1. Khái niệm dấu hiệu định tội

Dấu hiệu định tội là dấu hiệu dùng để mô tả tội phạm cụ thể trong luật và cho phép phân biệt tội này với tội khác.

Dấu hiệu định tội là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và đủ cho phép phân biệt tội phạm đó với các tội phạm khác. Đó là những dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của một tội. Ví dụ: trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu định tội sau:

1) (Chủ thể) có hành vi chiếm đoạt;

2) (Hành vi chiếm đoạt) có tính !én lút;

3) (Đối tượng của hành vi chiếm đoạt) là tài sản đang do người khác quản lý.

Những dấu hiệu trên là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội trộm cắp tài sản và đủ cho phép phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác, trước hết là các tội xâm phạm sở hữu nói chung và các tội phạm chiếm đoạt tài sản nói riêng.

Dấu hiệu định tội thường có ở tất cả các cấu thành tội phạm cơ bản là:

1) Dấu hiệu về chủ thể khi tội phạm đó đòi hỏi chủ thể đặc biệt;

2) Dấu hiệu hành vi khách quan;

>> Xem thêm:  Lính đánh thuê là gì ? Quy định pháp luật về lính đánh thuê

3) Dấu hiệu lỗi (nội dung của lỗi nói chung được quy định chung trong Phần chung Bộ luật hình sự).

Ngoài ra, còn có thể có dấu hiệu định tội khác và dấu hiệu này chỉ có ở một số tội phạm nhất định. Những dấu hiệu đó có thể là:

1) Đặc điểm của đối tượng tác động như dấu hiệu tài sản bị giao nhầm hoặc do tìm được, bắt được... là dấu hiệu định tội của tội chiếm giữ trái phép tài sản...;

2) Đặc điểm của phương tiện phạm tội như dấu hiệu của đưa hối lộ phải là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là dấu hiệu định tội của tội nhận hoặc đưa hối lộ...;

3) Đặc điểm của địa điểm phạm tội như dấu hiệu qua biên giới là dấu hiệu định tội của tội buôn lậu...; Cần phân biệt dấu hiệu định tội với dấu hiệu định khung. Dấu hiệu định tội dùng để mô tả và để phân biệt tội này với tội khác còn dấu hiệu định khung dùng để mô tả và để phân biệt giữa các trường hợp phạm tội có tính nguy hiểm khác nhau một cách cơ bản của một tội.

2. Dấu hiệu định tội trong tội phạm hoàn thành

Khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Trong Bộ luật hình sự cũng đưa ra những khái niệm như “chuẩn bị phạm tội”, “phạm tội chưa đạt”, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” nhưng không có một khái niệm nào về tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc. Việc xác định đúng thời điểm tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự của tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng phạm, phòng vệ chính đáng.

>> Xem thêm:  Đào ngũ là gì ? Khái niệm đào ngũ được hiểu như thế nào ?

3. Có thể hiểu tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc như sau

3.1 Tội phạm hoàn thành:

Là trường hợp hành vi phạm tội thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Có thể hiểu, tội phạm hoàn thành khi hành vi của người phạm tội đã có đủ các dấu hiệu phản ánh đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội đó. Như vậy, Thời điểm tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc người phạm tội đã đạt được mục đích của mình hay chưa. Khi tội phạm hoàn thành thì có thể người phạm tội đã đạt được hoặc chưa đạt được mục đích của mình.

Khi xác định trường hợp phạm tội với lỗi cố ý đã hoàn thành hay chưa, chỉ cần kiểm tra hành vi phạm tội đó đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm hay chưa. Nếu đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì là tội phạm hoàn thành. Ngược lại, nếu chưa thỏa mãn các yếu tố cấu thành của tội phạm thì tội phạm chưa hoàn thành. Thời điểm tội phạm hoàn thành khi nào tùy thuộc vào việc xây dựng các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (Ví dụ: đối với tội cướp tài sản, chỉ cần người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì tội phạm được xem là đã hoàn thành; nhưng đối với tội trộm cắp thì tội phạm chỉ được xem là hoàn thành khi người phạm tội đã lấy được tài sản của người khác).

Dựa vào đặc điểm của các loại cấu thành tội phạm, có thể rút ra được kết luận về thời điểm hoàn thành của các loại tội có cấu thành vật chất, cấu thành hình thức và cấu thành cắt xén như sau:

- Tội phạm có cấu thành vật chất hoàn thành khi người phạm tội đã gây hậu quả của tội phạm (Ví dụ: đối với tội giết người thì tội phạm hoàn thành khi hậu quả chết người đã xảy ra).

- Tội phạm có cấu thành hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện được hành vi phạm tội (Ví dụ: đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội phạm hoàn thành ngay khi người phạm tội có hành vi bắt cóc, không cần hậu quả chiếm đoạt tài sản xảy ra).


- Tội phạm có cấu thành cắt xén hoàn thành khi người phạm tội đã có những hoạt động bất kì nhằm thực hiện hành vi phạm tội (Ví dụ: đối với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tội phạm hoàn thành ngay khi người phạm tội có hoạt động thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, không cần việc thành lập tổ chức đã hoàn thành).

3.2 Tội phạm kết thúc:

Thời điểm tội phạm kết thúc là khi hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt, không còn xảy ra trên thực tế.

Tội phạm kết thúc có thể xảy ra trong các trường hợp sau: (i)Khi người phạm tội đã đạt được mục đích nên dừng việc thực hiện các hành vi phạm tội; (ii)Khi người phạm tội bị ngăn cản nên không thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; (iii)Khi người phạm tội tự ý dừng việc phạm tội.

Như vậy, thời điểm tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. Hành vi phạm tội của tội phạm có thể dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và cũng có thể kéo dài qua thời điểm tội phạm hoàn thành (Ví dụ: ở tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có hành vi bắt cóc nhưng người phạm tội vẫn chưa đạt được mục đích của mình nên tội phạm vẫn tiếp tục xảy ra).

Việc áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định đồng phạm và quyền phòng vệ chính đáng đều dựa vào thời điểm tội phạm kết thúc và hoàn toàn không phụ thuộc vào thời điểm tội phạm hoàn thành.

>> Xem thêm:  Định tội danh là gì ? Khái niệm về định tội danh

4. Quy định của pháp luật về tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc

Dấu hiệu định tội là Dấu hiệu dùng để mô tả tội phạm cụ thể trong luật và cho phép phân biệt tội này với tội khác. Là những dấu hiệu đặc trưng điển hình, phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm của một tội phạm và đủ cho phép phân biệt tội phạm đó với tội phạm khác.

Khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Trong Bộ luật hình sự cũng đưa ra những khái niệm như “chuẩn bị phạm tội”, “phạm tội chưa đạt”, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” nhưng không có một khái niệm nào về tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc. Việc xác định đúng thời điểm tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự của tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng phạm, phòng vệ chính đáng.

5. Kỹ năng xác định tội danh

Trong đời sống xã hội có nhiều người có hành vi gây nguy hại cho xã hội, nhưng không phải tất cả các hành vi gây nguy hại cho xã hội đều là tội phạm. Trong Bộ luật Hình sự hiện hành có quy định, có hành vi tuy có gây nguy hại cho xã hội nhưng không phải là tội phạm như là: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự); hoặc là hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm (quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự); hoặc là hành vi trong tình thế cấp thiết vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa tới lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa (quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự). Trong BLHS còn có quy định khác để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi gây nguy hại cho xã hội là tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 12 BLHS quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

“1- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng".

>> Xem thêm:  Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì ? Quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự?

Như vậy, ngoài các trường hợp mà BLHS quy định không phải là tội phạm và tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, thì người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà hành vi gây nguy hại cho xã hội đó là bị coi là tội phạm, thì họ phải chịu hình phạt của Nhà nước đối với hành vi gây nguy hại cho xã hội mà họ đã gây ra.

Tội phạm là gì? Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.

Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự về khái niệm tội phạm mà chúng tôi trình bày ở trên, thì chúng ta hiểu là: Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự mà thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà hành vi nguy hiểm cho xã hội đó xâm phạm đến một trong các quan hệ xã hội quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự thi hành vi nguy hiểm đó là tội phạm.

Đã từ lâu, các nhà khoa học về tội phạm học, cùng các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã xác định được các căn cứ để xác định tội phạm hay còn gọi là các yếu tố cấu thành tội phạm hoặc là các cấu thành bắt buộc của tội phạm. Các yếu tố cấu thành đó là:

Một là, mặt chủ thể của tội phạm: Là con người cụ thể, đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hai là, mặt chủ quan của tội phạm: Là động cơ, mục đích thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Và là lỗi khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý)

Ba là, mặt khách thể của tội phạm: Là quan hệ xã hội mà Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ.

Bốn là, mặt khách quan của tội phạm: Là các hành vi của chủ thể, biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Các hành vi này, có thể là bằng hành động nhưng cũng có thể là bằng không hành động.

Phải có đủ bốn yếu tố này mới cấu thành tội phạm. Thiếu một trong bốn yếu tố này, thì không phải là tội phạm. Do đó, chúng ta thấy rằng:

+ Những hành vi có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thông báo và yêu cầu bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông

+ Những tội phạm được quy định trong các điều luật trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự được gọi là tội.

+ Người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định, thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Luật Minh KHuê (tổng hợp và phân tích)

>> Xem thêm:  Tội chống người thi hành công vụ bị xử phạt như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về dấu hiệu định tội ?

Câu hỏi: Định tội danh được hiểu là gì?

Trả lời:

Định tội danh là một trong những biện pháp đưa Bộ luật hình sự (BLHS) vào đời sống xã hội, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Yêu cầu của công việc xét xử án hình sự là phải xét xử đúng người đúng tội, và việc xác định đúng người phạm tội, đúng tội phạm đã phạm lại là trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự.

Câu hỏi: Các bước xác định tội danh là gì ?

Trả lời:

Bước 1: Xác định tội phạm

Thiết lập, xem xét, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực tế khách quan.

Ở bước này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn. Phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Ngoài ra, phải loại trừ các trường hợp mà BLHS quy định không phải là tội phạm và tuổi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS.

Bước 2: Đối chiếu các hành vi bị truy tố với các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội danh bị truy tố

Để xác định đúng tội danh nhằm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào cấu thành cơ bản của điều luật để xác định tội danh, vì mỗi cấu thành cơ bản của tội phạm thể hiện một đặc điểm riêng của tội phạm. Căn cứ vào đặc điểm riêng đó mà chúng ta xác định được tội danh của từng hành vi phạm tội, tránh được sự nhầm lẫn giữa tội phạm này và tội phạm khác.

Bước 3: Ra văn bản áp dụng pháp luật:

Câu hỏi: Khách thể của tội phạm được hiểu thế nào?

Trả lời:

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Theo hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam những quan hệ đó là: quan hệ về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. . . những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.