Dịch giả Lê Đức Mẫn, nhà giáo ưu tú, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam… đã cần mẫn “cày xới cánh đồng” văn chương Nga rộng lớn để giới thiệu với độc giả trong nước hơn 40 đầu sách dịch; trong đó nhiều tác phẩm gây tiếng vang như “Và nơi đây bình minh yên tĩnh”, “Những người thích đùa” của Azit Nêxin (chuyển dịch từ bản tiếng Nga), “Trường ca Ác quỷ” của Lermontov... Trò chuyện với ông, dễ dàng nhận thấy một phong cách điềm tĩnh, cần mẫn và thái độ trau chuốt cẩn trọng qua mỗi câu chữ.

“Học chữ cũng như làm giàu/ nếu không cóp nhặt lấy đâu được nhiều”

Dịch giả Lê Đức Mẫn sinh năm 1941 tại Duy Tiên, Hà Nam, là con trai duy nhất trong một gia đình phong kiến Nho giáo có 7 người con. Từ khi 6 tuổi, ông thường được nghe cha và các cụ bàn luận về văn chương, chính trị. Những buổi nghe lỏm bình về “Truyện Kiều”, đọc “Chinh phụ ngâm”, ngâm “Cung oán ngâm khúc”... đã để lại trong ông ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương và hình thành trong ông sự say mê thơ văn. Những tờ báo Nam Phong, Tân Văn, từ điển tiếng Pháp thời đó là cầu nối để ông tiếp cận với nền văn hoá tri thức, gợi mở trong suy nghĩ của Mẫn về thế giới mới rộng lớn. Thuở nhỏ, Mẫn hay được cha gọi chép lại thơ vào một quyển sổ mỗi khi ông đọc được bài thơ hay trên báo.

Mỗi ngày giở ra đọc, Mẫn thuộc từng đoạn, từng câu và cảm nhận được cái đẹp trong từng câu chữ và bắt đầu làm thơ. Tập thơ viết theo thể thơ Đường luật đầu tiên ông sáng tác năm 11 tuổi đã “thành hình” rất chững chạc và vẫn được ông lưu giữ đến tận bây giờ.

Lật giở những trang giấy đã ố màu, sờn gáy và bị mối gặm nhấm, bên cạnh nét chữ ngọng nghịu màu tím học trò là những chữ mực đỏ chi chít nghiêm khắc của người cha về vần luật, câu cú... Dịch giả Lê Đức Mẫn xúc động nhớ lại bài học đầu tiên người cha đáng kính dạy dỗ mà ông luôn khắc ghi trong lòng: “Học chữ cũng như làm giàu, nếu không cóp nhặt lấy đâu được nhiều. Một ngày học 6 tiếng, 10 ngày 60 tiếng, một tháng 180 tiếng, 1 năm 12 tháng sẽ được 2160 tiếng.

Vậy thì cứ chăm chỉ giữ mức thường như vậy trong một năm đã thấy khá, mà sau hai năm sẽ thấy đầy chữ. Phải nên bền chí, đừng đãng trí, đừng để gián đoạn ngày nào”. Cũng chính từ phương pháp học này mà Lê Đức Mẫn hình thành phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả.

Những bước đi bỡ ngỡ đầu tiên này tưởng như là sự khởi đầu của một nhà thơ trong tương lai nhưng dịch thuật lại, là cái “nghiệp” theo ông suốt cuộc đời. Vốn văn hoá, tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, lãng mạn đã tạo nên một con người Lê Đức Mẫn luôn trân trọng cái đẹp và cẩn trọng trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Đây là một yếu tố quan trọng để khẳng định vị thế của dịch giả trong làng dịch thuật nước nhà.

Trăn trở của một người dịch không chuyên

Tâm sự với tôi, ông tự nhận mình là dịch giả không chuyên, dịch thuật chỉ là nghề tay trái... Bên cạnh công việc chính là giảng viên dạy tiếng Nga tại Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội.

Năm 1960, ông đỗ khóa đầu tiên hệ 4 năm của Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ. Ngay năm đầu tiên học tiếng Nga đã nhen nhóm trong ông tình yêu với văn học Nga. Ông lại may mắn được học các thầy Vũ Lộc, Nguyễn Tử Phỏng, Hoàng Thuý Toàn và các chuyên gia Nga... Hằng ngày, cậu sinh viên Lê Đức Mẫn dành phần lớn thời gian trong thư viện để ghi chép, sưu tầm tài liệu, tích luỹ kiến thức.

Năm thứ 3, Lê Đức Mẫn dịch tuyển tập thơ của Puskin và bắt đầu hợp tác với Nhà xuất bản Văn học dịch một số tác phẩm của Lécmôntốp. “Trường ca Ác quỷ” dài 1000 câu được coi là tác phẩm đánh dấu giai đoạn chính thức ông được công nhận là một dịch giả Văn học Nga -Xô Viết.

Văn học dịch những năm gần đây bung ra và nở rộ về mặt số lượng, hướng đi đa dạng. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ văn học nghệ thuật thì nhiều tác phẩm vẫn vấp “sạn”. Điều ông trăn trở là Việt Nam chưa có trung tâm đào tạo dịch thuật, trong khi các nước trên thế giới đã hình thành từ rất sớm. Những người làm công tác dịch thuật chưa có quy chuẩn nhất định nên một số dịch giả đã gây ra những vụ “thảm sát” sách dịch trong thời gian qua. Không phải cứ ai biết ngoại ngữ là đã chuyển dịch thành công các tác phẩm văn học nước ngoài. Một bản dịch thành công phải là từ chữ đầu đến chữ cuối trơn mượt, người đọc không biết đấy là bản dịch. Muốn đạt được điều này, người dịch phải hiểu biết cặn kẽ, tận tường ngôn ngữ dân tộc và quan trọng là khả năng thụ cảm cái đẹp trong ngôn ngữ văn chương. Với những dịch giả trẻ, cần phải được đào tạo một cách chu đáo và phải nghiêm túc trong việc học tiếng Việt để có thể đạt tới thứ ngôn ngữ văn chương, thứ ngôn ngữ “quý tộc” trong văn học dịch.

Dịch sách mà học là điều Lê Đức Mẫn luôn tâm niệm trong suốt quá trính làm công việc dịch thuật.

Nguyễn Ngọc Liên