Ông bà nội cháu sinh được 5 người con 3 gái và hai trai , bố cháu đứng thứ 2 ở cùng với ông bà nội từ nhỏ. Gia đình cháu được ông bà nội cho mảnh đất 300m2 mang tên quyền sử dụng đất là bố cháu từ năm 1998 (đất nhà cháu gần khu chợ rất đẹp do cụ cháu để lại ), bố cháu hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế đất hàng năm đều do bố cháu. Ông bà nội cháu biết thế nên cho bố cháu nhưng chỉ nói mồm không ghi giấy tờ gì cả đến nay ông bà cháu bảo bố cháu phải chuyển tên quyền sử dụng đất tên bố cháu về tên ông bà để ông bà chia cho các bác các cô mỗi người một ít để làm của hồi môn của ông bà để lại cho các con (bác cả lấy vợ, các cô đã lấy chồng và có đất và nhà riêng hết rồi, riêng bác cả hơn nghìn mét vuông). Ông bà cháu bảo: Nếu bố cháu không chia thì sẽ kiện ra tòa, lên huyện tịch thu sổ đỏ, bây giờ gia đình cháu không biết phải làm gì bây giờ. Ông cháu làm đơn ra xã rồi. Vì bố cháu không đưa sổ cho ông ?

Mong cô chú chỉ bảo gia đình cháu với.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tưvấn luật dân sự  của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013 

2. Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Cầm cố sổ đỏ để vay tiền có được không ? Sổ đỏ có thể là tài sản cầm cố không ?

Theo chúng tôi thì nếu tại thời điểm bố bạn đi làm thủ tục sang tên sổ đỏ mà được sự đồng ý của ông bà bạn thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Bố bạn có thể lấy bằng chứng là hóa đơn đóng thuế cho nhà nước làm bằng chứng.

Nếu tại thời điểm bố bạn đi làm thủ tục sang tên mà không được sự đồng ý của ông bà bạn thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không hợp pháp. Ông bà bạn có quyền khởi kiện đòi lại mảnh đất mang tên bố bạn. Trước khi khởi kiện thì hai bên phải hòa giải trước tòa theo quy định tại Điều 202 Luât đất đai năm 2013:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Nếu hòa giải không thành thì giải quyết theo Điều 203 của luật đất đai năm 2013 :

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Vậy trước tiên ông bà và gia đình bạn hãy hòa giải tại UBND xã, nếu hòa giải không thành thì ông bạn mới có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất từ mẹ cho con ?