũ

+ Khung 1 (khoản 1)

Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng trong trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội đào ngũ nêu ở mặt khách quan và chủ quan.

+ Khung 2 (khoản 2)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

– Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

– Lôi kéo người khác phạm tội;

– Mang theo, vứt bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự;

– Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

+ Khung 3 (khoản 3)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

– Trong chiến đấu;

– Trong khu vực có chiến sự;

– Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn;

– Trong tình trạng khẩn cấp;

– Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Sĩ quan dự bị đào ngũ

Theo quy định tại Nghị định 120/2013/NĐ-CP xử phạt đối với sĩ quan dự bị gọi đi đào tạo nhưng có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, đưa ra về vấn đề đào ngũ không đưa ra nội dung xử phạt hành chính.

+ Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm ghi trong giấy gọi kiểm tra sức khỏe để tuyển chọn hoặc quyết định đi đào tạo sĩ quan dự bị mà không có lý do chính đáng.

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không bố trí sắp xếp thời gian, không tạo điều kiện cho công dân thực hiện giấy gọi kiểm tra sức khỏe để tuyển chọn hoặc quyết định đi đào tạo sĩ quan dự bị.

+ Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Người khám sức khỏe gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ đi đào tạo sỹ quan dự bị; Đưa tiền hoặc các lợi ích vật chất khác cho cán bộ, nhân viên y tế để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ đi đào tạo sỹ quan dự bị; Cán bộ, nhân viên y tế cố ý làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe của người kiểm tra sức khỏe thực hiện nghĩa vụ đi đào tạo sĩ quan dự bị.

+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không tiếp nhận lại sỹ quan dự bị đi đào tạo trở về cơ quan, tổ chức cũ làm việc.

Theo đó, áp dụng quy định Điều 325 “Bộ luật hình sự 2015” về Tội đào ngũ

1. Người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến tám năm:

a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan;

b) Lôi kéo người khác phạm tội;

c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng;

d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

Nếu xác định có hành vi gây hậu quả nghiêm trọng thì bên bạn sẽ bị áp dụng theo nội dung nêu trên.

Gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được hiểu là:

Hậu quả ở đây đó có thể là hậu quả vật chất: thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản, vũ khí, phương tiện kỹ thuật. Hậu quả phi vật chất, có thể là ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về an ninh quốc phòng; ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của toàn đơn vị; làm giảm khả năng chiến đấu, tinh thần sẵn sàng chiến đấu của lực lượng Quân đội nhân dân; ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội hoặc mối quan hệ giữa nhân dân và quân nhân..v.v. Tuy nhiên việc thực hiện hành vi phạm tội chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, để xác định được mức độ nghiêm trọng cần phải xem xét toàn bộ các hậu quả đã xảy ra. Tuy nhiên hậu quả của hành vi rời bỏ khỏi đơn vị không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội đào ngũ.

Luật Minh Khuê (sưu tầm, biên tập & phân tích)