Vậy tôi phải làm thế nào để người đó trả tiền cho tôi khi cần bây giờ. Xin luật sư giúp đỡ. Trân trọng cảm ơn luật sư!

Người gửi: H.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn về pháp luật dân sự gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011. 

>> Xem thêm:  Cách xác định tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009. 

2. Nội dung tư vấn: 

Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về nghĩa vụ của bên vay:

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Theo đó, người bạn của bạn đã trả nợ chậm so với thỏa thuận ban đầu nên đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người đó cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết, vì theo điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Trong trường hợp nghiêm trọng hơn, do số tiền vay tương đối lớn nên khi hành vi đó có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS (Nếu có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin trái sự thật để chiếm đoạt tài sản đó) hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS (Nếu có hành vi dùng số tiền vay mượn đó vào mục đích trái pháp luật hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó) thì bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an yêu cầu giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình