Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

Nghị định số 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp

Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc

Luật việc làm năm 2013.

2. Luật sư tư vấn:

Chào luật sư. Em làm việc ở Binh Dương từ năm 2014 đến nay. Vậy giờ e muốn xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp ở Ninh Bình thì có phải lên BHXH tỉnh Bình Dương để đăng ký xin chuyển về Ninh Binh không ạ?. Hay chỉ mang quyết định nghỉ việc vê Ninh Bình và làm thủ tục xin hưởng trợ cấp thất nghiệp ở đó? Trân trọng cảm ơn?

Theo quy định tại điều 17 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, bạn muốn nhận trợ cấp thất nghiệp ở đâu thì nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm việc làm tại địa phương đó. Cụ thể:

Điều 17. Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định tại Điều 16 của Nghị định này cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.
2. Người lao động được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ theo đường bưu điện nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;
b) Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền;
c) Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp nêu trên là ngày người được ủy quyền trực tiếp nộp hồ sơ hoặc ngày ghi trên dấu bưu điện đối với trường hợp gửi theo đường bưu điện.
3. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, ghi phiếu hẹn trả kết quả theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và trao phiếu trực tiếp cho người nộp hồ sơ hoặc gửi qua đường bưu điện đối với người nộp hồ sơ qua đường bưu điện; trường hợp hồ sơ không đúng theo quy định tại Điều 16 Nghị định này thì trả lại người nộp và nêu rõ lý do.

>> Xem thêm:  Mức bồi thường khi công ty chấm dứt hợp đồng lao động trái luật ?

Bạn muốn hưởng trợ cấp thất nghiệp ở Ninh Bình thì sẽ nộp 01 bộ hồ sơ có đủ các thành phần theo quy định của nghị định này cho trung tâm việc làm ở Ninh Bình để được giải quyết.

Theo quy định tại điều 16 Nghị định này thì hồ sơ để hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

Điều 16. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp
1. Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
2. Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc:
a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
b) Quyết định thôi việc;
c) Quyết định sa thải;
d) Quyết định kỷ luật buộc thôi việc;
đ) Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó.
3. Sổ bảo hiểm xã hội.
Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.
Đối với người sử dụng lao động là các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thì trong thời hạn 30 ngày, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động.

Tôi thất nghiệp từ tháng 12 năm 2015, có đóng BHTN nhưng đến nay tôi chưa đăng ký thất nghiệp bây giờ tôi muốn làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp có được không

Điều 49 Luật việc làm năm 2013 quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau: 

"Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

>> Xem thêm:  Nghỉ không hưởng lương rồi tiến tới nghỉ hẳn việc có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.".

Bên cạnh đó, kể từ thời điểm bạn chấm dứt hợp đồng lao động, bạn phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo Điều 46 Luật việc làm năm 2013 về hưởng trợ cấp thất nghiệp.

"Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

>> Xem thêm:  Người lao động có thỏa thuận không đóng bảo hiểm xã hội với công ty thì bị xử phạt như thế nào?

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp."

Trường hợp của bạn, bạn đã thất nghiệp từ tháng 12/2015 nhưng chưa làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm nên không thể hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần này. Thời gian đã đóng BHTN sẽ được bảo lưu cho lần hưởng TCTN tiếp theo.

Thời gian chi trả trợ cấp thất nghiệp được quy định rõ tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP như sau:

Chào luật sư, Em là người đang trong diện nhận BHTN. Em đã nhận được kết quả BHTN ngày 05.07.2016. Khi em đến nhận kết quả, nhân viên bên TT dịch vụ việc làm có dặn em là 10 ngày sau mới được nhận tiền BHTN vào tài khoản thẻ nên 10 ngày sau mới được đem thẻ ra cây ATM đổi mật khẩu và nhận tiền. Nếu đổi sớm thì sẽ không nhận được tiền thì đừng có mà thắc mắc. Em được biết là lần nhận đầu tiên là 05 ngày kể từ ngày nhận kết quả. Em ko hiểu lắm lời nhân viên kia. Mong Luật sư giải đáp giúp em. Trân trọng cảm ơn!

Điều 18. Giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

...

2. Chi trả trợ cấp thất nghiệp

a) Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên của người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động từ tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2 trở đi trong thời hạn 05 ngày làm việc, tính từ thời điểm ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp đó nếu không nhận được quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động. Trường hợp thời điểm ngày thứ 07 nêu trên là ngày nghỉ thì thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc tiếp theo."

>> Xem thêm:  Cách đơn giản để biết Công ty có đóng Bảo Hiểm Y Tế cho bạn hay không ?

Như vậy, căn cứ quy định nêu trên, giải thích của người nhân viên của Trung tâm dịch vụ việc làm là không có căn cứ. Bạn có thể yêu cầu nhân viên này giải thích rõ thời gian nhận tiền trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên. Nếu Người này vẫn giải thích thời hạn như trên thì bạn có thể làm đơn khiếu nại về việc vi phạm quy định về thời gaian chi trả trợ cấp thất nghiệp với lãnh đạo trung tâm việc làm đó theo quy định của luật khiếu nại 2011.

Tôi hiện tại 45 tuổi đang làm việc cho một công ty xây dưng với mội công việc nhất định liên tục và không gián đoạn và nhận lương qua thẻ ngân hàng liên tục được 24 tháng .Nhưng hợp đồng lao động ký liên tục 3 tháng 1 lần ( điều khoản trong hợp đồng có ghi là các khoản bảo hiểm XH ,Y tế ,BHTN bao gồm trong lương ).Nhưng vì nhu cầu công việc chúng tôi phải chấp nhận lý hợp đồng 3 tháng /lần. Nay xin hỏi luật sư : công ty ký hợp đồng liên tục như vậy có sai không ? Người lao động muốn đòi hỏi quyền lợi về bảo hiểm thì như thế nào và được hưởng ra sao ?

Điều 22 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:

"1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

>> Xem thêm:  Tiền lương tháng 13, tiền thưởng, tiền làm thêm giờ có chịu thuế thu nhập cá nhân không ?

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác."

Như vậy, công ty chỉ được giao kết tối đa 2 lần hợp đồng có thời hạn 3 tháng với bạn, bắt đầu từ hợp đồng thứ 3 thì hợp đồng đó chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn. Công ty ký nhiều hợp đồng thời hạn 3 tháng là trái quy định của pháp luật. 

Điểm a khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2006 quy định: Đối tượng áp dụng

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

Như vậy, theo quy định trên thì hợp đồng bảo hiểm từ đủ 03 tháng trở lên thì công ty bạn phải đóng bảo hiểm cho người lao động, còn hợp đồng lao động dưới 03 tháng thì công ty không phải đóng bảo hiểm bắt buộc cho người lao động. Theo thông tin bạn cung cấp, trong HĐLĐ của bạn và công ty có ghi lương đã bao gồm các khaorn BHYT, BHXH, BHTN. Trường hợp này, công ty đã chi trả các khoản phí BHYT, BHXh, BHTN trong khoản lương trả cho bạn hàng tháng để bạn tự đóng các khoản BH nói trên. Bạn cần yêu cầu công ty giải thích rõ về vấn đề phí bảo hiểm bao gồm trong lương để hiểu rõ. Nếu không đồng ý với giải thích của công ty, để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho mình, bạn có thể làm đơn khiếu nại lên phòng lao động thương binh xã hội cấp huyện nơi công ty có trụ sở về vấn đề hợp đồng lao động và vấn đề không rõ ràng trong việc đóng BH.

Tôi đang hưởng chế độ BHTN 3 tháng 7,8,9.nhưng tôi lại kí hợp đồng mới của công ty từ tháng 7 và nộp bhxh từ tháng 7.vậy tôi có vi phạm luật ko. Xin cảm ơn!

Sau khi có việc làm, bạn phải thông bào với trung tâm việc làm để chấm dứt việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điều 53 Luật Việc làm 2013, cụ thể:

"Điều 53. Tạm dừng, tiếp tục, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

2. Người lao động bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

>> Xem thêm:  Đóng bảo hiểm thất nghiệp có gián đoạn hay phải liên tục ?

3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

...

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp."

Như vậy bạn thuộc trường hợp bị chấm dứt hưởng TCTN. Bạn có việc làm từ tháng 7 nhưng vẫn hưởng TCTN các tháng 7, 8 ,9 mà không khai báo thì khi bị phát hiện bạn sẽ bị truy thu và xử phạt theo quy định của pháp luật.
Việc chốt sổ BHXH của bạn được thực hiện khi bạn chấm dứt HĐLĐ cũ. Công ty mới sẽ đóng BHXH cho bạn tiếp tục kể từ thời điểm giao kết hợp đồng với bạn. Do vậy, khi công ty mới nộp BH cho bạn, Cơ quan BHXH sẽ biết được bạn đã nhận TCTN khi đã có việc làm. Số tiền đã hưởng sẽ bị truy thu theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mở công ty riêng khi đang xin trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thai sản ?