1. Đơn ly hôn viết tay có được tòa án chấp thuận hay không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Đơn ly hôn viết tay được không hay phải làm theo mẫu ạ. Vậy, Đơn ly hôn viết tay có được chấp thuận không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Vấn đề 1: Thủ tục ly hôn

Điều 51.Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ cgiủa họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi"

Điều 56 Ly hôn theo yêu cầu của một bên ( Luật hôn nhân gia đình năm 2014)

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Căn cứ vào quy định trên cùng với thông tin mà bạn cung cấp thì bạn hoàn toàn có thể làm đơn xin ly hôn .

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn đơn phương

+ Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

+ Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

+ Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

+ Bản sao giấy khai sinh của con.

Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ hoặc chồng cư trú ( nếu ly hôn thuận tình)

Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi chồng cư trú ( bị đơn) nếu ly hôn đơn phương

Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Vấn đề 2: Ly hôn vắng mặt

Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014 quy định về: Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định:

"1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ."

Như vậy, bản thân nguyên đơn hoặc trong vụ án muốn xét xử vắng mặt thì phải có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện tham gia phiên toà.

Vấn đề 3: Giải quyết tài sản ly hôn

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Vấn đề 4: Giành quyền nuôi con

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Lưu ý: Con cái là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng chăm sóc con nên một bên muốn đưa con đi cần có sự đồng ý của vợ hoặc chồng. Với trường hợp người vợ đưa con đi như vậy chưa thể cấu thành tội bắt cóc, theo Điều 157 BLHS năm 2015 quy định rằng Tội bắt giữ, tạm giam người trái pháp luật nhằm mục đích tư thù cá nhân, hay vì động cơ vụ lợi thì mới cấu thành trách nhiệm hình sự.

Vấn đề 4: Nghĩa vụ trợ cấp nuôi dưỡng con

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."
"Điều 117. Phương thức cấp dưỡng
Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi về email:để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn về chia tài sản là nhà ở sau khi ly hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, mình có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Nhà vợ chồng mình đang ở được bố mẹ chồng mình cho đất. Sau đó vợ chồng mình làm sổ đỏ nhưng trong sổ đỏ chỉ có tên chồng mình. Vậy khi ly hôn ngôi nhà đó có được chia không ?
Mình xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.H

Tư vấn về chia tài sản là nhà ở sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn nhà mà vợ chồng bạn được bố mẹ chồng tặng cho chung là tài sản chung vì theo khoản 1 và 3 Điều Luật Hôn nhân gia đình số 52/2014/QH13:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Về nguyên tắc chia tài sản chung được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn...

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. ..."

Như vậy, khi ly hôn, ngôi nhà trên sẽ được chia theo nguyên tắc trên.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Tư vấn về mức tạm ứng án phí của vụ việc ly hôn ?

Xin chào Luật sư! Thưa Luật sư tôi và chồng tôi đang tiến hành thủ tục hòa giải để ly hôn ở cơ sở. Quyết định cuối cùng là ly hôn nhưng lại chưa thỏa thuận về việc chia tài sản và nuôi dưỡng con cái. Tôi muốn hỏi trước khi tòa thụ lý và giải quyết thì tôi phải nộp tiền tạm ứng án phí là bao nhiêu?
Mong nhận được tư vấn của Luật sư. Chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, bạn có nói khi hòa giải ở cơ sở quyết định cuối cùng là ly hôn. Như vậy việc ly hôn của vợ chồng bạn là thuận tình ly hôn. Do đó vợ chồng bạn cần làm đơn yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Đây là việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của tòa án theo điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngoài ra bạn và chồng bạn chưa thỏa thuận được vấn đề về tài sản và nuôi con. Do đó vợ chồng bạn cần khởi kiện yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và vấn đề nuôi con. Đây sẽ là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của tòa án theo điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2014.

Khoản 1 Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định :

"1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được min nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của Nghị quyết này."

Khoản 1 Điều 36 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định :

"Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26 và các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí Tòa án theo quy định của Pháp lệnh này."

Như vậy bạn cần phải nộp tạm ứng án phí (vì tòa án giải quyết tranh chấp về tài sản và quyền nuôi con) và tạm ứng lệ phí (vì yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn).

Trong vụ việc ly hôn của bạn có ba vấn đề tranh chấp cần tòa án giải quyết , cụ thể là : Yêu cầu tòa án công nhận thuận tình ly hôn; Vấn đề nuôi con - đây là vụ án dân sự không có giá ngạch vì không thể xác định bằng một số tiền cụ thể và chia tài sản- đây là vụ án dân sự có giá ngạch. Do đó Căn cứ vào danh mục án phí lệ phí được ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì bạn phải đóng mức tạm ứng án phí lệ phí như sau:

- Mức tạm ứng lệ phí bằng mức lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000VNĐ

- Mức tạm ứng án phí đối với vụ án dân sự sơ thẩm là : 300.000 VNĐ

-Mức tạm ứng án phí đối với vụ án có giá ngạch : Trong bài viết gửi đến công ty, bạn không nói rõ giá trị tài sản chung của hai vợ chồng bạn đang tranh chấp cần tòa án chia khi ly hôn là bao nhiêu. Do đó chúng tôi không thể đưa ra con số cụ thể về mức tạm ứng án phí bạn phải nộp đối với vụ án dân sự có giá ngạch.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Người vợ sau khi ly hôn có được quyền nuôi cả hai con hay không ?

Xin Chào Luật sư! Tôi đang có một số vấn đề rất cần quý Luật sư giúp đỡ, tôi và chồng tôi lấy nhau từ năm 2008 tuy nhiên từ khi lấy nhau đến nay chồng tôi không tu chí làm ăn, mà chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần rất nhiều, phải bỏ trốn sang trung quốc mất 2 năm.
Hiện tại sau khi đi về vẫn vừa đi làm vừa chơi, nên tôi muốn ly hôn tuy nhiên vợ chồng tôi lại có hai cháu, cháu lớn năm nay đang học lớp 1 và cháu bé hơn 3 tuổi, trong quá trình sống cùng nhà với bố mẹ chồng, có ăn chung thì ông bà vẫn chi phí mọi vấn đề, vợ chồng tôi chỉ lo đóng tiền học cho con, mua sữa, thuốc men và mua thêm thức ăn cho con tôi, và hàng tháng ông bà vẫn hỗ trợ thêm 500 /1 tháng vì thu nhập của bố chồng tôi hàng tháng 10triệu còn bản thân tôi thì tháng chỉ có 5triệu - vậy cho tôi hỏi sau khi ly hôn tôi muốn nuôi cả hai con thì có được không? và gia đình ngoại tôi thì cách nhà chồng 200km và bên ngoại chỉ làm nông nghiệp nên thu nhập thấp, tôi muốn cho hai con về đó đi học ông bà trông cho đi làm nuôi con thì liệu tòa có chấp thuận không ạ? và liệu bố chồng tôi đòi quyền nuôi cháu có được không?
Hãy giúp tôi với, tôi sợ khi ly hôn rồi không được nuôi cả hai con. Rất mong VP luật sư giúp đỡ!

>> ​Luật sư Tư vấn luật hôn nhân và gia đình , gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo quy định trên thì trước hết chị nên thỏa thuận với chồng chị về việc nuôi 2 cháu, nếu chồng chị không đồng ý thì khi ra tòa, Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Như vậy, để có quyền nuôi hai cháu, chị phải chứng minh cho Tòa thấy rằng việc chị nuôi hai cháu sẽ có lợi hơn, ví dụ như việc chồng chị chỉ chơi bời, không quan tâm đến gia đình, việc 2 cháu sống với chồng chị sẽ không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho hai cháu,...

Tòa án cũng sẽ xem xét nguyện vọng của cháu đang học lớp 1 nếu cháu từ đủ 7 tuổi trở lên về việc cháu muốn sống với ai, từ đó sẽ đưa ra quyết định giao cháu cho ai nuôi dưỡng. Điều kiện nuôi dưỡng sẽ căn cứ vào: tình hình kinh tế bản thân chị, chỗ ở, sức khỏe, nhân thân,... Chị muốn nuôi 2 con thì phải chứng minh điều kiện của chị hoàn toàn hơn của chồng chị.

Về câu hỏi bố chồng chị có quyền giành quyền nuôi cháu hay không, theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

"Điều 104. Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

1. Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu."

Như vậy, ông bà cũng có quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, nên bố chồng chị cũng có quyền nuôi cháu nếu chị và chồng chị không đáp ứng được các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

5. Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn?

Thưa luật sư, tôi có một vấn đề muốn hỏi luật sư như sau: Vợ chồng tôi lấy nhau từ năm 1994, trong thời gian chung sống trên đất mẹ chồng ( sổ đỏ mang tên mẹ chồng), khi lấy nhau mẹ chồng có ngôi nhà cấp 4, chúng tôi đã sửa chữa lại để ở đến năm 2007 hai vợ chồng tôi vay mượn tiền xây 01 ngôi nhà khang trang 02 tầng diện tích 160 m2, trị giá thời điểm đó là 450 triệu đồng.
Khi đó mẹ chồng tôi đã chuyển vào Vũng Tàu sinh sống cùng con trai ( khu đất mẹ chồng tôi đã bán hết xung quanh, còn phần ngõ sâu vợ chồng tôi xây nhà. mẹ chồng tôi đã sống trong Vũng Tàu được 02 năm thì vợ chồng tôi mâu thuẫn và đã ly hôn năm 2014, khi ra Tòa hai vợ chồng nói sẽ thỏa thuận về tài sản không nhờ Tòa chia. Tôi có hai con gái 18 tuổi và 11 tuổi đều ở với tôi. Đến nay chồng tôi mới trả cho tôi được 160 triệu đồng, gia đình anh đang giao bán nhà khoảng 1,1 tỷ ( đất 320 m2 trong ngõ không có giá trị, bìa đỏ mang tên mẹ chống tôi). Hỏi nếu nhà bán thì chia như thế nào? Tôi mới nhận được 160 triệu đồng , con tôi chưa có tiền, hiện tôi phải ở nhờ nhà ngoại ?
Xin hỏi luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn!

Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về vấn đề chia tài sản vợ chồng sau khi ly hôn:

Căn cứ vào Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này"

Như vậy, sau khi ly hôn vợ chồng bạn có quyền thỏa thuận để phân chia tài sản, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên.

Đồng thời theo Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ chồng.

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Tại Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định tài sản chung như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Tiền trợ cấp cho con sau khi ly hôn?

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.

Như vậy, sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con đến khi thành niên (18 tuổi); nếu con thành niên mà không tự nuôi sống được bản thân do bị tàn tật hoặc không có năng lực hành vi dân sự thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải có trách nhiệm cấp dưỡng không thời hạn.
Tiền cấp dưỡng nuôi con được quy định tại mục 11 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP như sau: "Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì tùy vào từng trường hợp cụ thể, vào khả năng của mỗi bên mà quyết định mức cấp dưỡng nuôi con cho hợp lý...".

Khi quyết định mức tiền phải cấp dưỡng, tòa án sẽ căn cứ vào mức thu nhập của người cấp dưỡng, vì vậy mức cấp dưỡng thường không cao hơn mức thu nhập của người cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong trường hợp mức cấp dưỡng nuôi con tòa án phán quyết vẫn vượt quá khả năng của người cấp dưỡng thì người cấp dưỡng có quyền làm đơn đề nghị tòa án xem xét lại mức cấp dưỡng.

Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về mức cấp dưỡng như sau:

Điều 116. Mức cấp dưỡng

"1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?