1. Khái niệm đơn phương chám dứt hợp đồng lao động và quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

1.1. Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

HĐLĐ là hình thức biểu hiện của quan hệ lao động. Mọi sự kiện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một HĐLĐ đều kéo theo việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một quan hệ pháp luật lao động theo hợp đồng. Quan hệ lao động thường là loại quan hệ mang tính lâu dài nhưng không phải là quan hệ “vĩnh cửu” nên có thể được chấm dứt trong những trường hợp khác nhau bởi những căn cứ khác nhau. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một trong những căn cứ đó. So với các căn cứ khác làm chấm dứt quan hệ lao động (như: thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ, hết hạn HĐLĐ...) thì đơn phương chấm dứt HĐLĐ là vấn đề phức tạp hơn bởi đó là hành vi có chủ ý của một bên và không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể còn lại. Trong các vụ tranh chấp lao động xảy ra thì các vụ tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ chiếm tỷ lệ cao hơn.

“Đơn phương” được hiểu là “có tính chất của một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia”. Theo Báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án năm 1999 thì đơn phương chấm dứt HĐLĐ là việc “Một bên chủ thể quyết định chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia”.

Theo quan điểm của TS. Nguyễn Hữu Chí “Đơn phương chấm dứt HĐLD là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong HĐLĐ không được thực hiện đúng, đầy đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật lao động”.

Còn theo TS. Nguyễn Thị Hoa Tâm cho rằng “Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý của một bên chủ thể nhằm làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của hợp đồng trước thời hạn mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia” Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý của một chủ thể trong quan hệ HĐLĐ có thể dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực pháp lý của HĐLĐ trước thời hạn theo quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia.

1.2. Khái niệm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. 

Theo cách hiểu thông thường, thì “quyền” được hiểu là những điều được làm, được hưởng, được đòi hỏi. Theo Từ điển Tiếng Việt, “quyền” là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”.

Theo Từ điển Luật học “quyền” được hiểu là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”.

Trong quan hệ pháp luật quyền của chủ thể được hiểu là: “Quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật là khả năng xử sự của những người tham gia quan hệ được quy phạm pháp luật quy định trước và được bảo vệ bởi sự cưỡng chế của Nhà nước”. Cùng với quyền là nghĩa vụ của chủ thể, “Nghĩa vụ” được hiểu là những điều phải làm, phải tuân thủ. 

2. Đặc trưng của quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Thứ nhất, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ là một quyền năng pháp lý được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. NSDLĐ là một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật lao động, có những quyền năng được pháp luật ghi nhận. Một trong những quyền của NSDLĐ là quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ được quy định trong pháp luật quốc gia và quốc tế trở thành quyền năng pháp lý và được pháp luật bảo vệ. Khi NLĐ không thực hiện đúng nghĩa vụ hoặc có hành động cản trở việc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì NSDLĐ có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ được thực hiện sẽ dẫn đến việc HDLD chấm dứt hiệu lực pháp lý trước thời hạn hoặc trước khi công việc theo hợp đồng được hoàn tất. Khi tạo dựng một quan hệ lao động bằng việc giao kết HĐLĐ, thôn thường các bên sẽ cùng nhau cam kết làm việc trong một khoảng thời gian và tự nguyện gắn kết mình với công việc trong thời gian đó. Về nguyên tắc, các bên chủ thể trong

HĐLĐ tôn trọng và tự nguyện thực hiện đúng thời gian lao động đã cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên, NSDLĐ đưa ra các lý do hợp lý theo quy định của pháp luật và thông báo với NLĐ thì NSDLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Điều này đồng nghĩa với việc hiệu lực của HĐLĐ không còn; các bên không còn quyền và nghĩa vụ ràng buộc với nhau nữa ngay cả khi chưa hoàn thành công việc hoặc hết hạn HĐLĐ.

Thứ ba, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ là quyền có giới hạn theo quy định của pháp luật. Pháp luật lao động thừa nhận quyền chấm dứt HĐLĐ của cả NLĐ và NSDLĐ. Tuy nhiên, quyền năng của các chủ thể này là khác nhau và có giới hạn trong phạm vi quy định của pháp luật. Việc giới hạn các quyền năng này nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên, tránh lạm dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ một cách tùy tiện. Việc quy định giới hạn quyền đơn phương chấm dứt HDLD của các bên là khác nhau, điều này xuất phát từ vị thế của các chủ thể trong quan hệ lao động. Pháp luật lao động có xu hướng hạn chế nhiều hơn, quy định chặt chẽ hơn đối với quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ, Bởi trong quan hệ lao động NSDLĐ được xem là “kẻ mạnh”, có tiềm lực kinh tế, là chủ thể có quyền quản lý, giám sát NLĐ, có quyền quyết định cơ cấu việc làm trong doanh nghiệp. Còn NLĐ là chủ thể phụ thuộc, không có tiềm lực kinh tế, chịu sự quản lý giám sát của NSDLĐ. Mặc dù vậy, NSDLĐ cũng chỉ được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong phạm vi quy định của pháp luật. Có nghĩa là, khi chấm dứt HĐLĐ với NLĐ, NSDLĐ phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về căn cứ, trình tự, thủ tục chấm dứt HĐLĐ và giải quyết chế độ, quyền lợi cho NLĐ khi chấm dứt HĐLĐ.

Thứ tư, Quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ là hành vi pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ. Trong quan hệ pháp luật lao động, xét về địa vị pháp lý thì NLĐ và NSDLĐ là bình đẳng. Quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ và NLĐ đều được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Đối với NSDLĐ quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trong những nội dung có tính nguyên tắc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NSDLĐ – đây là một nguyên tắc cơ bản của BLLĐ, chủ đạo, xuyên suốt trong các chế định của BLLĐ. Một trong những quyền hiến định là quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” và “mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác...”. Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh,lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật. Thứ năm, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ được thực hiện đúng pháp luật sẽ giải phóng cho các bên khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong HĐLĐ.

Việc NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ làm cho NSDLĐ không còn bị ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ ràng buộc trong hợp đồng trước đó. Điều này khác hẳn với việc thay đổi hay tạm hoãn hợp đồng. Thay đổi HĐLĐ là việc các bên cùng thỏa thuận thêm hay giảm bớt quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, thay đổi một số nội dung trong HĐLĐ trước đó. Còn tạm hoãn hợp đồng là sự dừng tạm thời việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ký kết trong HĐLĐ trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật, và hết khoảng thời gian này thì các bên phải thực tiếp tục thực hiện HĐLĐ. Nhưng việc NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ đúng pháp luật sẽ làm cho quan hệ lao động được thiết lập theo HĐLĐ trước đó bị chấm dứt hoàn toàn.

Ngoài ra, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ còn là một trong những quyền năng quan trọng của NSDLĐ giúp cho NSDLĐ điều chỉnh cơ cấu lao động phù hợp với kế hoạch, chiến lược phát triển của đơn vị. Bên cạnh đó, quyền chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ còn là yếu tố tác động rất lớn đến tâm lý, suy nghĩ, sự phấn đấu của NLĐ. Sức ép của nguy cơ bị mất việc làm sẽ thúc đẩy NLĐ không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa sức lao động của mình. Khi đó các bên sẽ dễ dàng đạt được mục đích của mình, quan hệ lao động được phát triển một cách hài hòa, ổn định, văn minh và tiến bộ

Như vậy, từ đặc trưng về quyền của NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, có thể khái quát: quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ là khả năng xử sự của NSDLĐ nhằm chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong HĐLĐ trước thời hạn, không phụ thuộc vào ý chí của NLĐ và trên cơ sở các quy định của pháp luật.

3. Ý nghĩa sự ghi nhận quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động.

3.1. Ý nghĩa đối với người sử dụng lao động

Thứ nhất, đảm bảo quyền tự do kinh doanh, tự do tuyển dụng lao động của NSDLĐ. Một trong những quyền hiến định của NSDLĐ là quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Trong quan hệ lao động quyền tự do kinh doanh được thể hiện thông qua các quyền tuyển dụng, sử dụng, quản lý lao động trong doanh nghiệp. NSDLĐ đầu tư vốn, tư liệu sản xuất vào kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận nên họ có quyền tuyển chọn lao động, phân công lao động phù hợp với cơ cấu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đảm bảo cho NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi QHLĐ không còn phù hợp là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.

Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển của QHLĐ và nâng cao chất lượng lao động. Quan hệ hợp đồng lao động được hình thành dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên, mặc dù do yếu tố sở hữu mà vị thế của các bên chưa thật bình đẳng nhưng trên phương diện pháp lý, địa vị của các bên là như nhau. Tham gia vào quan hệ HĐLĐ, các bên có những mục đích riêng của mình, quyền và các lợi ích chính đáng đó cần phải được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi mà những mục tiêu hướng tới không đạt được, pháp luật cần phải thừa nhận quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của các bên. Sự thừa nhận này chính là biện pháp bảo vệ cụ thể nhất đối với quyền lợi của các bên. Nguyên tắc quan trọng nhất của Luật lao động là bảo vệ NLĐ, nhưng việc bảo vệ cần phải xem xét trong mối tương quan với quyền và lợi ích của NSDLĐ. Nếu pháp luật không cho phép NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ gây bất lợi cho NSDLĐ.

Một số NLĐ thường giảm động lực làm việc sau một thời gian công tác. Tư duy chậm đổi mới, ngại tiếp cận công nghệ hiện đại hoặc đơn giản là nhiệt huyết với công việc giảm, NLĐ sẽ ngày càng trì trệ, thiếu sáng tạo, năng lực kém. Những điều này sẽ không thể phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay, khi mà sự năng động, sáng tạo của NLĐ có một vai trò đặc biệt quan trọng. Việc cho phép NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ một mặt có thể loại bỏ NLĐ không còn phù hợp với yêu cầu sản xuất – kinh doanh trong doanh nghiệp, mặt khác còn là yếu tố thúc đẩy NLĐ phải tự nâng cao chất lượng hàng hóa sức lao động của mình lên để hoàn thành tốt công việc NSDLĐ giao phó nếu muốn tránh việc bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía NSDLĐ.

Thứ ba, quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ giúp NSDLĐ chủ động ứng phó với sự biến động của thị trường và thúc đẩy thị trường lao động phát triển. Nền kinh tế thị trường không phải lúc nào cũng phát triển, nó cũng có những giai đoạn khủng hoảng, trì trệ và với việc hội nhập sâu rộng của nền kinh tế thế giới hiện nay, không có một quốc gia nào lại không chịu sự ảnh hưởng nhất định của sự biến động kinh tế toàn cầu. Các cuộc khủng hoảng tài chính thường gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, trong đó hàng loạt các doanh nghiệp bị giải thể, phá sản. Kinh tế thị trường với sự chiếm lĩnh của quy luật cạnh tranh, thì chỉ cần chậm một bước, không chịu thay đổi, không có sự sáng tạo, không đổi mới thì doanh nghiệp sẽ bị đào thải khỏi cuộc chơi”. Do đó, doanh nghiệp cần phải luôn có sự thay đổi và sự thay đổi này trên tất cả phương diện: cơ cấu, tính chất, công nghệ, phương thức kinh doanh và lao động... Chính những tác động của nền kinh tế buộc pháp luật lao động phải có cơ chế đảm bảo sự tự chủ của doanh nghiệp bằng cách cho phép NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Thực hiện hiệu quả quyền này sẽ giúp NSDLĐ linh hoạt hơn trong việc sử dụng lao động sẵn có, từ đó phát triển lợi thế doanh nghiệp mình phù hợp với định hướng phát triển của doanh nghiệp

3.2. Ý nghĩa đối với nền kinh tế - xã hội

Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển trên cơ sở của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp mà ở đó trong một thời kỳ dài các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ lao động được điều chỉnh bằng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, do vậy, vấn đề việc làm, tiền lương, phúc lợi... đều được Nhà nước bao cấp toàn bộ. Từ khi đất nước chuyển mình sang thời kỳ đổi mới, lao động cũng không thể nằm bên ngoài các quan hệ thị trường.

Dù có coi sức lao động mang những phẩm chất đặc biệt như thế nào đi chăng nữa, thì nó vẫn là một thứ hàng hóa để mua bán theo giá trị của nó trên thị trường, xét trong mối tương quan với hàng hóa khác và ngay cả với chính nó. Việc NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động phát triển, thu hút đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế và tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ.