Động cơ phạm tội nói chung đều có ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Nhưng hướng ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng đó không giống nhau trong tất cả eác trường hợp. Do vậy, động cơ phạm tội có thể được quy định là dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ hoặc chỉ là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nói chung.

Trong một số ít trường hợp, động cơ phạm tội được quy định là dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản, cho phép phân biệt tội phạm với không phải là tội phạm.

Ví dụ: Động cơ cá nhân ở tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 Bộ luật hình sự năm 1999); động cơ vụ lợi ở tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 Bộ luật hình sự năm 1999). Trong những trường hợp này, tính chất của động cơ đã làm cho hành vi nguy hiểm cho xã hội trở nên có tính nguy hiểm đáng kể. Khác với trường hợp này, động cơ phạm tội cũng có thể được quy định là dấu hiệu định tội. Đó là trường hợp luật hình sự đã tách trường hợp phạm tội có tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ hoặc tăng nặng thành tội danh độc lập. Khi đó, động cơ phạm tội thực chất là dấu hiệu định khung hình phạt trở thành dấu hiệu định tội.

Ví dụ: Động cơ phòng vệ chính đáng ở tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Trong nhiều trường hợp khác, động cơ phạm tội được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt trong các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ như động cơ đê hèn được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội giết người (khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999). Tính chất đặc biệt của động cơ phạm tội trong trường hợp này làm tăng một cách đáng kể tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết người và dấu hiệu động cơ đê hèn cho phép phân biệt giữa giết người bình thường với trường hợp giết người có tình tiết tăng nặng này.

Bên cạnh đó, động cơ phạm tội còn có thể được quy định là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự như phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999), phạm tội vì động cơ đê hèn (Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999)... Tình tiết này được áp dụng cho trường hợp phạm tội trong đó động cơ phạm tội không được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt.

Động cơ phạm tội là gì ?

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý.

Trước hết, cần phân biệt giữa động cơ phạm tội và động cơ của xử sự. Hành vi của con người trong trạng thái tâm lí bình thường đều được thực hiện do sự thúc đẩy của một hoặc một số động cơ nhất định. Không những trong trường hợp phạm tội cố ý mà ngay cà ttong các trường hợp phạm tội vô ý, hành vi của người phạm tội cũng đều do động cơ nhất định thúc đẩy. Chỉ trong một sổ trường hợp phạm tội vô ý vì cẩu thả, hành vi mới không có động cơ rõ rệt. Tuy nhiên, ở các tội phạm vô ý chỉ có thể nói đến động cơ của xử sự mà không thể nói đến động cơ phạm tội vì người phạm tội với lỗi vô ý hoàn toàn không mong muốn thực hiện tội phạm, họ hoặc không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội hoặc tin hành vi của mình không trở thành hành vi phạm tội.

Động cơ phạm tội trong hầu hết các trường hợp đều không có ý nghĩa quyết định đến tính chất nguy hiểm của tội phạm, không thể làm thay đổi hẳn tính chất của hành vi phạm tội. Do vậy, động cơ phạm tội trong hầu hết trường hợp không phải là căn cứ để phân biệt giữa tội phạm với không phải là tội phạm, giữa tội phạm này với tội phạm khác. Trong những trường hợp như vậy, động cơ phạm tội không được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản. Tuy nhiên, khi động cơ phạm tội có tính đặc trưng cho tội phạm nhất định và là dấu hiệu phân biệt tội này với các tội khác hoặc với trường hợp không phải là tội phạm thì nó phải được mô tả trong cấu thành tội phạm (cơ bản) của tội này như động cơ phòng vệ, động cơ bắt giữ người phạm tội ở tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017); động cơ vụ lợi ở tội sử dụng ưái phép tài sản (Điều 177 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)...

Động cơ phạm tội còn có thể được phản ánh trong các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

>> Xem thêm:  Tội giết người với lỗi cố ý nhưng phạm tội chưa đạt thì xử lý thế nào ?

Ví dụ: Động cơ đê hèn là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng được phản ánh trong cấu thành tội phạm tăng nặng của tội giết người (điểm q khoản 1 Điều 123 BLHS).

Ngoài ra, động cơ phạm tội còn có thể được xem là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt. Trong những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 51 và 52 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nhiều tình tiết thuộc động cơ phạm tội.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bắt người phạm tội là gì ? Cho ví dụ về các trường hợp được phép bắt người ?