1. Bổ sung quy định xác định tranh chấp lao động và các loại tranh chấp lao động

Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 sửa đổi quy định vê xác định tranh châp lao động và các loại tranh chấp lao động thay vì giải thích trong Điều 3 như Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, Bộ luật cụ thể hơn khái niệm tranh chấp lao động thông qua việc mở rộng phạm vi tranh chấp lao động bao gồm cả những tranh chấp phát sinh từ quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Cụ thể: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”.

Cùng với đó, Bộ luật đưa ra các dấu hiệu nhận diện các loại tranh chấp lao động: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động phát sinh trong trường hợp sau đây:

a) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;

b) Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;

c) Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.

Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:

a) Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể;

b) Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Đình công là gì ? Khái niệm đình công hợp pháp, đình công bất hợp pháp ?

2. Thừa nhận trọng tài viên lao động và quy định Ban trọng tài lao động

- Thứ nhất, thừa nhận trọng tài viên lao động:

Đây là lần đầu tiên Bộ luật Lao động Việt Nam quy định về trọng tài viên lao động. Trọng tài viên lao động là người hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động, có uy tín và công tâm. Trọng tài viên lao động là thành viên của Hội đồng trọng tài. số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người.

- Thứ hai, bổ sung quy định về Ban trọng tài lao động:

Cùng với việc thừa nhận trọng tài viên lao động, Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định mới về Ban trọng tài lao động. Theo đó, khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động, Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau: a) Đại diện mỗi bên tranh chấp chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao động; b) Trọng tài viên lao động do các bên lựa chọn theo quy định thống nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động; c) Trường họp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn. Ban trọng tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động.

Các tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ và điều kiện hoạt động của trọng tài viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động; tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động; việc thành lập và hoạt động của Ban trọng tài lao động do Chính phủ quy định.

3. Bổ sung cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định ngoài hòa giải viên lao động và tòa án nhân dân, thì Hội đông trọng tài lao động cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân (Bộ luật Lao động năm 2012 quy định Hội đồng trọng tài lao động chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể). Như vậy, quy định này nhằm mang lại sự linh hoạt hơn trong việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp lao động.

>> Xem thêm:  Tranh chấp lao động là gì ? Quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động ?

Theo đó, Bộ luật quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động (Điều 89).

4. Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền

- Thứ nhất, bỏ quy định Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền:

Nếu như Bộ luật Lao động năm 2012 quy định Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền, thì Bộ luật Lao động năm 2019 đã bỏ quy định này. Bởi nhiều ý kiến cho rằng, quy định Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền chính là thừa nhận sự can thiệp của Nhà nước thông qua biện pháp hành chính để giải quyết tranh chấp lao động. Điều đó là không phù họp khi cơ quan giải quyết tranh chấp lao động phải là hệ thống các cơ quan tư pháp.

- Thứ hai, bổ sung Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền. Theo đó, Bộ luật quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền của Hội đồng trọng tài lao động tại Điều 193 của Bộ luật.

5. Bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chẩp lao động cá nhẫn và tranh chấp lao động tập thể về quyền

Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định về thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền. Theo đó, thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Ngoài ra, Bộ luật còn bổ sung các trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân (Điều 190).

Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mẩ bên tranh chấp cho rằng quyền hợp pháp của mình bị vi phạm (Điều 194).

>> Xem thêm:  Hết hạn hợp đồng lao động không ký tiếp thì xử lý như thế nào ? Cách gia hạn hợp đồng lao động ?

6. Sửa đổi quy định về chủ thể tổ chức, lãnh đạo đình công và bổ sung trường hợp người lao động có quyền đình công

Nhằm phù hợp với các quy định về tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp và chủ thể thương lượng tập thể, Bộ luật Lao động năm 2019 đã sửa đổi chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công. Theo đó, chủ thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công là tổ chức đại diện người lao động ở phạm vi cơ sở hoặc ở phạm vi ngành có quyền thương lượng tập thể (Điều 198). Như vậy, chủ thể có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công có thể là tổ chức công đoàn cơ sở hoặc tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp nếu đình công ở phạm vi doanh nghiệp hoặc đình công ở phạm vi có nhiều doanh nghiệp tham gia. Trường hợp đình công ở phạm vi ngành, thì chủ thể tổ chức và lãnh đạo đình công là ban chấp hành công đoàn ngành.

Ngoài ra, Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định về các trường hợp người lao động có quyền đình công. Theo đó, tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có quyền tiến hành thủ tục theo quy định để đình công trong trường hợp sau đây:

i) Hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải;

ii) Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động (Điều 199).

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động hiện nay, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư lao động giàu kinh nghiệm của chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng, tận tâm và chuyên nghiệp nhất.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng lao động bản cập nhật mới nhất năm 2021