Trả lời:

Không có cơ sở nào để nói rằng đây là giai đoạn duy nhất mà dân số loài người (hay bất kỳ loài nào trên thế gian) đã và đang tăng lên.

Khi Phật giáo không cho rằng con người có ‘linh hồn’ được tạo ra bởi thượng đế sáng  tạo,  vậy  thì Phật giáo giải thích thế nào về việc dân số của loài người đang tăng lên như ngày nay?. Đây là một câu hỏi khá lý thú mà rất nhiều người đã hỏi.

Thật ra người nào hỏi câu này thì họ đã cho rằng trên thế gian vũ trụ chỉ có một một cõi sống là thế giới mà chúng ta và những chúng sinh khác đang sống. Tuy nhiên, trước hết chúng ta nói về  vấn đề  này trong phạm vi một thế giới duy nhất là trái đất.  Ai cũng có thể biết một điều tự nhiên là  dân  số người sống sẽ tăng lên ở những nơi có điều kiện khí hậu tốt, điều kiện sống tốt, điều kiện chăm sóc về y   tế tốt, thực phẩm tốt và an toàn tốt, cộng với những điều kiện dự phòng bệnh tật và an sinh xã hội tốt. Vì sao? Vì điều kiện tốt hơn sẽ giúp giữ  cho tuổi thọ dân số ở đó cao hơn, sống lâu hơn, rồi cộng  với những thế hệ con  cháu ra đời, thì tổng dân số ở xứ  đó sẽ tăng lên.

Nhiều nền văn minh lớn ở Trung Đông, Trung Á, Châu Phi và Châu Mỹ cổ đại đã biến mất vì bệnh dịch, thiên tai khi con người còn quá thiếu kiến thức phòng trị dịch bệnh và thiên tai để sống thọ hơn. Những lúc đó dân số loài người tụt xuống đến mức gần như diệt chủng. Đó là chúng ta đang nói  về  phạm vi hẹp với giả định là chỉ có một cõi sống là  trái đất.

Phật giáo thì có quan điểm theo kinh điển như sau:

Theo lý thuyết về vũ trụ của Phật giáo thì khi  một chúng sinh qua đời, thì người đó được  (hay bị) tái sinh vào một trong 31 cõi sống khác nhau, trong đó cõi người chỉ là một cõi sống. Sự gia tăng dân số loài người đơn giản cho thấy rằng số lượng những chúng sinh từ những cõi cao thấp khác đã được tái sinh vào cõi người ở mức độ nhiều hơn số lượng người chết trên trái đất.

Ngược lại, trong giai đoạn nào đó dân số loài người tụt giảm thì có nghĩa là số lượng người, sau  khi chết, được (hay bị) tái sinh vào những 30 cõi sống khác (Hoặc đã giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử như trường hợp những bậc A-la-hán, những vị Phật.) là nhiều hơn là số lượng  chúng  sinh  được tái sinh lại làm người ở cõi người. Dân số ở những cõi sống khác nhau đã và đang thay đổi từ nhiều đại kiếp từ vô thủy.

Số lượng chúng sinh sống trong 31 cõi trong vũ trụ, theo Phật giáo, là vô kể, không thể nào  tính được. Nếu tính tất cả chúng sinh ở những cõi cao  thấp khác nhau từ cõi trời, thiên thần...cho đến cõi địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ... thì dân số loài người  chỉ như một nắm cát so với số lượng cát trên tất cả bãi biển trên toàn trái đất, nói theo lời của vị trưởng lão K. Sri Dhammananda trong quyển “Những Điều Phật Tử Tin”.

Nói theo triết lý về tái sinh của Phật giáo thì đời sống của con người cũng giống như một dòng chảy, thay đổi liên tục và vô thường trong từng giây phút. Ai cũng chết đi sống lại trong từng khoảnh khắc chứ không có một cái “ai” nào cố định liên tục hiện hữu hết. Một người mười tuổi là đã khác ‘con người’ đó lúc năm tuổi. Rồi  khi thân năm uẩn già chết, tâm thức (cũng vô thường) di chuyển qua một  dạng  chúng sinh trong một cõi sống nào đó (tùy theo các nghiệp thiện ác hay nặng nhẹ...mà thức mang theo).

Như vậy, người ta chết đi thì có thể tái sinh về  bất kỳ cõi nào trong 31 cõi chứ không phải được tái sinh ngay thành một người khác, cho nên không có   lý gì cứ hỏi rằng tại sao dân số loài người trên trái đất luôn luôn thay đổi, tăng giảm trong những giai đoạn lịch sử tiến hóa khác nhau.

Còn nói nôm na thì rằng người chết có thể quay  lại làm người ngay kiếp sau, nhưng có khi ra đi về nhiều cõi khác trong trăm ngàn kiếp...cũng  chưa  được tái sinh làm người được; rồi từ vô thủy, hàng triệu triệu hay hàng tỷ chúng sinh từ trong vô số những chúng sinh trôi giạt trong hàng trăm  ngàn...kiếp ở những cõi súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ, thiên thần....có thể được tái sinh lại làm người. Như vậy, chúng ta không thể nào nói được là tại sao dân  số thế giới đang tăng hiện nay hay tại sao xưa kia lại bị giảm mạnh.

Riêng trong cõi người, con người ngày nay còn dùng những phương tiện ngừa thai để kiểm soát dân số ở nhiều nước. Điều đó là đúng với khoa học thế gian và như thế giảm tốc độ tăng dân số. Tuy nhiên, về góc độ quan điểm Phật giáo, thì việc ngăn ngừa  thụ thai cũng chỉ là những hành động do nghiệp và nhiều yếu tố duyên khởi “không thể nghĩ bàn” của nhiều chúng sinh mà những chúng sinh ở những cõi khác chưa được tái sinh lại cõi người. Ví dụ, chúng   ta không thể nói rằng có con số XX người không được ‘đầu thai’ làm người bởi vì có con số YY những người đã dùng con số ZZ  biện  pháp  ngừa thai. Điều này là không thể xác định.

Ví dụ người Âu Mỹ thì đề cao sự tự do, thời gian để sống và hưởng thụ hơn là có nhiều con cái vướng bận, nên đa số họ dùng những biện pháp tránh ngừa thai truyền thống và hiện đại, và dân số ở đó được kiểm soát hay thậm chí ít đi. Tuy nhiên điều đó cũng chẳng giúp gì nhiều vì sự thật dân số thế giới vẫn tăng nhanh lên đến 7 tỷ người, tăng 1 tỷ người so   với 12 năm trước đây. Vì những xứ Đông Á khác  vẫn muốn có nhiều con cái kế thừa dòng dõi và vẫn sinh đẻ nhiều, và những nước lớn không có chiến tranh kéo dài như trong những thế kỷ trước nên cũng ít người thiệt mạng chết trẻ.

Đó là những dữ kiện trên thế giới chúng ta có thể nghĩ và dự đoán được phần nào. Tuy nhiên, sự “di” của tất cả chúng sinh trên toàn vũ trụ là “không thể nghĩ bàn”, tất cả là tùy theo nghiệp và vô số những nhân duyên, cho nên chúng ta cũng khó biết   là đến lúc nào dân số thế giới lại sụt giảm xuống như trong nhiều giai đoạn quá khứ của lịch sử loài người.

Nguồn: Vấn Đáp Phật Giáo - Lê Kim Kha (biên soạn)