1. Do mâu thuẫn con dâu và bố mẹ chồng nên vợ bế con về bà ngoại vậy khi ly hôn quyền nuôi con thuộc về ai ?

Thưa luật sư, cháu lấy vợ và sinh được một cháu gần 24 tháng tuổi (ở Hà Nội), nhưng vì mẫu thuẫn gia đình giữa con dâu và bố mẹ chồng, vợ cháu không chịu được đã cho con về bên bà ngoại 1 tháng nay tại Thanh Hóa, trong khi cô ấy trên hà nội làm việc và đòi ly hôn.

Từ đó cháu không đón được con lên Hà Nội, và hôm trước thì mọi người trong nhà vợ không cho tôi gặp con bằng những tin nhắn: "nhà tôi không chào đón anh". Cháu là kỹ sư đang làm việc gần nhà (quản lý sản xuất cho công ty Nhật), nhà cửa cũng đàng hoàng ở cùng bố mẹ, thu nhập cũng tốt và sáng đi tối về, thứ 7 chủ nhật được nghỉ. Nhưng vợ cháu thì làm việc trên Hà Nội (sale hóa chất) nên đi công tác thường xuyên, thỉnh thoảng thứ 7 chủ nhật mới về quê thăm con và thu nhập cũng bình thường. Thực sự khi về bất chợt nhìn con thấy đau lòng vì xa bố hoặc mẹ và thường chơi một mình vì ai cũng bận cả. Cháu đã bảo vợ cùng suy nghĩ lại vì cháu rât yêu vợ và yêu con, nhưng cô ấy không chỊu vẫn cương quyết đòi ly hôn. Nhưng nếu ở với mẹ thì thực sự thiếu thốn tình cảm vô cùng. Vậy cháu hỏi, có cách nào để con cháu có thể ở cùng bố không ạ ?

Cảm ơn luật sư ạ.

Do mâu thuẫn con dâu và bố mẹ chồng nên vợ bế con về bà ngoại vậy khi ly hôn quyền nuôi con thuộc về ai ?

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty luật Minh Khuê,chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ theo điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Như vậy, trường hợp của bạn có con gần 24 tháng tuổi thì sau khi ly hôn, nếu người mẹ có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì con sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Còn nếu người mẹ không có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục còn thì con sẽ giao cho bố nuôi, trừ khi cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Trong trường hợp của anh thì nếu anh chứng minh được người mẹ không có thời gian chăm sóc con mà thường xuyên gửi con cho ông bà chăm thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giành quyền nuôi con về cho mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Ly hôn, giải quyết về tranh chấp về quyền nuôi con như thế nào ?

2. Chồng thường xuyên chơi bời, nhậu nhẹt thì vợ có quyền nuôi con không ?

Thưa luật sư, cho tôi hỏi vấn đề sau: Con tôi hiện giờ 17 tháng tuổi. Tôi ở nhà nuôi con không có việc làm. Chồng tôi thường xuyên chơi bời nhậu nhẹt rượu chè. Cờ bạc đánh đập vợ con. Nếu ly hôn trong tình trạng hiện giờ tôi có được quyền nuôi con hay không?

Vì chắc chắn chồng tôi và nhà chồng sẽ giành quyền nuôi con với tôi. Tôi không thể để con tôi được nuôi dậy trong môi trường như thế. Ông nội thường xuyên nát rượu, chú đi tù. Bố thì chơi bời. Nhưng hiện tại tôi không có việc làm là 1 bất lợi vô cùng lớn. Mong bạn cho tôi lời khuyên. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.K

Chồng thường xuyên chơi bời, nhậu nhẹt thì vợ có quyền nuôi con không ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

Như vậy, về mặt quy định của pháp luật, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

Trường hợp của bạn, con bạn 17 tháng tuổi, nếu xảy ra sự kiện ly hôn thì sẽ có tranh chấp về quyền nuôi con. Chúng tôi xin đưa ra lời tư vấn như sau:

- Con bạn 17 tháng tuổi. Về mặt quy định của pháp luật, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ nuôi dưỡng. Như vậy, bạn đã được pháp luật dành quyền ưu tiên.

- Khi có tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho con của người cha và người mẹ. Điều kiện này được xác định trên 2 yếu tố, khả năng kinh tế, tài chính và yếu tố tinh thần. Yếu tố tinh thần bao gồm chỗ ở, môi trường sống, thời gian chăm sóc, giáo dục cho con, phẩm chất đạo đức của người cha người mẹ, sức khỏe của người trực tiếp nuôi dưỡng con... Với thông tin bạn cung cấp, xem xét điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cho con của vợ chồng bạn, nhận thấy, về khả năng kinh tế tài chính của bạn kém hơn so với chồng bạn, tuy nhiên, về mặt yếu tố tinh thần phía bạn lại có lợi thế hơn so với chồng bạn. Thể hiện ở chỗ, môi trường sống phía người cha của bé là một môi trường có thể nói là không lành mạnh cho sự phát triển của bé 17 tháng tuổi. Ngoài ra, bạn còn có quyền ưu tiên mà pháp luật dành cho người mẹ khi con dưới 36 tháng tuổi.

Vì vậy, nếu có tranh chấp, khả năng bạn giành được quyền nuôi con là cao hơn so với chồng bạn.

Bạn có quyền ưu tiên của pháp luật khi con dưới 36 tháng tuổi. Khi xem xét giao con cho ai nuôi, Tòa án phải dựa trên điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho con của người cha người mẹ thì mới quyết định.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm: Tư vấn thủ tục ly hôn, phân chia tài sản, quyền nuôi con theo luật ?

3. Thủ tục ly hôn khi hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và quyền nuôi con sau ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi và chồng tôi cưới nhau từ năm 2012. Đến năm 2015 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Chúng tôi sinh cháu đầu vào 29/1/2013. Và có cháu thứ 2 vào 7/10/2017. Vợ chồng tôi thường xuyên xảy ra cãi vã và giờ tôi là vợ, muốn được biết thủ tục ly hôn như thế nào ạ.Tôi muốn nhường quyền nuôi 2 con cho chồng tôi vì chồng tôi có thu nhập cao hơn tôi và gia đình chồng có điều kiện tốt hơn ?
Xin luật sư tư vấn giúp ạ.

Thủ tục ly hôn khi hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và quyền nuôi con sau ly hôn ?

Trả lời:

Thứ nhất,về thủ tục ly hôn,chúng tôi xin tư vấn :

1. Về hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin thuận tình ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Sổ hộ khẩu của vợ, chồng (bản sao có chứng thực)

- Chứng minh thư nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực)

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực, nếu có).

Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong hai người cư trú.

Sau khi đã có đủ các giấy tờ trên chị nộp lên toà án và nộp án phí (khi toà án đã thụ lý). Án phí với các vụ án ly hôn không phân chia tài sản là 200.000 đồng.

2 Về thời gian giải quyết thuận tình ly hôn:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Khi bạn nộp đơn xin thuận tình ly hôn thì tòa án sẽ yêu cầu bạn chứng minh tình trạng hôn nhân bằng mẫu xác minh tình trạng hôn nhân.

Thứ hai, về quyền nuôi con :

- Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Như vậy, bạn có thể thỏa thuận với chồng về việc nuôi con sau khi ly hôn và viết đơn xin nhường quyền nuôi con cho chồng. Khi giải quyết yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ ưu tiên thỏa thuận giữa hai vợ chồng. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án mới ra quyết định giao con cho một bên nuôi trực tiếp.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp giành quyền nuôi con và chia tài sản khi ly hôn ?

4. Giải quyết vấn đề tranh cấp quyền nuôi con khi chấm dứt quan hệ hôn nhân ?

Thủ tục ly hôn. Giải quyết tranh chấp về quyền nuôi con. Các vấn đề về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:

Kết quả hình ảnh cho thủ tục ly hôn

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Trả lời:

Xin hỏi luật sư em có con với người yêu cũ nay bé được 5 tuổi ,em và người ấy không liên lạc gì với nhau,người ấy biết là em đã có con nhung không chu cấp gì cho mẹ con em và trốn tránh trách nhiệm. Nay em hiện tại đã kết hôn và cuộc sống khó khăn em muốn người yêu cũ phải có trách nhiệm và nghia vụ chu cấp cho con có được được không? Và em cần làm những j và người yêu cũ có dành lại con khong? Trong trường hợp ng yêu cũ muốn dành con liệu có khả năng khong?xin luật su tu vấn giúp em, xin cảm ơn, rất mong nhận được thư phản hồi.

Căn cứ quy định tại điều 107, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

" Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

Trong trường hợp này, vì hai bạn chưa kết hôn mới chỉ dừng lại mối quan hệ người yêu nên để xác định trách nhiệm của người bạn trai trong trường hợp này bạn phải có căn cứ chứng minh cháu bé 5 tuổi là con chung của hai người thông qua việc xét nghiệp ADN.

Sau khi có kết quả xét nghiệm nếu cháu là con của người bạn trai này mà khi bạn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng người đó không thực hiện thì bạn có quyền gửi đơn lên Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết.

Khi có tranh chấp về quyền nuôi con thì hai bên thỏa thuận với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì có thể làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Người bạn trai có thể dành quyền nuôi con được hay không còn phụ thuộc vào điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nếu bạn không có đủ điều kiện.

Thưa luật sư, Nếu mà chồng tôi bị nhiễm HIV thì tôi có quyền được nuôi con không? Cháu là con trai bố cháu là con trai duy nhất trong nhà.

Căn cứ quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

" Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Như vậy, trường hợp này có thể chồng bạn không có quyền nuôi con vì không đảm bảo điều kiện về sức khỏe. Tuy nhiên để chắc chắn bạn có quyền nuôi con thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thưa luật sư, Nếu mà chồng tôi bị nhiễm HIV thì tôi có quyền được nuôi con không? Cháu là con trai bố cháu là con trai duy nhất trong nhà

Bạn vui lòng tham khảo bài viết trên

Kính chào luật sư Em tên là Hiện Sống ở phú yên Vấn đề : em muốn biết cắt và chuyển hộ khẩu xin và nuôi con cho trẻ đúng 18 tuổi có được không ạ - gia đỉnh em gặp 1 chút rắc rối - em được bố mẹ chuyển khẩu qua nhà Bác từ năm 16 tuổi Gia đình em và gia đình bác em cãi nhau về chuyện riêng tư Bác em nói : giờ tao không cắt khẩu đúng 18tuổi tao mới cắt - em xin hỏi 18 tuổi có cắt khẩu được không ạ - Nếu có kiện thì đòi lại được khẩu không ạ - Mong mọi người giúp đỡ .

Căn cứ quy định tại điều 15, Luât cư trú năm 2006, sửa đổi năm 2013 quy định:

" Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp phápđược tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do".

Như vậy, trường hợp này bạn muốn tách khẩu nhưng chủ hộ là bác bạn không đồng ý. Do đó, bạn không đủ điều kiện để tách khẩu. Pháp luật không quy định về độ tuổi tách khẩu là bao nhiêu mà chỉ cần có sự đồng ý của chủ hộ là được.

Bạn không thể kiện đòi lại khẩu được.

Chào luật sư. Tôi muốn hỏi,hiện tôi đang nuôi con 15 thág một mình nhưng tôi đang muốn gửi bé đi nhà trẻ và đi làm,nhưng gia đình tôi không đưa lại cho tôi giấy khai sinh của cháu bé ( vì khj trước họ làm giúp tôi giấy khai sinh cho bé và họ hiện đang cầm ) và họ cũng ko cho tôi mượn sổ hộ khẩu để tôi làm hồ sơ xin việc, tôi xin tách khẩu họ cũng ko đồng ý, vậy trong trường hợp của tôi thì tôi phải làm sao ?

Trường hợp này bạn muốn tách khẩu thì phải có sự đồng ý của chủ hộ gia đình theo quy định của điều 15, Luật cư trú sửa đổi năm 2013.Trường hợp này bạn phải thỏa thuận với chủ hộ gia đình về vấn đề của mình để chủ hộ có thể đồng ý tách khẩu và đưa các giấy tờ có liên quan đến giấy khai sinh của bé.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Hướng dẫn thủ tục ly hôn và cách giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn ?

Xin chào Luật sư, Tôi tên X, hiện tại đang sống tại Bình Dương, tôi muốn nhờ luật sư tư vần giúp tôi vụ việc ly hôn: Tôi và chồng kết hôn từ năm 2011. Đến tháng 6/2014 có 1 cháu gái. Do mâu thuẫn cá nhân giữa 2 vợ chồng, từ cuối năm 2013 chúng tôi sống cùng nhà, nhưng đã ly thân cho đến hiện tại. Nay vấn đề mâu thuẫn giữa 2 bên không giải quyết được, chúng tôi quyết định ly hôn.

Chúng tôi có chung 1 bé gái 34 tháng tuổi, chưa thỏa thuận là bên nào sẽ nuôi con, nhưng tôi muốn dành quyền nuôi con. Cả 2 vợ chồng đều đi làm công ty, trung bình hằng tháng thu nhập của tôi 7 triệu, của chồng tôi không rõ (tầm mức 8-9 triệu). Hiện tại 2 vợ chồng sống chung 1 nhà, nhà này trước đây bố me có làm thủ tục sang tên cho chồng tôi (nói miệng là cho 2 vợ chồng căn nhà này), nhưng hộ khẩu thì bố vẫn đứng tên chủ hộ. Về giấy tờ nhà đất tôi hoàn toàn không biết gì. tôi và con gái không có tên trong hộ khẩu, vì trước kia hộ khẩu tôi ờ thành phố Hồ Chí Minh chưa chuyển về.

* Nếu ly hôn thì khả năng tôi được quyền nuôi con có khả thi không? Con gái tôi có được thừa hưởng gì không?

* Về thủ tục li hôn, vì hộ khẩu tôi và con gái ở thành phố Hồ Chí Minh còn chồng tôi thì ở Bình Dương, nếu vậy thì phải có cả 2 hộ khẩu luôn phải không ah?

*Tất cả giấy tờ đều phải photo công chứng phải không ?

*Giấy tờ nhà đất thì vợ chồng tôi không giữ, vì âm thầm li hôn không muốn bố mẹ biết nên thể lấy giấy tờ nhà đất được ?

Xin luật sư giải đáp giúp tôi về trường hợp trên, mong sự phản hồi của luật sư Chân thành càm ơn.

Hướng dẫn thủ tục ly hôn và cách giải quyết tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn ?

Luật sư trả lời:

1. Hướng dẫn thực hiện thủ tục ly hôn theo đúng quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình:

Theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2014 (Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) thì hồ sơ ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành được chia thành: Thủ tục ly hôn thuận tình và thủ tục ly hôn đơn phương, trong đó cần cung cấp cho tòa án những hồ sơ tài liệu pháp lý sau:

- Mẫu đơn xin ly hôn (Tham khảo cách viết: Mẫu đơn ly hôn thuận tìnhmẫu đơn ly hôn đơn phương);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc (Tòa án sẽ thu hồi Đăng ký kết hôn bản gốc khi hai bên ly hôn); Nếu trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản gốc không còn thì phải xin cấp Trích lục bản sao giấy đăng ký kết hôn tại UBND Xã/Phường

- Bản sao y có chứng thực của UBND Xã/Phường sổ hộ khẩu và Chứng minh thư của hai bên Vợ và Chồng;

- Bản sao y có chứng thực của UBND Xã/Phường giấy khai sinh của các con (nếu có);

- Bản sao y giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản khi xảy ra tranh chấp và yêu cầu tòa án phân chia tài sản theo luật.

2. Về vấn đề nuôi con khi ly hôn

Theo quy định tại Điều 81, Luật Hôn nhân gia đình 2014 về "Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn" như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Như vậy, nếu con gái chị còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) và chị có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con thì chị sẽ được quyền trực tiếp nuôi con. Trường hợp con đã lớn hơn 36 tháng tuổi thì hai vợ chồng nên thỏa thuận với nha về người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Khi đó, khả năng chị được trực tiếp nuôi con là khả thi.

Đối với vấn đề con có được thừa hưởng gì hay không thì tại điều Điều 110_ Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về "Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con" thì: Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Do đó, nếu chị là người trực tiếp nuôi con và có yêu cầu về vấn đề cấp dưỡng thì cha đứa bé sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đến khi con đủ 18 tuổi.

3. Về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn được quy định tại Điều 59 như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Như vậy, tài sản vợ chồng sau khi ly hôn được chia như sau:

- Trước hết dựa trên sự thỏa thuận của 2 bên.

- Nếu không thỏa thuận được thì: Đối với tài sản riêng của ai thì sẽ thuộc về người đó; Đối với tài sản chung thì thông thường sẽ được chia đôi.

Về Quyền sử dụng đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì Căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

6. Tôi có thể giành quyền nuôi con với chồng mình được không?

Theo như thông tin mà chị cung cấp, chúng tôi đã phần nào hiểu được hoàn cảnh gia đình của chị,chúng tôi cũng cho chị lời khuyên là nếu như cuộc sống hôn nhân của chị và chồng chị không thể duy trì được thì tốt nhất là chị nên thực hiện thủ tục ly hôn để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất theo quy định của pháp luật cho cả chị và con.

Theo quy định tại Điều 51 của luật hôn nhân gia đình năm 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, chị và chồng chị đều có quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn, chị có thể làm đơn ly hôn rồi gửi cho tòa án nơi chị và chồng chị cư trú. Nếu chồng chị không thuận tình ly hôn chị có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu riêng của chị. Khi làm đơn ly hôn chị có thể làm đơn yêu cầu đòi quyền ly hôn, trong đơn này chị nên đưa vào những căn cứ về việc chồng chị đã tái nghiện và không có công việc ổn định đồng thời chị đưa vào những căn cứ chứng minh chị đủ khả năng nuôi con, chu cấp đầy đủ cho con. Căn cứ vào điều 55, 56, 81, 82 ,83 bộ luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 55. Thuận tình ly hônTrong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Khi này chồng chị vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chị.

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty Luật Minh Khuê