Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.1975

 

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự 2005

2. Luật sư tư vấn:

 

Quản lí tài sản của người giám hộ 

Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 quy định vấn đề quản lý tài sản của người được giám hộ. Nhìn chung đối với việc quản lý tài sản đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không khác với quy định tại Điều 69 Bộ luật Dân sự 2005. Ở Bộ luật Dân sự 2015 có bổ sung thêm người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do đó Điều 59 Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung vấn đề quản lý tài sản tại khoản 2:

 

Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này”.

 

Như vậy đối chiếu theo quy định này thì người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi tương tự của người giám hộ là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự.

 

Thay đổi người giám hộ

Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thay đổi người giám hộ, đối chiếu với Bộ luật Dân sự 2005, về cơ bản các trường hợp thay đổi người giám hộ không khác nhau. Tại Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung về người giám hộ là pháp nhân và người được giám hộ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Điểm b khoản 1 Điều 60 Bộ luật Dân sự 2015 đã có những bổ sung tương ứng:

 

“Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự, mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại”.

 

Chuyển giao người giám hộ 

Điều 71 Bộ luật Dân sự 2005 quy định chuyển giao giám hộ của người giám hộ được cử từ đây cho thấy việc chuyển giao người giám hộ đương nhiên không được quy định. Đây là một quy định không hợp lý vì nếu người giám hộ rơi vào các trường hợp dẫn đến phải thay đổi người giám hộ thì không có cơ chế pháp luật hướng dẫn. Lỗ hổng này đã được khắc phục tại Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về chuyển giao giám hộ, không phân biệt hình thức giám hộ được chuyển giao là hình thức là gì, được hiểu là giám hộ đương nhiên và giám hộ cử đều có thể áp dụng quy định này. Điều này lại không phù hợp với hình thức giám hộ chỉ định bởi Tòa án đối với trường hợp với người được giám hộ là người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này Tòa án sẽ lựa chọn áp dụng ương tự pháp luật bằng việc lựa chọn ra trong số những người giám hộ đương nhiên, nếu không có người giám hộ đương nhiên thì Tòa án thì tòa án chỉ định một cá nhân hoặc đề nghị một pháp nhân làm người giám hộ.

Điều 61 Bộ luật Dân sự 2015 còn có điểm mới đó là bỏ quy định tại khoản 4 Điều 71 Bộ luật Dân sự 2005:

 

Việc chuyển giao giám hộ phải được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ mới công nhận”.

 

Đây là một quy định không cần thiết bởi lẽ chế định giám hộ được đặt ra nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người có khó khan trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chính vì vậy, việc công nhận hay không công nhận việc chuyển giao giám hộ Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ mới là không cần thiết. Việc quy định này cũng làm cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thêm Uỷ ban nhân dân có thể làm chậm lại hoặc cản trở việc giám hộ.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.1975 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê