Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Luật bảo hiểm xã hội 2014

1. Cơ sở pháp lý:

Chào luật sư. Em và bạn gái em năm nay mới 16 tuổi và đã có thai hơn 3 tháng. E và bạn gái em muốn đi đến hôn nhân nhưng có bị truy tố hình sự gì không ạ mong luật sư giúp em. Xin cảm ơnMong luật sư giúp đỡ em trả lời sớm nhất có thể ạ Đã gửi từ iPhone của tôi

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại Điều 115 BLHS

Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em
1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Có tính chất loạn luân;
d) Làm nạn nhân có thai;
đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
Như vậy theo quy định trên thì bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự .Tuy nhiên thì theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì độ tuổi kết hôn của nam là 20 và độ tuổi kết hôn của nữ 18. Nên trong trường hợp này của bạn thì bạn phải đợi đến khi nào đủ dộ tuổi kết hôn thì bạn đi làm thủ tục đăng ký kết hôn.

Xin chào luật sư. Em muốn hỏi là : hai vợ chồng em có mua chung một bất động sản trong thời kỳ hôn nhân . Sổ đỏ đứng tên 2 vợ chồng . Bây giờ chồng em muốn sang tên hẳn cho em toàn bộ quyền liên quan đến bất động sản đó . Chồng em không còn quyền lợi liên quan đến bất động sản đó nữa. Em xin hỏi như vậy có được không và cần thủ tục gì Mong luật sư trả lời . Em đang cần gấp ạ .

Trường hợp này của bạn có thể được cụ thể là chồng bạn sẽ đi làm hợp đồng tặng cho bất đọng sản và hợp đồng này phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của Bộ luật dân sự và Điều 167 khoản 3a Luật đất đai năm 2013

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

Sau khi đi công chứng thì bạn có thể chuẩn bị hồ sơ để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên của mình vợ bạn

Trình tự thực hiện theo quy định tại diều 79 Nghị định 43/2014

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

Điều 79 Trình tự , thủ tục chuyển đổi chuyển nhượng cho thuê cho thuê lại thừa kế tặng cho góp vốn bằng quyền sử dụng đất........

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với một phần thửa đất thì người sử dụng đất đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện đo đạc tách thửa đối với phần diện tích cần thực hiện quyền của người sử dụng đất trước khi nộp hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

a) Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

b) Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất;

c) Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã.

Luật hôn nhân gia đình Xin chào luật sư! Em lấy chồng được 6 năm và có một con gái hơn 4 tuổi.cách đây hơn 2 năm em có đứng ra vay tiền cho chồng em di lao động tại Hàn Quốc,nhưng không ngờ chồng em sang đó chẳng những không lo lắng gì cho vợ con mà còn công khai cặp bồ và hậu quả hiện nay là cô bồ đã có thai và sắp tới sẽ về Việt Nam sinh con tại nhà chồng em . vậy xin hỏi trong trường hợp này em có thể làm gì được không? Và em có thể kiện họ tội ngoại tình không? Và em nên gửi đơn đi đâu được?

Trong trường hợp này nếu như chồng bạn và cô bạn gái kia trở về nước sinh con thì bạn có khởi kiện ra tòa yêu cầu hai người đó chấm dứt hành vi trái qqquy định của pháp luật

Theo quy định tại điều 48 Nghị định 110/2013/ NĐ – CP của Chính phủ quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình , thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp hợp tác xã thì :

Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
 Trường hợp bạn muốn ly hôn thì bạn có thể gửi đơn đến tòa án để xin ly hôn thì tòa án cũng sẽ giải quyết cho bạn.

>> Xem thêm:  Lo sợ bố mẹ phản đối vì bạn gái đã từng có một đời chồng

Tôi tên: Hồ Văn Phương. Năm nay tôi 40 tuổi, lấy vợ được 15 năm. Nhưng giờ đây tôi và vợ tôi có 1 số chuyện riêng tư trong gia đình chưa giải quyết được. Vợ tôi muốn ly dị và chia tài sản. Tài sản gia đình tôi gồm 1 mảnh đất khoảng 4 thước đất, nhưng mảnh đất đó do ba tôi cho vợ chồng tôi. Tôi là người đứng tên. Vậy nếu tôi và vợ tôi ly dị thì mảnh đất đó có chia cho vợ tôi không?Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trường hợp này nếu ba anh cho vợ chồng anh thì anh phải căn cứ vào hợp đồng tặng cho tài sản nếu trong hợp đồng đó chỉ có mình anh và anh đi làm sổ đỏ chỉ có tên mình và sau đó trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng anh chị anh không thảo thuận sap nhập vào tài sản chung thì như vậy đây vẫn là tài sản riêng của anh và theo quy định của Luật hôn nhân gia đình tài sản riêng sẽ không bị chia theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 43 Tài sản riêng của vợ chồng.

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

cho em hỏi 1 chút là vụ việc hôn nhân gia đình là gì? vụ việc lao động là gì ạ? và theo em thấy vụ việc hôn nhân hay lao động cũng có thể coi là vụ việc dân sự phải không ạ. vậy sao lại phân biệt ra như vậy làm gì ạ. em cảm ơn!

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc dân sự bao gồm việc dân sự và vụ án dân sự. Vụ án dân sự được hiểu là những tranh chấp dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. NHư vậy vụ án dân sự được hiểu là tranh chấp và được quy định tại Điều 26 BLTTDS. Còn việc dân sự được hiểu là những yêu cầu mà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhờ tòa án giải quyết và đượcquy định tại Điều 27 BLTTDS.

Còn về việc bạn hỏi thì pháp luật Việt Nam chỉ tách ra vụ việc về lao động hay hôn nhân gia đình như vậy chỉ là nhằm mục đích quy định cụ thể về những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Chào quý Luật Sư Tôi hiện đang vướng mắc việc xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn.nên muốn được quý Luật sư trả lời giúp.Tôi xin trình bày sự việc như sau: Vào khoảng tháng 9-2012 tôi có xin UBND xã Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn với một Việt Kiều Đức.Sau đó vì một số lý do nên tôi đã không đăng ký kết hôn với người đó nữa.Trong khoảng thời gian đó đến nay tôi chưa đăng ký kết hôn với ai.Nhưng không may tôi đã làm mất Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân(bản gốc) mà UBND xã đã cấp cho tôi. Nay tôi muốn xin UBND xã cấp lại cho Tôi giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để tôi đăng ký kêt hôn thì UBND xã yêu cầu tôi nộp lại bản gốc đã cấp cho tôi trước đó.Tôi đã làm Đơn trình báo mất bản gốc đó và cũng làm bản cam kết và đơn xin cấp lại nhưng UBND xã không đồng ý và yêu cầu tôi ra Đại sứ quán Đức xin giấy xác nhận là tôi chưa đăng ký kết hôn với người Việt kiều Đức mà lần trước tôi định đăng ký kết hôn.Tôi đã liên hệ với Đại sứ quán Đức thì Đại sứ quán nói không có thẩm quyền xác nhận cho tôi và từ chối xác nhận. Giờ Tôi không biết phải làm sao.Mong quý Luật sư giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Theo quy định tại Điều 23,24 Nghị định 123/2015 Hướng dẫn luật hộ tịch

Điều 22 Thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng độc thân

1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký kết hôn và bảo lãnh ra nước ngoài khi kết hôn ngoại quốc?

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

5. Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

6. Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.

Điều 23 Giá trị sử dụng của giấy xác nhận tình trạng đôc thân

1. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng kể từ ngày cấp.

2. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác.

3. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không có giá trị khi sử dụng vào mục đích khác với mục đích ghi trong Giấy xác nhận.

> NHư vậy thì theo quy định trên pháp luật không cấm trường hợp bạn làm mất giấy xác nhận tình trạng độc thân để xin lại thì bạn vẫn được quyền xin lại.Nên nếu họ trả lời không cấp cho bạn mà không đưa ra lý do chính đáng thì bạn có quyền khiếu nại.

>> Xem thêm:  Lấy chồng là công an phải thẩm tra lý lịch ba đời có phải không?

Thưa luật sư,em và người yêu em, ông nội của anh ấy là em ruột của ông cố em. Đáng ra em phải gọi anh ấy là cậu. Như thế chúng em có quan hệ mấy đời và có thể kết hôn được không ? Trường hợp này em chưa nghe bao giờ và cũng đang rất lo lắng. Rất mong được nhận phản hồi. Em rất cảm ơn. Xin giấu tên Gửi từ điện thoại thông minh Samsung Galaxy của tôi.

 Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì cấm kết hôn trong phạm vi ba đời. Như vậy trường hợp của bạn vẫn trong phạm vi ba đời nên sẽ không được kết hôn theo quy định tại khoản 2d Điều 5

2. Cấm các hành vi sau đây:

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Cho mình hỏi... Ông ngoại mình và ông nội anh ấy là hai anh em ruột vậy mình và anh ấy có kết hôn được ko...?? Được gửi từ Email của OPPO

Trường hợp của bạn vẫn trong phạm vi ba đời nên bạn sẽ không được kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 

cho em hỏi. em họ của em nó không được thông minh nhanh nhẹn như người bình thường, mới lấy chồng, nhưng sau khi lấy chồng được nửa tháng thì bên nhà chồng và chồng không chấp nhận được con người chậm chạp của em em.Nên mẹ chồng và chồng dắt em của em về gửi lại gia đình. Khi em em đi lấy chồng bố mẹ đẻ có cho 2 cây vàng. bây giờ mới được thời gian ngắn chung sống với chồng và gia đình chồng và giờ như vậy thì có cách nào lấy lại được số tài sản bố mẹ ruột đã cho em của em không ạ lật sư giúp em với ạ. em xin chân thành cảm ơn

TRong trường hợp này của bạn thì mẹ chồng của em bạn khong thể dắt em bạn về nhà đẻ được vì em bạn vẫn đang trong quan hệ hôn nhân với con của họ. Nếu em bạn ly hôn thì sẽ được chia tài sản. Nếu tài sản riêng của em ban được bố mẹ đẻ cho làm em bạn không thỏa thuận sáp nhập vào tài sản chung thì gia đình bạn vẫn có quyền khởi kiện ra tòa đòi lại tài sản này

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự

>> Xem thêm:  Điều kiện kết hôn năm 2020 như thế nào ?