Khuya hôm đó phường giải bạn con lên C.A Q1 lúc đó tới bây giờ bạn con vẫn chưa nhận tội. Trước lúc đưa bạn con lên Quận, con có nhờ người cho gặp bạn con. Lúc đó không có ai con hỏi. Bạn bị gì? Bạn con kêu té xe, con hỏi vậy lúc té có tang chứng trên người ko? Bạn con nói không có tang chứng gì hết. Lúc té thì Thanh Niên Xung Phong gần đó thấy vậy gọi phường xuống đưa bạn con về. Bây giờ con rối quá con không biết là bạn con trên quận ra sao, con không biết bây giờ làm sao nữa. Con nghe c.a phường nói là có nhân chứng, vật chứng, nhưng bạn con nói là không có tang chứng. Bạn con chắc chắn rằng không là không có. Bây giờ tạm giam trên quận 1 vậy cho con hỏi có cách nào giúp bạn con không ạ?

Con xin cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung tư vấn

1. Bảo lãnh là gì?

Theo Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về bảo lĩnh như sau:

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh..

2. Ai có thẩm quyền bảo lãnh?

- Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

- Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Những lưu ý khi thực hiện thủ tục bảo lãnh:

- Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

- Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

- Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

- Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

- Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong quá trình điều tra để đưa ra kết luận cuối cùng thì người thân thích của người bị tạm giam vẫn có thể bảo lãnh cho bạn của bạn với điều kiện phải làm giấy cam đoan không để bạn của bạn tiếp tục phạm tội, đảm bảo sự có mặt khi có giấy triệu tập; khi nhận bảo lãnh thì ít nhất phải có hai người. Tuy nhiên, bạn của bạn được bảo lãnh không đồng nghĩa với việc không phạm tội mà các cơ quan vẫn tiến hành điều tra bình thường.

4. Có đủ yếu tố để khởi tố hình sự trong trường hợp này không?

Theo định nghĩa trong từ điển thì " tang chứng là vật chứng hoặc nhân chứng". Trong trường hợp này, vừa có vật chứng và nhân chứng nên không thể nói là không có tang chứng được, nên buộc tội cướp giật tài sản là có căn cứ. Và nếu bạn bạn phạm tội cướp giật tài sản có thể bị phạt từ từ 1 năm đến 5 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cướp giật tài sản tùy từng mức độ nguy hiểm của hành vi.

"1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng."

Như vậy bạn của bạn nếu sau quá trình điều tra của cơ quan công an mà xét thấy có đủ yếu tố cấu thành tội hình sự thì họ sẽ chuyển vụ việc sang viện kiểm sát để khởi tố. Nếu đúng là bạn của bạn vô tội, và cơ quan chức năng không có đủ bằng chứng để buộc tội thì bạn của bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự.