1. Đào nhiệm là gì ?

Đào nhiệm là (Hành vi) cố ý từ bỏ nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác gây hậu quả nghiêm trọng.

Đào nhiệm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ trách nhiệm của công chức, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, tội đào nhiệm được quy định trong Sắc lệnh số 200 năm 1948. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và năm 1999, tội đào nhiệm đều được quy định trong chương các tội phạm về chức vụ.

2. Quy định pháp luật về đào nhiệm

Theo điều 363 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội đào nhiệm cụ thể như sau:

Điều 363: Tội đào nhiệm

1. Người nào là cán bộ, công chức, viên chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Lôi kéo người khác đào nhiệm;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

c) Phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc trong trường hợp khó khăn đặc biệt khác của xã hội.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Về mặt khách thể:

Tội phạm này xâm phạm hoạt động bình thường, kỷ luật lao động của cơ quan, tổ chức liên quan đến việc quản lý cán bộ, công chức, viên chức

 Về mặt khách quan:

Người phạm tội có hành vi từ bỏ nhiệm vụ công tác, có thể từ bỏ hẳn hoặc chỉ một thời gian. Hành vi này có thể được thực hiện qua việc từ bỏ cơ quan, tổ chức mà mình đang công tác để đi làm ở một nơi khác hoặc không làm gì cả. Tuy nhiên, nếu cán bộ, công chức, viên chức có viết đơn xin nghỉ việc mà hết thời gian giải quyết, cơ quan, tổ chức chưa giải quyết thì việc bỏ cơ quan, tổ chức không cấu thành tội phạm này.

Trường hợp này nếu cơ quan, tổ chức có quyết định không chấp nhận cho nghỉ việc mà vẫn nghỉ mới cấu thành tội phạm. Ngoài ra, tội phạm này cũng có thể được biểu hiện qua việc cán bộ, công chức, viên chức bỏ nhiệm vụ công tác mà cơ quan, tổ chức đã giao cho mình (công vụ). Trường hợp này cần lưu ý để phân biệt hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Ở trường hợp hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, người phạm tội chỉ vì nhất thời sơ suất mà bỏ nhiệm vụ của mình chứ không có ý định bỏ hẳn nó, không làm. Hành vi này có dấu hiệu khách quan giống tội đào ngũ nhưng tội đào ngũ thì người phạm tội là quân nhân tại ngũ. Hành vi bỏ cơ quan, tổ chức hoặc bỏ công vụ này chỉ cấu thành tội phạm khi đã gây hậu quả nghiêm trọng. Nếu từ bỏ nhiệm vụ để phạm tội khác nữa thì phải truy cứu thêm tội phạm tương ứng đó.

Về mặt chủ quan:

Đây là lỗi cố ý, đa phần là cố ý gián tiếp, bởi vì khi thực hiện hành vi người phạm tội thực hiện một cách cố ý. Tuy chưa xác định người phạm tội có cố ý với hậu quả hay không, ít ra họ cũng bỏ mặc hậu quả đó xảy ra khi cố ý bỏ cơ quan, tổ chức hoặc bỏ nhiệm vụ.

Về mặt chủ thể:

Trong trường hợp này chủ thể của tội phạm này là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác ở một cơ quan, tổ chức nhất định hoặc cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ cụ thể.

Tội đào nhiệm có các dấu hiệu sau: 1) Chủ thể là công chức của cơ quan hoặc tổ chức; 2) Hành vi phạm tội có thể là hành động (rời bỏ công sở và do vậy không thực hiện được nhiệm vụ được giao) hoặc là không hành động (không đến nơi công tác mới theo điều động và do vậy không thực hiện được nhiệm vụ được giao); 3) Hành vi đào nhiệm đã gây hậu quả nghiêm trọng là thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân... Hình phạt được quy định cho tội này có mức cao nhất là 7 năm tù.

Về khung hình phạt

- Khung 1: đào nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm.

- Khung 2: đào nhiệm thuộc một trong các trường hợp sau, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

 Lôi kéo người khác đào nhiệm. Đây là trường hợp người phạm tội tự mình đã đào nhiệm mà còn dùng mọi hình thức (dụ dỗ, đe doạ, mua chuộc…) để người khác cùng mình đào nhiệm. Tuy nhiên, những hình thức này đều chưa đến mức khiến người bị “lôi kéo” không còn khả năng chống cự, nếu không người phạm tội còn có thể bị truy cứu thêm tội tương ứng về xâm phạm tự do dân chủ của công dân, tính mạng sức khoẻ công dân…Chỉ cần người phạm tội có hành vi “lôi kéo” chứ không cần người bị lôi kéo có đồng ý hay chưa là có thể áp dụng tình tiết này.

Phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai hoặc trong những trường hợp khó khăn đặc biệt khác của xã hội.

+ Phạm tội trong hoàn cảnh chiến tranh là trường hợp người phạm tội đào nhiệm ở nơi xảy ra chiến sự, đang thực hiện công việc ở nơi có chiến sự đã bỏ nhiệm vụ của mình.

+ Phạm tội trong hoàn cảnh thiên tai là trường hợp người phạm tội đào nhiệm ở nơi xảy ra thiên tai, đang thực hiện công việc ở nơi có thiên tai đã bỏ nhiệm vụ của mình. Những thiên tai này phải là đáng kể, có khả năng gây hậu quả đặc biệt lớn (lũ lụt, động đất, núi lửa…).

+ Những khó khăn khác của xã hội tuỳ trường hợp cụ thể mà đánh giá. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm. 

3. Thực trạng tội đào nhiệm hiện nay

Về bất cập, hạn chế: 

Thứ nhất, về tên tội danh là tội "Đào nhiệm” với tình tiết định tội “Người nào là cán bộ, công chức, viên chức mà cố ý từ bỏ nhiệm vụ công tác…”

Theo Từ điển Tiếng Việt “Đào nhiệm là trốn đi, bỏ nhiệm vụ”, như vậy thuật ngữ đào nhiệm có thể hiểu gồm hai nội dung “Trốn tránh nhiệm vụ và bỏ nhiệm vụ”.

Theo khoản 1 Điều 18 Luật Cán bộ, công chức, quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ: “Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao”. Khoản 1 Điều 19 Luật Viên chức năm 2010 quy định về những việc viên chức không được làm: “Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác công việc hoặc nhiệm vụ được giao”.

Điều 18: Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ

1. Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.

2. Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.

3. Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.

4. Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

Điều 19: Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật nhà nước

1. Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức.

2. Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài.

3. Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà cán bộ, công chức không được làm và chính sách đối với những người phải áp dụng quy định tại Điều này.

Như vậy trong quy định tại khoản 1 Điều 363 BLHS chỉ quy định hành vi “từ bỏ nhiệm vụ” mà không quy định hành vi khác như trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ đây đều là những hành vi gây ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mặc dù có quan điểm cho rằng các hành vi trốn tránh, thoái thác nhiệm vụ cũng được xem là từ bỏ nhiệm vụ. Quan điểm này chỉ cụ thể hóa trong luật mới có cơ sở để xử lý, chế tài nghiêm khắc, các hành vi có dấu hiệu như nhau nhưng chỉ một hành vi từ bỏ nhiệm vụ bị xử lý hình sự còn các hành vi không bị xử lý hình sự là bất hợp lý.

Thứ hai, tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” quy định trong điều luật được hiểu như thế nào? Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn. 

Thứ ba, về hình phạt bổ sung trong quy định tại khoản 3 Điều 363 trong tội “Đào nhiệm” quy định “Cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định”, nhưng trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 32 BLHS quy định về hình phạt bổ sung là “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định” như vậy quy định tại khoản 3 Điều 363 là chưa đầy đủ và còn thiếu cụm từ “Cấm hành nghề hoặc làm công việc”.

Cần làm gì để hạn chế tội phạm đào nhiệm ?

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 363 tội “Đào nhiệm”, cụ thể: “Người nào là cán bộ, công chức, viên chức mà cố ý từ bỏ, trốn tránh hoặc thoái thác nhiệm vụ công tác…”

Thứ hai, đối với tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” hướng dẫn như sau:

Cũng như đối với các tội phạm về chức vụ, chưa có hướng dẫn thế nào là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng do hành vi đào nhiệm gây ra, nên việc xác định thiệt hại tới mức nào cũng là việc rất phức tạp. Tuy nhiên, trong khi chưa có hướng dẫn cụ thể, chúng ta có thể vận dụng Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001.

Thứ ba, tại khoản 3 Điều 363 tội “Đào nhiệm” sửa đổi, bổ sung như sau: “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định…”.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thiết nghĩ cần có các văn bản hướng dẫn quy định hướng xử lý nghiêm khắc hơn mang tính răn đe đối với các hành vi đào nhiệm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về Đào nhiệm là gì ? . Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./