1. Cách lập di chúc đối với người nước ngoài lập tại Việt Nam ?

Xin chào luật sư, tôi có người bạn quốc tịch Bỉ đang sinh sống tại việt nam. Bạn tôi muốn lập di chúc để khi chết, tôi sẽ lo hậu sự cho bạn. Vậy di chúc này sau khi được công chứng tại văn phòng luật sẽ có hiệu lực luôn hay phải có xác nhận của đại sứ quán bỉ nữa ạ ?
Xin cảm ơn quý văn phòng. Trân trọng!

Trả lời:

Đối với việc thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Điều 681 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

1. Năng lực lập di chúc, thay đổi và huỷ bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc.

2. Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc.

Như vậy, để giải quyết xung đột pháp luật về năng lực lập, thay đổi và hủy bỏ di chúc, Việt Nam áp dụng pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân. Pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng để xác định năng lực chủ thể khi công dân Việt Nam lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc, định đoạt di sản thừa kế, bất kể di sản thừa kế là động sản hay bất động sản. Pháp luật Việt Nam sẽ không được áp dụng đối với việc xác định năng lực chủ thể khi công dân nước ngoài lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc định đoạt di sản thừa kế, kể cả khi hành vi này được thực hiện tại Việt Nam.

Còn “Hình thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc” (khoản 2 điều 768, Bộ luật dân sự năm 2005). Hình thức của di chúc trong trường hợp có yếy tố nước ngoài không căn cứ vào quốc tịch của người lập di chúc mà căn cứ vào lãnh thổ nơi người để lại di sản lập di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi nhiều quốc gia quy định di chúc có hiệu lực khi được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do đó cần phải tuân theo các quy định của quốc gia nơi lập di chúc về hình thức của di chúc. Để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức di chúc, Việt Nam áp dụng nguyên tắc Luật của nước nơi lập di chúc. Bạn của bạn là người nước ngoài cho nên nếu tiến hành lập di chúc ở Việt Nam, sẽ phải áp dụng pháp luật của Việt Nam về hình thức di chúc.

Về hình thức Di chúc Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Theo khoản 3 Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015 là " Di chúc bằng văn bản có công chứng" vì bản di chúc đã được công chứng khi làm thủ tục về thừa kế sẽ mặc nhiên là hợp pháp về mặt chủ thể, hình thức và nội dung của di chúc vì tổ chức hành nghề công chứng nhân danh nhà nước để xác thực giá trị pháp lý của bản di chúc. Tuy nhiên khi lập di chúc có công chứng thì Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc theo khoản 1 Điều 56 Luật công chứng số 53/2014/QH13. Vậy nên, di chúc cần được công chứng, không nhất thiết phải xin xác nhận của Đại sứ quán.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về di chúc, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn phân chia di sản là quyền sử dụng đất theo pháp luật ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Cha, mẹ tôi có 3 người con trai,tôi là con út trong gia đình. Cha, mẹ tôi có một thửa đất với diện tích 600 mét vuông khi hai anh trai của tôi lập gia đình cũng được cha tôi lo cho 2 anh 2 thửa đất rộng rãi để sử dụng, sinh sống. Tôi là con út nên cha tôi cho ở lại mảnh đất của ông bà từ năm 1990 sau đó tôi cũng lập gia đình và xây dựng nhà cửa trên mảnh đất 600 mét vuông này.

Không lâu sau đó đến năm 1998 thì cha tôi qua đời, trước khi cha tôi mất ông giao cho tôi cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông được UBND huyện cấp vào năm 1987 và cho tôi tiếp tục được ở trên mảnh đất của ông để lại mà không để lại bất kỳ một bản di chúc hay thỏa thuận phân chia nào khác và hiện nay tôi vẫn còn giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cha tôi.

Đến năm nay là năm 2015 thì người anh trai cả của tôi vào đòi tôi phải phân chia số đất mà gia đình tôi đang ở cho anh một nửa và tôi đã không đồng ý. Anh cả của tôi còn đòi khởi kiện tôi ra tòa yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp đất.

Thưa luật sư anh trai tôi đòi khởi kiện và tranh chấp đất với tôi như vậy có đúng hay không ? Và hiện nay tôi có được yêu cầu cơ quan có chức năng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên tôi được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.N.T

Di chúc do người nước ngoài lập tại Việt Nam có cần phải xin xác nhận của Đại Sứ Quán không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do khi bố bạn mất không có di chúc để lại nói về phần bạn sẽ được hưởng ngôi nhà và mảnh đất hiện tại mà bạn đang ở; cũng không có ai làm chứng để chứng minh việc ông cho bạn mảnh đất đó. Và hiện tại, mảnh đất bạn đang ở sổ đỏ vẫn mang tên ông. Do đó, khi ông mất mảnh đất đó vẫn thuộc phần di sản của ông để lại cho các diện được hưởng thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo Điều 651, khi bố bạn mất để lại phần di sản là mảnh đất hiện bạn đang ở nhưng vẫn đứng tên ông thì phần di sản đó được chia làm ba phần bằng nhau cho ba anh em bạn.

Do đó, anh cả của bạn không có quyền đòi chia 1/2 mảnh đất đó. Trừ trường hợp người anh thứ hai của bạn tặng cho anh cả phần di sản mà mình được hưởng theo pháp luật, khi đó anh cả sẽ được hưởng 2/3 mảnh đất hiện đang đứng tên chủ sở hữu là bố bạn đã mất.

Bạn muốn cấp sổ đỏ đối với mảnh đất đó thì phải được sự đồng ý của hai người anh cả và anh hai của bạn. Nhưng trong trường hợp này chúng tôi nghĩ là không khả quan vì anh cả đang có nhu cầu đòi lại 1/2 của mảnh đất đó.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Xử lý trường hợp chia di sản không trái đạo đức xã hội ?

Xin chào Công ty Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề muốn được giải đáp: Ông bà nội tôi có 3 người con trai, 7 người con gái. Ba tôi là con trai út của ông bà nội và sống chung với ông bà nội từ nhỏ, khi lớn lên lập gia đình vẫn sống chung với ông bà nội trong cùng 1 nhà (nhưng ăn riêng). Còn những anh chị em của ba tôi thì ở xa và đã có nhà cửa riêng). sau gần 20 năm ba mẹ tôi xây thêm 1 ngôi nhà sát nhà ông bà nội ( tức 2 ngôi nhà cùng chung 1 mảnh vườn, 1 sổ đỏ.

Sổ đỏ và chủ hộ gia đinh là ông Nội tôi đứng tên, ông bà nội tôi có nuôi 1 đứa cháu ngoại từ nhỏ đến nay được 25 tuổi. Nay ông nội tôi bệnh nặng (không nói được hay quyết định gì được nữa), Bà nội tôi có ý định lập di chúc để lại hết đất đai và nhà (kể cả nhà ba mẹ tôi đang ở) cho cháu ngoại mà bà nuôi từ nhỏ.

Xin luật sư cho tôi hỏi: Bà nội tôi làm như vậy thì có đúng không? có vi phạm gì về luật hay đạo đức xã hội không? . Nếu có cho tôi biết theo bộ luật nào hay nghị định nào không ? .

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Người gửi: TD Thanh

Tư vấn phân chia di sản là quyền sử dụng đất theo pháp luật ?

Tư vấn thủ tục chia thừa kế theo luật, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Theo những gì bạn cung cấp thì mảnh đất có sổ đỏ và ngôi nhà là tài sản chung của ông bà bạn trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, bà bạn không thể có toàn quyền định đoạt với số tài sản đó mà chỉ có quyền định đoạt số tài sản của mình ( tức một nữa số tài sản đó ). Còn số tài sản của ông bạn sẽ do ông bạn định đoạt ( nếu như ông không thể lập di chúc) thì sau khi ông mất số tài sản đó sẽ được chia theo quy định của pháp luật tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Do đó, nếu như sau khi ông mất mà không để lại di chúc thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông sẽ được hưởng phần di sản đó. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất trong trường hợp này gồm có: bà nội của bạn, 03 người con trai và 07 người con gái của ông bà. Số di sản này sẽ được chia bằng nhau cho những người được hưởng.

Còn đối với tài sản của bà nội bạn thì bà quyết định cho ai là quyền tự định đoạt của bà. Theo quy định tại Điều 624 quy định " Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết". Người lập di chúc là người đã thành niên , trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 626 Bộ luật dân sự năm 2015 gồm có:

Điều 626. Quyền của người lập di chúc
Người lập di chúc có quyền sau đây:
1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vậy, nếu bà nội bạn quyết định để lại tài sản cho cháu ngoại nuôi của mình hoàn toàn không trái đạo đức xã hội.

Trong trường hợp mà bà nội bạn mất trước mà để lại di chúc quyết định toàn bộ di sản của mình cho cháu ngoại nuôi thì di chúc đó sẽ được thực hiện. Tuy nhiên, theo quy định tai Điều 644 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Do đó, trong trường hợp bà nội bạn mất trước ông bạn mà để lại di chúc nhưng chỉ để lại di cho cháu ngoại nuôi mà không để lại cho ai khác thì theo Điều 669 ông bạn vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 suất của người thừa kế theo pháp luật.

Trân trọng cảm ơn !

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tư vấn phân chia di sản đất đai do cụ nội để lại ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bố mẹ tôi ở cùng và chăm sóc cụ nội tôi trên mảnh đất của cụ (mảnh đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), cụ tôi mất năm 2000 không để lại di chúc. Cụ tôi có 3 người con gồm:

Ông nội tôi và 2 em gái. Năm 2008 ông bà nội tôi mất. Đến nay do bất đồng trong cuộc sống bố mẹ tôi ly hôn. Vậy khi ra tòa ly hôn mảnh đất mà cụ nội tôi để lại được phân chia như thế nào ? 2 người con gái còn sống của cụ nội tôi có được chia tài sản không ? Nếu chia thì chia như thế nào ?

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người gửi: N.V.T

Trả lời:

Trước hết, vì cụ nội bạn mất mà không để lại di chúc nên mảnh đất đó sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

- Thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

- Thứ tự chia thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Từ các quy định trên, bố bạn là cháu ruột (gọi cụ nội bạn là ông nội) thuộc hàng thừa kế thứ hai trong khi hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn ít nhất 2 người thừa kế (vì cụ nội bạn còn có thể có những người thân thuộc hàng thừa kế thứ nhất nêu tại Điều 651 mà bạn chưa nêu hết) là 2 người con gái còn sống của cụ nội bạn nên bố bạn sẽ không được hưởng thừa kế trừ khi những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Cũng chính vì vậy mà khi ra tòa giải quyết ly hôn nếu bố mẹ bạn có tranh chấp về tài sản thì mảnh đất thừa kế của cụ nội bạn không liên quan đến việc chia tài sản của bố mẹ bạn trừ khi những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thứ hai, Hai người con gái của cụ nội bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên theo thứ tự sẽ được hưởng di sản thừa kế của cụ nội bạn, trừ khi họ thuộc một các trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Thứ ba, Chia di sản thừa kế như thế nào ?

Trong trường hợp của bạn, theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự thì di sản thừa kế sẽ chia đều cho những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất. Nếu hàng thừa kế thứ nhất chỉ còn 2 người con gái của cụ nội bạn thì mảnh đất sẽ chia đôi cho 2 người con gái của cụ nội bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 .

>> Tham khảo bài viết liên quan: Nghĩa vụ với con riêng của chồng ?

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Con riêng có được hưởng di sản khi phân chia không ?

Thưa luật sư, Câu hỏi của tôi là: Vợ chồng tôi có 2 con trai và chồng tôi lại có con trai riêng với bồ nhí, xin hỏi sau này tài sản của vợ chồng tôi sẽ phân chia như thế nào trong trường hợp công nhận đứa con của bồ và nếu không công nhận thì có phải phân chia không nếu mẹ con bồ nhí đòi quyền lợi ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Trước hết con riêng của chồng bạn kể cả vợ chồng bạn có công nhận hay không công nhận thì vẫn là con đẻ của chồng bạn và chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con này theo quy định của pháp luật, nếu sau này phân chia tài sản của vợ chồng bạn sẽ có các trường hợp sảy ra đó là :

TH1 : Vợ chồng bạn thỏa thuận chia tài sản cho các con trong thời kì hôn nhân.

Vợ chồng bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận về việc phân chia tài sản cho các con ngay khi còn sống và trong thời kì hôn nhân do đây là tài sản thuộc sở hữu chung của hai người, đối với con riêng của chồng bạn thì chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con này theo Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và không bắt buộc phải chia tài sản cho người con này nếu chồng bạn đồng ý không chia cho người con đó.

"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

TH2 : Chồng bạn không để lại di chúc trước khi mất.

Đối với tài sản chung của vợ chồng bạn, chồng bạn sẽ được hưởng một nửa hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên. Trường hợp chồng bạn không để lại chúc thì toàn bộ số tài sản thuộc quyền sở hữu của chồng bạn trong số tài sản chung này và các tài sản riêng khác của chồng bạn sẽ được phân chia theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất này mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản bằng nhau kể cả con riêng của chồng bạn.

TH3 : Chồng bạn có để lại di chúc hợp pháp trước khi mất.

Nếu chồng bạn để lại di chúc hợp pháp về việc phân chia di sản thuộc quyền sở hữu của mình thì sẽ được thực hiện theo di chúc, nếu trong di chúc chồng bạn không để lại bất cứ tài sản nào cho người con riêng thì phải xét xem người con này có thuộc trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 669 LDS không, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều này người con riêng sẽ được hưởng ít nhất bằng 2/3 suất của một người thừa kế và mẹ con người con riêng này hoàn toàn có thể khởi kiện yêu cầu phân chia di sản.

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài