1. Công ty làm ăn thua lỗ có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không ?

Chào Luật sư, xin hỏi: Tôi làm việc ở công ty A đã gần 1 năm với loại hợp đồng thời hạn 2 năm. Vừa rồi bộ phân chúng tôi vừa tiếp nhận 1 người quản lý mới. Người này đề xuất đến sếp cắt giảm nguồn lao động trong đó có tôi. Ngày 1/9/2018 công ty có gửi đến cho tôi 1 thông báo về việc ngày 1/10/2018 sẽ là ngày làm việc cuối cùng của tôi.
Lý do được đưa ra trong thông báo đó là nguồn kinh tế của công ty hạn hẹp do làm ăn thua lỗ , cần phải cắt giảm bớt người lao động. Từ lý do đó họ không bồi thường cho tôi khi đã chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Trong khi cả công ty hơn 50 người mà họ chỉ cắt giảm tôi ? Và còn nói với tôi lý do kinh tế để chấm dứt theo quy định pháp luật tại Điều 44 BLLĐ là đúng chứ không phải họ đang làm bừa. Vậy cho tôi hỏi họ lấy lý do như vậy để chấm dứt với tôi liệu có đúng luật ?
Cảm ơn!

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Khỏan 2 Điều 44 Bộ luật lao động 2012 quy định:

Điều 44 . Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế....

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Đồng thời lý do kinh tế được quy định tại Khỏan 2 Điều 44 Bộ luật lao động 2012 được hướng dẫn bởi khỏan 2 Điều 13 Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau:

Điều 13. Thay đổi cơ cấu, công nghệ và lý do kinh tế
...
2. Lý do kinh tế tại Khoản 2 Điều 44 của Bộ luật Lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.

Từ quy định trên ta thấy rằng:

Nếu công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn với lý do kinh tế thì phải thuộc một trong bốn trường hợp: Khủng hỏang kinh tế; Suy thoái kinh tế; Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế; Thực hiện cam kết quốc tế.

Công ty gửi thông báo sẽ chấm dứt hợp đồng lao động với bạn vì lý do kinh tế ( nguồn kinh tế của công ty hạn hẹp do làm ăn thua lỗ , cần phải cắt giảm bớt người lao động) là chưa đúng theo quy định pháp luật. Do đó, bạn có thể trao đổi lại với phía bên công ty về vấn đề này. Nếu phía công ty vẫn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn với lý do trên thì công ty sẽ thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật. Lúc này, trách nhiệm của công ty đối với bạn sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động 2012 như sau:

Điều 42. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con sau ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và trả lại phí đào tạo ?

Chào các anh, chị công ty luật Minh Khuê ! Xin nhờ các anh, chị trong công ty tư vấn giúp tôi Tôi là giảng viên của 1 trường Đại học, kí hợp đồng xác đinh thời hạn 1 năm từ 1/9/2014 đến 31/8/ 2015. Tới ngày 22/9/2014 tôi được cử đi học 1 lớp ngắn hạn 9 tháng ( từ 22/9/2014 đến 22/6/2015), trong quá trình đị học tôi được hỗ trợ ( tiền học phí, lương cơ bản + lương tăng thêm + hỗ trợ nhà ở + tiền lễ ) và có làm 1 giấy cam kết phục vụ lâu.
Dài sau khi đào tạo xong ( không cụ thể là phục vụ gấp 2, gấp 3…. thời gian đào tạo gì cả). Sau khi học xong tôi tiếp tục về trường giảng dạy, tới 1/9/2015 tôi kí thêm 1 hợp đồng xác định thời hạn 1 năm nữa ( từ 1/9/2015 đến 31/8/2016). Tính đến bây giờ tôi đã về làm lại được gần 11 tháng sau khi học xong. Cho tôi hỏi nếu tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì làm thế nào cho hợp lý?
- Tôi có phải đền bù lại chi phí đào tạo?
- Nếu tôi chờ tới tháng 9/2016 nghỉ việc thì có vi phạm hợp dồng và phải đền bù chi phí đào tạo không?
- Nếu trường không chịu trả sổ bảo hiểm xã hội thì tôi nên làm gì để lây được sổ?
Cảm ơn các anh, chị đã tư vấn giúp tôi !

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

"Điều 37, Bộ luật lao động năm 2012 về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.".

Hơp đồng của bạn là hợp đồng xác định thời hạn nên chỉ được chấm dứt khi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, điều 37. Nêu lý do của bạn không thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 thi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Vậy theo quy định pháp luật nghĩa vụ của bạn:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Do vậy việc phải bồi thường chi phí đào tạo là hoàn toàn đúng pháp luật. Nếu như hợp đồng đào tạo của bạn không quy định thời gian cụ thể , chỉ nói là" làm việc lâu dài" thì khoảng thờ gian bạn đã làm cũng có thể gọi là lâu dài.Mặt khác, bạn lại được ký các hợp đồng sau hợp đồng đào tạo đó, vậy nên chỉ dựa vào hợp đồng có thời hạn mà bạn đã ký với trường để xem xét việc nghỉ việc của bạn theo quy định tại điều 37 của Bộ luật lao động 2012 trên đây thì bạn phải báo trước 30 ngáy cho người sử dụng lao động đối với việc nghỉ đúng thời hạn theo hợp đồng. Còn nếu bạn nghỉ trước thời hạn trong hợp đồng mà không có một trong những lý do hợp lý thì bạn sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật và có thể phải bồi thường chi phí đào tạo.

Không trả sổ bảo hiểm xã hội:

" Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Như vậy việc xử lý công ty không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội theo sổ cũ và làm mất thất lạc sổ cũ của bạn mà không trả lời cho bạn một lý do bằng văn bản là không tuân thủ quy định của pháp luật về lao động.

Về trách nhiệm của công ty đối với hành vi họ đã không trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bạn thì theo quy định tại khoản 2 điều 28 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định cụ thể như sau:

" Điều 28. Vi phạm các quy định khác về bảo hiểm xã hội.

2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Không trả chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau, thai sản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ của người lao động;

b) Không trả chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định chi trả của cơ quan bảo hiểm xã hội;

c) Làm mất mát, hư hỏng, sửa chữa, tẩy xóa sổ bảo hiểm xã hội."

Và trách nhiệm của công ty không trả lại sổ của bạn thì bạn công ty phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn do lỗi của công ty gây ra. Và vấn đề của bạn ở đây có xảy ra tranh chấp lao động cá nhân xảy ra thì bạn có thể lựa chọn 2 phương án giải quyết theo quy định tại điều 201 và điều 202 Luật lao động 2012 quy định cụ thể như sau:

" Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thời gian thử việc không được nhận phụ cấp có đúng luật ?

3. Chấm dứt hợp đồng lao động được hưởng những quyền lợi gì ?

Thưa Luật sư, tôi ký hợp đồng lao động vô thời hạn 09 năm. Vậy tôi chấm dứt hợp đồng tôi được hưởng những quyền lợi gì ?

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.".

Nếu bạn chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật thì quyền lợi của bạn sẽ tương ứng với nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Theo đó, quyền lợi của bạn sẽ là:

- Được thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn, cụ thể là: trợ cấp thôi việc nếu bạn đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 48, Bộ luật lao động năm 2012; được thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ...trong thời hạn 07 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

- Được trả lại sổ bảo hiểm và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Quyền lợi của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần phải báo trước ? Cách tính tiền lương thử việc

4. Chấm dứt hợp đồng lao động do bị bệnh ?

Chào luật sư. Em có vấn đề sau mong được luật sư tư vấn, em có làm cho công ty được 8 tháng rồi, có hợp đồng lao động . Đầu tháng 6 em bị bệnh nên trong công ty em thường nghỉ nhiều và điều trị, và trong thời gian em quay lại làm công ty em có xin đổi tổ nhưng không được chấp nhận nên khoảng giữa tháng 7 em có làm đơn xin nghỉ việc và nộp cho tổ trưởng và thông báo trưởng xưởng và đồng ý cho em 20 này nghỉ, nhưng em làm tới 17 tình trạng bênh em tái phát nên em đã nghĩ hôm 17 luôn . và tới ngày 22 em được người bạn thông báo là trên công ty thông báo em không được thưởng lương và chấm dứt công việc không được đền bù bất cứ gì ... cho em hỏi tại sao em không được hưởng lương mà bên công ty đã thông báo ? trường hợp này e nên làm gì ?
Cảm ơn luật sư.

Chấm dứt hợp đồng lao động do bị bệnh ?

Luật sư tư vấn Luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 37, Bộ luật lao động 2012 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động quy định:

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Do thông tin bạn cung cấp không đề cập đến việc bạn làm việc theo hợp đồng xác định thời hạn hay không xác định thời hạn. Tuy nhiên dựa vào số ngày nghỉ và căn cứ theo quy định nêu trên bạn không thuộc trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, do số ngày nghỉ của bạn chưa đáp ứng điều kiện quy định tại điểm g khoản 1 Điều 37 BLLĐ, do bạn chưa hoàn thành thời hạn khi được công ty đồng ý cho nghỉ việc kể cả trong trường hợp bạn bị bệnh tái phát thì bạn phải có nghĩ vụ thông báo với người sử dụng lao động chứ không được viện cớ để nghỉ luôn. Do đó, trường hợp này bạn đã thuộc vào trường hợp đon phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Theo Điều 43 BLLĐ quy định về nghĩa vụ của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật như sau:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Căn cứ theo quy định trên, bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho công ty nửa tháng lương theo như hợp đồng, và phải bồi thường cho công ty một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định chấm dứt hợp đồng lao động mới năm 2020