Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi: Công ty Luật Minh Khuê!

Chào Luật Minh Khuê, Em có đóng BHXH từ tháng 12/2014 đến tháng 12/2020 tại cơ quan. Em có thai và dự sinh ngày 4/9/2021. Từ ngày 1/1/2021 đến lúc sinh e xin nghỉ không lương để dưỡng thai và e có giấy chứng nhận nghỉ dưỡng thai từ ngày 4/1/2021 đến 13/1/2021 và từ ngày 21/1/2021 đến ngày 5/2/2021.

Như vậy em có được nhận tiền thai sản khi sinh con không ạ. Kính nhờ LuatMinhKhue.vn trợ giúp thắc mắc.

Trân trọng cảm ơn.

Mong sớm nhận được phản hồi từ Qúy công ty.

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Luật bảo hiểm xã hội 2014 ;

- Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc do Bộ trưởng Bộ lao động - thương binh và xã hội ban hành;

- Văn bản pháp luật khác

NỘI DUNG TƯ VẤN

Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về điều kiện hưởng chế độ thai sản như sau:

“Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Theo quy định trên, khi lao động nữ sinh con thì người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con thì mới đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 31 nêu trên người lao động khi mang thai phải nghỉ dưỡng thai phải đáp ứng các điều kiện sau mởi được hưởng chế độ thai sản:

Thứ nhất, đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên.

Qúy khách đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 12/2014 đến tháng 12/2020. Tức là đã có 6 năm đóng bảo hiểm xã hội. Vậy Qúy khách đáp ứng điều kiện thứ nhất.

Thứ hai, Khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh

Qúy khách có giấy chứng nhận nghỉ dưỡng thai từ ngày 4/1/2021 đến 13/1/2021 và từ ngày 21/1/2021 đến ngày 5/2/2021. (giấy chứng nhận này Luật Minh Khuê hiểu rằng là giấy chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. )

Qúy khách đáp ứng điều kiện phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.

Thứ ba, phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên

Phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con (Tức là trong khoảng thời gian: từ ngày 9/2020 đến 8/2021).

Qúy khách xin nghỉ để dưỡng thai từ ngày 1/1/2021 và dự sinh ngày 4/9/2021. Trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con Qúy khách có 4 tháng đóng bảo hiểm xã hội (đóng các tháng là: Tháng 9, tháng 10, tháng 11, tháng 12 của năm 2020). Qúy khách đáp ứng điều kiện thứ ba.

Vì vậy, như phân tích ở trên theo quan điểm của Luật Minh Khuê Qúy khách đủ điều kiện để hưởng thai sản theo quy định.

Câu hỏi bổ sung:

Kính gửi: Luật Minh Khuê, sau khi nhận được thư tư vấn em còn nội dung sau vướng mắc ạ:
Em có thắc mắc ở điều khoản này

"3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con"

Ở đây nghỉ dưỡng thai theo chỉ định là nguyên thời gian em nghỉ việc không lương để dưỡng thai từ 1/1/2021 đến ngày sinh phải có giấy chứng nhận nghỉ dưỡng của bệnh viện hay chỉ cần 1 giấy chứng nhận của 1 lần khám có thể là 10 ngày như trường hợp nêu trên của em là được ạ? Vì em không tìm được thông tin naof yêu cầu bắt buộc số ngày nghỉ dưỡng thai theo chỉ định để được hưởng trường hợp đóng 3 tháng laf 10 ngày 30 ngày hay phải cả thời gian nghỉ dưỡng thai không lương? Và giấy này là giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội do bệnh viện đa khoa tỉnh cấp là vẫn được đúng không ạ.
Nhờ chị tư vấn thêm giúp em. Em cảm ơn ạ.
Trả lời:
Kính gửi: Qúy khách hàng!
Luật Minh Khuê cảm ơn Qúy khách đã phản hồi lại, với câu hỏi của Qúy khách Luật Minh Khuê trả lời như sau:
Khoản 3 Điều 31 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định:

"3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con."

Khoản này rõ ràng không quy định hạn chế nghỉ việc bao nhiêu lâu để dưỡng thai, cũng như không quy định ngày nào nghỉ phải có xác nhận ngày đó. Do đó, quan điểm của Luật Minh Khuê cho rằng chỉ cần nghỉ việc với mục đích dưỡng thai, đồng thời có xác nhận của bệnh viện, Qúy khách cũng được công ty đồng ý cho nghỉ không lương để dưỡng thai. Do đó, Luật Minh Khuê cho rằng vẫn đáp ứng điều kiện này.

Ngoài ra, Ví dụ số 17 tại Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH cũng không nhắc đến điều kiện này.

Ví dụ 17: Chị D sinh con ngày 13/5/2017 (thuộc trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền), có quá trình đóng bảo hiểm xã hội như sau:

- Từ tháng 5/2014 đến tháng 4/2016 (24 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 8.500.000 đồng/tháng;

- Từ tháng 5/2016 đến tháng 8/2016 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 7.000.000 đồng/tháng;

- Từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 (8 tháng), nghỉ dưỡng thai, không đóng bảo hiểm xã hội.

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị D được tính như sau:

Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc

=

(7.000.000 x 4) + (8.500.000 x 2)

6

=

7.500.000 (đồng/tháng)

Như vậy, mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc để làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản của chị D là 7.500.000 đồng/tháng.

b) Đối với trường hợp người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 32, Điều 33, các khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 34, Điều 37 của Luật bảo hiểm xã hội ngay trong tháng đầu thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội thì mức hưởng chế độ thai sản được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật bảo hiểm xã hội được hướng dẫn như sau:

a) Trường hợp hợp đồng lao động hết thời hạn trong thời gian người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi hợp đồng lao động hết thời hạn được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời gian hưởng chế độ thai sản sau khi hợp đồng lao động hết thời hạn không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

b) Thời gian hưởng chế độ thai sản của người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi quy định tại khoản 4 Điều 31 của Luật bảo hiểm xã hội không được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.

c) Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định thì thời gian hưởng chế độ thai sản từ khi nghỉ việc đến khi đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội, kể từ thời điểm đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con thì lao động nữ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi hết thời hạn quy định tại khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật bảo hiểm xã hội nhưng người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

d) Trường hợp người cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng, người mẹ nhờ mang thai hộ, người cha nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng hưởng chế độ thai sản mà không nghỉ việc thì người lao động và người sử dụng lao động vẫn phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về chế độ thai sản”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê