1. Đất đai có mồ mả giải quyết thế nào khi có tranh chấp ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Em có vấn đề sau cần luật sư giải đáp ạ: Trên mảnh đất gia đình em có 1 ngôi mộ của gia đình nhà ông H ( người cùng xã). Sau khi gia đình em xây tường bao quanh mảnh đất thì ông H yêu cầu gia đình em cắt phần đất ngôi mộ đó cho gia đình họ. Gia đình em không đồng ý và ông H đã gửi đơn khiếu nại lên UBND huyện khiếu nại gia đình em cản trở việc thăm nom mộ và yêu cầu UBND huyện cắt phần đất ngôi mô đó cho gia đình ông H.
Trong sổ đỏ gia đình em thì không thể hiện có ngôi mộ đó, trước đây ngồi mộ nằm cách mặt đường khoảng 2m, sau khi làm đường thì ngôi mộ đó nằm gần sát mặt đường (cách khoảng 50cm). Trước đó khoảng năm 2007 gia đình ông hợp có xây dựng ngôi mộ lên bằng gạch ( trước đó mộ đất), gia đình em không đồng ý và có ngăn cản việc xây dựng, nhưng do gia đình em đi vắng, ông H đã cho người xây xong ngôi mộ đó. Sau đó gia đình ông H có vào nói chuyện với gia đình em, có đặt vấn đề nếu gia đình không đồng ý thì để dỡ đi, do vấn đề tâm linh, không muốn đụng chạm đến mồ mả nên nhà em bảo thôi, đã trót xây rồi thì thôi, nhưng không được xây thêm nữa ( mới xây phần thô, chưa ốp đá gạch, quét vôi gì).
Gia đình em vẫn đồng ý cho ông H vào thăm nom mộ, không gây cản trở gì. Em muốn hỏi là gia đình ông H khiếu nại như vậy có đúng không ? Gia đình ông H có được cấp phần đất của ngôi mộ đấy không ?
Mong được luật sư giải đáp thắc mắc ạ ! Xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi:1900.6162

Trả lời

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê của chúng tôi.Với câu hỏi trên chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Theo thông tin bạn cung câp thì ngôi mộ đó nằm trên mảnh đất nhà bạn nhưng không nói rõ là có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không nên có 2 trường hợp xảy ra:

Trường hợp 1 : Gia đình bạn không có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất ở phần đất có phần đất mộ đó thì việc ông H khiếu nại gia đình bạn là đúng. Trong trường hợp gia đình ông H có đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 và Điều 101 Luật đất đai thì ông H sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về phàn đất mộ đó theo quy định.

Trường hợp 2 : Gia đình bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả phần đất mộ đó.

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai năm 2013 thì gia đình bạn có các quyền sau:

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Như vậy, bạn có quyền yêu cầu gia đình ông H dừng hành vi tu sửa, xây dựng. Nếu gia đình bạn và gia đình ông H không thể tự hòa giải thì gia đình bạn có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã nơi có tranh chấp đất để hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật đất đai.Việc được cấp đất chỉ đặt ra khi gia đình ông H có đầy đủ căn cứ chứng minh đất thuộc sở hữu của gia đình ông.

Ví dụ gia đình ông H không có giấy tờ gì về quyền sử dụng đất nhưng có đủ điều kiện thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Căn cứ theo Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP NGhị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy đinh như sau:

“Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;”

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

2. Hướng dẫn cách giải quyết tranh chấp mồ mả ?

Kính gửi văn phòng luật sư Minh Khuê, tôi có một việc muốn nhờ văn phòng luật sư tư vấn như sau: Dòng họ tôi có một lăng mộ của cụ quan thái giám triều Nguyễn, theo thần phả được giữ ở Làng thì diện tích khu mộ là 1 sào 10 thước. Khu mộ này đã có từ thế kỉ 18, đến khi cải cách thì khu đất này bị hợp tác xã xung công chỉ còn phần chính của khu mộ được bao quanh bằng đá ong với diện tích khoảng 150 m2.
Xin nói thêm là khu mộ này hiện nay đã được họ chúng tôi xây tường rào bao quanh, khu mộ này về mặt lịch sử và các tài liệu lịch sử thì đều công nhận là đất của dòng họ chúng tôi nhưng sau cải cách thì khu đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào những năm 90 có một gia đình đặt trộm mộ vào khu mộ của họ chúng tôi, khi họ đặt không có ai biết. Sau đó họ có tôn tạo và xây lại, vào thời điểm đó dòng họ nhà chúng tôi không đồng ý cho họ xây nhưng họ xây trộm và đến khi họ nhà chúng tôi ra thì họ đã xây xong rồi. Bây giờ họ muốn tu sửa và cải tạo lại nhưng dòng họ chúng tôi không đồng ý và yêu cầu họ dừng việc tu sửa lại, không cho họ tu sửa, sửa chữa lại. Gia đình người có ngôi mộ viết đơn ra UBND xã yêu cầu hòa giải giải quyết tranh chấp. Khi đại diện dòng họ chúng tôi ra họp theo giấy mời thì UBND hòa giải để dòng họ tôi cho họ cải tạo ngôi mộ đó và có nói là cho họ tôi 10 ngày để họp, sau 10 ngày mà dòng họ tôi ko đồng ý cho họ cải tạo thì sẽ chỉ đạo và cử an ninh công an xã giám sát để cho gia đình họ cải tạo ngôi mộ trên khu lăng mộ của dòng họ chúng tôi. Tôi muốn nhờ văn phòng luật sư tư vấn giúp tôi:
1. Việc dòng họ chúng tôi yêu cầu gia đình kia dừng việc cải tạo, trùng tu mộ của nhà họ có vi phạm pháp luật không?
2. Dòng họ chúng tôi có quyền yêu cầu gia đình họ di chuyển ngôi mộ đó về nghĩa trang của địa phương không?
3. Dòng họ chúng tôi muốn xây dựng trong khuôn viên của khu mộ ( đã được xây tường rào xung quanh có được ko?
4. Việc chính quyền nói là nếu sau thời gian nhất định mà dòng họ chúng tôi vẫn không đồng ý cho xây dựng thì chính quyền sẽ cưỡng chế và cử công an xã đến bảo vệ cho gia đình kia tu sửa ngôi mộ. Việc làm đó của UBND xã là đúng hay sai? Trường hợp dòng họ chúng tôi muốn nhờ văn phòng mình đứng ra là đại diện để giải quyết việc này với gia đình có ngôi mộ đặt trộm trong khu lằng nhà chúng tôi cũng như đại diện để giải quyết với chính quyền xã thì phí dịch vụ là bao nhiêu?
Rất mong nhận được sự hồi âm sớm của văn phòng luật sư. xin cảm ơn

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn nói thì Dòng họ bạn có một lăng mộ của cụ quan thái giám triều Nguyễn, theo thần phả được giữ ở Làng thì diện tích khu mộ là 1 sào 10 thước. Khu mộ này đã có từ thế kỉ 18, đến khi cải cách thì khu đất này bị hợp tác xã xung công chỉ còn phần chính của khu mộ được bao quanh bằng đá ong với diện tích khoảng 150 m2. Khu mộ này về mặt lịch sử và các tài liệu lịch sử thì đều công nhận là đất của dòng họ bạn nhưng sau cải cách thì khu đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Như vậy trong trường hợp này gia đình của bạn có thể làm hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Điều 99 và Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định:

Điều 99 Trường hợp sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

Điều 100 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình,cá nhân ,cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất.

1 Hộ gia đình ,cá nhận sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp GCNQSDĐ,quyền sở hữu nhà ở vf tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e Giấy tờ về quyền sử dung đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất

g Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính Phủ

Như vậy chỉ cần gia đình bạn có 1 trong các giấy tờ như quy định trên thì gia đình bạn có thể xin cấp GCNQSDĐ

Điều 70 trình tự ,thủ tục đăng ký đất đai ,tài sản gắn liền với đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất

1 Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định để làm thủ tục đăng ký

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.

Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng, sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

c) Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai thì gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo quy định tại Khoản 2 Điều này;

b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);

c) Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;

d) Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký;

đ) Trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đó. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký đất đai;

e) Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có);

g,Trường hợp người sử dung đất đề nghị cấp gCNQSDĐ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì gửi số liệu địa chính đên cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính,trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật,chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ,cập nhật bổ sung việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính,cơ sở dữ liệu đất đai,trao GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp,trường hợp hộ gia đình cá nhân nộp hồ sơ tại cấp xã thì gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vớ ủy bạn nhận dân cấp xã để trao cho người được cấp.

4. Cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc sau:

a) Kiểm tra hồ sơ và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

Trường hợp thuê đất thì trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ký quyết định cho thuê đất; ký hợp đồng thuê đất và trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau khi người sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

b) Chuyển hồ sơ đã giải quyết cho Văn phòng đăng ký đất đai.

5. Trường hợp người sử dụng đất đã đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật mà nay có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì nộp đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận; Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện các công việc quy định tại Điểm g Khoản 3 và Khoản 4 Điều này

1. Việc dòng họ chúng tôi yêu cầu gia đình kia dừng việc cải tạo, trùng tu mộ của nhà họ có vi phạm pháp luật không? 2. Dòng họ chúng tôi có quyền yêu cầu gia đình họ di chuyển ngôi mộ đó về nghĩa trang của địa phương không? 3. Dòng họ chúng tôi muốn xây dựng trong khuôn viên của khu mộ đã được xây tường rào xung quanh có được ko?

Như vậy khi bạn làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cần gia đình kia dừng việc cải tạo, trùng tu ngôi mộ của nhà họ. Bạn có quyền yêu cầu gia đình họ di chuyển ngôi mộ của gia đình họ ra khỏi ngôi mộ của gia đình bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Và việc ban muốn xây dựng trong khuôn viên của khu mộ nhà bạn thì bạn sẽ được xây dựng.Tuy nhiên nếu trong trường hợp gia đình ban chưa được cấp GCNQSD mà gia đình bạn có một trong các giấy tờ chứng minh ngôi mộ đó là của gia đình bạn đã được nhà nước giao các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu mảnh đất đó thì bạn vẫn có thể yêu cầu họ dừng cải tạo tu sửa. Khi có tranh chấp đất đai xảy ra thì sẽ được hòa giả tranh chấp ở cơ sở( đây là quy định bắt buộc Theo khoản 1 Điều 202 Luật đất đai năm 2013).Tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.( khoản 2 Điều 202)

Theo khoản 3,4 Điều 202 Luật đất đai

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Như vậy nếu như UBNDX hòa giải không thành thì bạn có quyền gửi đơn lên tòa án nhân dân giả quyết. theo khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013

Điều 203 Thẩm quyền giả quyết tranh chấp đất đai.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

4. Việc chính quyền nói là nếu sau thời gian nhất định mà dòng họ chúng tôi vẫn không đồng ý cho xây dựng thì chính quyền sẽ cưỡng chế và cử công an xã đến bảo vệ cho gia đình kia tu sửa ngôi mộ. Việc làm đó của UBND xã là đúng hay sai?

Như vậy việc làm đó của ủy ban nhân dân xã là sai về UBND xã không có quyền cho gia đình bạn trong thời gian 10 ngày phải đồng ý nếu không đồng ý thì sẽ tiến hành cưỡng chế.UBND xã và công an xã cũng không có thẩm quyền cưỡng chế gia đình ban vì thẩm quyền cưỡng chế đối với tranh chấp đất đai thuộc về ủy bạn nhân dân huyện (theo khoản 3 Điều 70 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế). >> Xem thêm: Nghị Định 43/2014 Hướng dẫn thi hành một số điều của luật đất đai

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đơn giá bồi thường thiệt hại cây trồng, vật nuôi, tài sản khi nhà nước thu hồi đất là bao nhiêu tiền ?

3. Tranh chấp về mồ mả thì ai giải quyết ?

Trước đây, bà N., ngụ quận Bình Tân (TP.HCM), được cha mẹ cho một miếng đất. Sau đó bà được UBND quận cấp giấy đỏ. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình nên giấy đỏ ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Thời gian qua đã xuất hiện một số vụ tranh chấp liên quan đến mồ mả của người thân, dẫn đến khiếu nại hay kiện tụng nhưng không cơ quan nào phân xử. Nhiều chuyên gia đã đề xuất ngành tòa án nên xem đây là một dạng tranh chấp dân sự và thụ lý, giải quyết chứ không thể cứ bỏ lửng như hiện nay.

Tòa, ủy ban đều từ chối

Sau khi một người anh của bà N. qua đời, gia đình người anh qua hỏi xin chôn trên đất của bà nhưng bà không đồng ý. Do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà không hay biết.

Năm 2007, biết việc, bà N. đã khởi kiện nhờ TAND quận tuyên dời mộ người anh ra khỏi đất của bà. Nhận đơn, tòa lắc đầu từ chối thụ lý vì cho rằng không thuộc thẩm quyền. Bà N. khiếu nại việc này thì bị lãnh đạo tòa bác đơn. Do vậy, bà N. phải quay về nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Nhưng chính quyền địa phương cũng lúng túng, không biết xử lý sao…

Tương tự, mới đây, tháng 4-2010, ông S. nhiều lần đến gặp chú ruột xin được cải táng mồ mả cha mẹ hiện chôn cất tại khu mộ gia tộc trên đất của người chú ở Lai Vung (Đồng Tháp) về một nghĩa trang tại TP Cần Thơ để tiện bề chăm sóc.

Người chú cương quyết không đồng ý nên ông S. phải nhờ đến chính quyền xã. Xã đã vận động người chú cho ông S. bốc mộ cha mẹ nhưng bất thành. Ông S. bèn gửi đơn nhờ huyện Lai Vung giải quyết thì bị từ chối, chỉ qua TAND huyện vì nội dung yêu cầu của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện.

Ông S. kiện ra TAND huyện Lai Vung, tòa cũng trả lại đơn vì cho rằng vụ việc của ông không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Bế tắc, ông S. không biết phải đi đâu, nhờ nơi nào để được bốc mộ cha mẹ về trông nom, hương khói.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Vì luật chưa quy định

Trong các vụ việc trên, lý do mà cả chính quyền địa phương lẫn tòa đưa ra để từ chối yêu cầu của đương sự là pháp luật chưa có một quy định nào rõ ràng về chuyện này.

Ở TP.HCM trước đây, các tòa quận, huyện cũng từng gặp khá nhiều vụ tranh chấp về đất đai có liên quan đến mồ mả trên phần đất đó. Ban đầu, các tòa đều lúng túng. Có tòa từ chối thẳng thừng, trả đơn kiện nhưng cũng có tòa thụ lý xong rồi không biết xử sao, phải hỏi ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ của cấp trên.

Sự bất nhất này khiến người dân phàn nàn về cách làm việc của tòa. Vì thế, quan điểm chung của ngành tòa án TP là nếu có tranh chấp đất đai có liên quan đến mồ mả thì tòa sẽ chỉ giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, không thụ lý, giải quyết phần mồ mả.

Theo TAND TP, cho đến nay chưa hề có một văn bản pháp luật nào quy định cho tòa hay ủy ban giải quyết những tranh chấp về mồ mả, hài cốt. Ngay cả TAND Tối cao cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn riêng cho ngành tòa án cả…

Giải quyết sao?

Quyền di dời, bảo quản, trông nom mồ mả… của thân nhân là một quyền chính đáng và thiêng liêng của người dân. Tranh chấp xảy ra giữa những người thân của người đã khuất tuy ít gặp nhưng vẫn là một thực tế cần được nhìn nhận.

Có người cho rằng một khi pháp luật dân sự chưa điều chỉnh thì có thể áp dụng tập quán (Điều 3 Bộ luật Dân sự 2005) để xử lý khi có xung đột. Cụ thể, chính quyền địa phương và các cơ quan đoàn thể, gia tộc… nên tổ chức vận động, thuyết phục các bên đương sự tìm ra hướng giải quyết phù hợp với truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc.

Tuy nhiên, nhiều người lại phản bác rằng một khi các bên không thống nhất được với nhau thì chính quyền địa phương cũng không thể làm gì. Như vậy cũng không thể giải quyết dứt điểm được tranh chấp.

Vì thế, nhiều chuyên gia đã đề xuất ngành tòa án nên xem đây là một dạng tranh chấp dân sự và thụ lý, giải quyết chứ không thể cứ bỏ lửng như hiện nay. Dĩ nhiên để làm được thì TAND Tối cao phải nghiên cứu và ra hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền, đường lối xử lý.

Chẳng hạn, thủ tục để tòa thụ lý, giải quyết dạng tranh chấp này bắt buộc phải qua khâu hòa giải ở địa phương để không làm phức tạp thêm tình hình, làm sứt mẻ tình cảm gia đình… Hòa giải không xong thì sau đó mới đưa ra tòa.

Lúc đó, tòa có thể xét người có quyền trực tiếp trong việc di dời, bảo quản, trông nom… mồ mả là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất mà cụ thể ưu tiên con ruột của người đã khuất. Nếu giữa chính những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có tranh chấp thì tòa xét ai có điều kiện hơn trong việc trông nom, hương khói thì giao cho người đó…

Vụ xét xử hiếm hoi

Trong thực tiễn đã xảy ra một trường hợp hiếm hoi mà tòa xét xử tranh chấp liên quan đến mồ mả cho đương sự.

Cụ thể, ông B. khởi kiện đòi ông S. bồi thường thiệt hại vì đã làm mộ vợ ông bị sạt lở, phải mất công sức, tiền bạc để di dời đi chỗ khác, được TAND huyện Sông Cầu (Phú Yên) thụ lý. Tháng 6-2008, TAND huyện Sông Cầu xử sơ thẩm đã nhận định việc mộ vợ ông B. bị sạt lở không phải do lỗi của ông S. nên bác yêu cầu đòi bồi thường của ông B.

Sau khi ông B. kháng cáo, tháng 8-2008, TAND tỉnh Phú Yên xử phúc thẩm kết luận ông S. có một phần lỗi gián tiếp trong việc mộ của vợ ông B. bị hư hỏng. Trên cơ sở thiệt hại thực tế là 3 triệu đồng, tòa chấp nhận một phần kháng cáo của ông B., sửa án sơ thẩm, buộc ông S. phải bồi thường 1/3 thiệt hại (1 triệu đồng).

_____________________________________________________

Tháng 5-2008, TAND huyện Cờ Đỏ (TP Cần Thơ) đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ ông HQC bị một số họ hàng kiện đòi bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả. Theo tòa, loại tranh chấp này hiện nay chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn giải quyết cụ thể.

Trước đó, năm 2006, ông C. di dời hài cốt của người anh về chôn cất ở chỗ khác để giao mảnh đất tọa lạc tại xã Thới Thạnh (Cờ Đỏ) cho người mua đất. Phát giác sự việc, thân nhân của người quá cố đã tố giác đến các cơ quan chức năng. Vụ việc được ban hòa giải xã Thới Thạnh đưa ra hòa giải nhưng không thành nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến tòa xem xét, giải quyết…

Tháng 12-2005, TAND tỉnh Vĩnh Long xử phúc thẩm đã tuyên đình chỉ một vụ tranh chấp đất có liên quan đến mồ mả trên đất vì tòa nhận định tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành tòa án.

Theo hồ sơ, năm 2003, giữa bà VTC và người cháu rể xảy ra tranh chấp một khu đất tồn tại 18 ngôi mộ, kim tĩnh – huyệt mộ đào sẵn của gia tộc chồng bà C. Người cháu rể có giấy đỏ, còn bà C. cho rằng người cháu rể đã làm hồ sơ giả xin cấp giấy đỏ nên khởi kiện. TAND huyện Bình Minh (Vĩnh Long) thụ lý, bác đơn của bà C., công nhận quyền sử dụng đất cho người cháu; buộc gia tộc chồng bà C. phải di dời 18 ngôi mộ và kim tĩnh ra khỏi khu đất này. Sau đó bà C. kháng cáo…

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Chỉnh sửa thông tin trên sổ đỏ như thế nào ? Cần làm gì khi Nhà nước ghi sai thông tin trên sổ đỏ ?

4. Có được tính gộp diện tích đất mồ mả cũ (đã di dời) vào đất của gia đình ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Gia đình tôi hiện đang sở hữu một mảnh đất bao gồm nhà và vườn do ông bà để lại có nguồn gốc từ trước năm 1975, đo ra diện tích là 1740 m2 ( không tính diện tích mồ mả), không tranh chấp với bất cứ cá nhân hay tổ chức nào.

Vậy khi tôi muốn di dời các mồ mả này đi để thuận lợi cho việc xây dựng nhà cửa sau này thì diện tích đất mồ mả cũ tôi có quyền được sử dụng không ? Và nếu có thì được tính vào ĐẤT VƯỜN hay ĐẤT Ở ? Tôi đã xem qua điều 87 luật 2003 nhưng không thấy quy định nào về điều này. kính mong quý luật sư giúp đỡ.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: B.T

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn đưa ra thì chúng tôi hiểu là đất vườn, đất mồ mả và nhà ở của bạn nằm trong cùng một thửa đất. Do đó, chúng tôi đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Về vấn đề có quyền được sử dụng diện tích đất mồ mả cũ hay không:

Hiện nay, pháp luật chưa có một quy định nào rõ ràng về vấn đề này mà đất mồ mả của gia đình bạn lại không nằm tách biệt với mảnh đất bao gồm nhà và vườn nên sau khi di dời các mồ mả này đi thì với diện tích đất mồ mả cũ, gia đình bạn vẫn có quyền được sử dụng.

Về vấn đề, diện tích đất mồ mả trên được tính vào đất vườn hay đất ở:

Tại điều 103, Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 103. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.
Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;
b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;
c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Như vậy, diện tích đất mồ mả trên của gia đình bạn được tính vào đất vườn hay đất ở là phụ thuộc vào các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất đối với mảnh đất của hộ gia đình bạn, phụ thuộc vào hạn mức đất giao tại địa phương bạn và phải đảm bảo tuân theo quy định tại Điều 103 Luật Đất đai năm 2013.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email hoặc tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến 24/7, gọi:1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng.!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về lối đi chung/đường đi nội bộ trong gia đình theo quy định pháp luật ?

5. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi đã mua 1 lô đất của chủ đầu tư "TLX", thanh toán hết tiền cách đây nhiều năm và có điều khoản nếu TLX không làm sổ được trong vòng khoảng 1 năm kể từ ngày ký thì tôi có thể trả lại đất & nhận lại tiền đã thanh toán và tiền phạt. Nhưng do thị trường BDS có khó khăn nên tôi không trả lại và không đòi tiền phạt vì TLX quá khó khăn.
Nhưng đến nay(2014) khu đất tôi đã mua trước đây của TLX đã có thanh khoản rất tốt. Vì thế, tôi đã ký HĐ với thời hạn 3 tháng gửi TLX bán lô đất này với giá 2,1tr và điều khoản thanh toán là sẽ bàn bạc với các bên khi có khách mua. Nhưng hiện nay tôi được biết TLX đã bán và đang xây nhà cho người mua mới mà không thông báo cho tôi biết. Khi tôi phát hiện ra tôi đã trao đổi thì TLX xin lỗi và đề nghi thanh toán làm 3 lần trong 4 tháng kể từ bây giờ, nhưng tôi không đồng ý vì sợ rủi ro. Thay vào đó tôi đề nghi thanh toán hết 1 lần vào thời điểm hết hạn hợp đồng gửi bán, nếu không đồng ý tôi sẽ không bán nữa và TLX sẽ vi phạm pháp luật.Tôi được biết TLX đã nhận tiền của khách hàng mới và đang xây nhà.Trong hợp đồng lô đất của tôi chỉ có 1 ngôi nhà 80 m2, nhưng hiện nay họ đang xây dựng 2 căn nhà ( 2 x 80m2) cho 2 người khác nhau.

Tôi muốn hỏi :

- Trong trường hợp này TLX có sai không? (Tôi cho là TLX đã sai)

- Phương án giải quyết hợp lý nhất là gì?

Xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: vanhoa

>> Luật sư tư vấn pháp luật về đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Thứ nhất về vấn đề trong trường hợp này TLX có sai không?

Về nghĩa vụ của các bên khi chuyển đổi quyền sử dụng đất

“Điều 695. Nghĩa vụ của các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất

Các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:

1. Chuyển giao đất cho nhau đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thoả thuận;

2. Sử dụng đất đúng mục đích, đúng thời hạn;

3. Chịu lệ phí về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà mình được chuyển đổi và thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai;

4. Thanh toán tiền chênh lệch, nếu giá trị quyền sử dụng đất chuyển đổi của một bên cao hơn, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Như vậy căn cứ vào quy định nêu trên cùng nội dung hợp đồng giữa hai bên thảo thuận để xác định bên nào có hành vi vi phạm.”

2. Thứ hai về vấn đề Phương án giải quyết hợp lý nhất là gì?

Căn cứ điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015

“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

Như vậy bạn có thể làm dơn khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi chủ đầu tư cư trú.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Pháp luật hiện hành quy định về đặt cọc mua bán nhà ? Tư vấn mua bán nhà chung cư ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Những quyền chung của người sử dụng đất?

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 166 Luật đất đai năm 2013 thì gia đình bạn có các quyền sau:

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Câu hỏi: Thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất với đất khai hoang?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;”

Câu hỏi: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc cơ quan nào?

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì thẩm quyền giả quyết tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết trường hợp tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;