>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Vốn pháp định là gì? Vốn pháp định là mức vốn do pháp luật quy định bắt buộc, doanh nghiệp luôn phải có khi thành lập và trong suốt quá trình kinh doanh vốn sở hữu của doanh nghiệp không được thấp hơn vốn pháp định.

Luật DNNN, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật DNTN, Luật Công ty (1990) đều quy định mức vốn pháp định cho từng ngành nghề kinh doanh. Nếu kinh doanh nhiều nghề phải có mức vốn pháp định bằng tổng số vốn pháp định của từng ngành nghề.

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài

Luật sư tư vấn luật đầu tư - Ảnh minh họa

Vốn pháp định được đặt ra nhằm bảo vệ lợi ích của chủ nợ, nếu mức vốn pháp định cao thì lợi ích của chủ nợ được boả vệ tốt hơn nhưng lại cản trở đến việc đầu tư. Những người có trình độ quản lý tốt, có ý tưởng kinh doanh nhưng có ít vốn thì không thành lập được doanh nghiệp để thực hiện s tưởng đầu tư của họ. Nếu đặt ra vốn pháp định thấp (ví dụ 1 USD) thì mất ý nghĩa là công cụ bảo vệ lợi ích của chủ nợ.

Khi quyết định mức vốn pháp định thì phải có cơ chế giám sát mức vốn pháp định của cơ quan nhà nước; nếu chỉ gửi tiền vào ngân hàng thương mại để thành lập DN thì sau khi có doanh nghiệp họ sẽ rút tiền từ ngân hàng để trả nợ, như vậy số vốn pháp định đó đã không có trên thực thế và sự xác nhận của ngân hàng trở nên vô nghĩa hoặc thậm chí là sự tiếp tay cho những người có ý lừa đảo. Vấn đề đặt ra là cơ quan nào giám sát và xác nhận mức vốn pháp định để bảo vệ lợi ích cho chủ nợ như vai trò của người bảo lãnh. Mặt khác, căn cứ vào đâu để định ra mức vốn pháp định đối với từng ngành nghề? Hầu hết các chuyên gia đều cho  là không có căn cứ khoa học để xác định ra mức vốn pháp định đối với ngành nghề? Lấy gì để giải thích khi quy định kinh doanh thương mại phải có mức vốn pháp định là 50 triệu? Lấy giá trị loại hàng nào để quy định mức giá 50 triệu này? 50 triệu bảo vệ lợi ích cho mấy chủ nợ khi doanh nghiệp vay hàng trăm triệu để mua hàng? Như vậy chủ nợ sẽ mắc sai lầm và chịu thua thiệt nếu coi vốn pháp định là một căn cứ để cho vay.

Cái mà chủ nợ cần giám sát để bảo vệ lợi ích cho mình là vốn sở hữu của DN, là các giá trị thực cỉa DN tại mọi thời điểm. Giá trị thực của DN có thể biến động hàng ngày, có thể cao hơn, có thể thấp hơn mức vốn pháp định, khả năng thanh toán nợ không phụ thuộc vào mức vốn pháp định mà phụ thuộc vào vốn sở hữu của DN được phản ánh voà tình hình tài chính, bảng cân đối kế toán. Các chủ nợ thường không quan tâm đến mức vốn pháp định hoặc vốn điều lệ để xem xét khi cho vay. Cái mà học quan tâm là vốn sở hữu của DN. Muốn có được thông tin chính xác về vốn sở hữu của DN phải có hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro và hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo. Một chủ nợ phải có khả năng biết rõ con nợ của họ đã vay ở những ngân hàng nào, đã nợ những ai, đã cầm cố thế chấp những tài sản noà từ đó mới có quyết định cho vay. Vì vậy trên thực tế mức vốn pháp định do nhà nước đặt ra đã không đảm bảo được vai trò bảo vệ chủ nợ nhu nhà nước mong muốn mà ngược lại nếu quy định mức vón pháp định có thể gây nên một số tác hại sau đây:

>> Xem thêm:  Cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài

- Tăng thêm chi phí và thủ tục phiền hà cho nhà đầu tư, chi phí gửi tiền, công chứng;

- Tạo điều kiện cho người có ý định lừa đảo lợi dụng để thực hiện ý đồ lừa đảo;

- Gây nên những nhầm lẫn cho các nhà đầu tư, cho  khách hàng, cho chủ nợ ít kinh nghiệm, gây nên thiệt hại cho lợi ích của họ;

- Gây lãng phí khi tiền phải gửi và ngân hàng để xác định mức vốn pháp định mà không được mang ra kinh doanh.

Trên thực tế có một số vấn đề đặc biệt cần quy định vốn pháp định như là một số vốn bảo vệ lơi ích của khách hàng, như là một loại bảo hiểm trách nhiệm Như vậy, việc quản lý của Nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích của khách hàng, chủ nợ và DN.Để thực hiện nguyên tắc cân bằng lợi ích, Nhà nước có thể quy định bắt buộc kinh doanh một số nghề nào đó phải có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.

Tuy nhiên, một số nghề đặc biệt liên quan đến lợi ích cộng đồng pháp luật vẫn còn có quy định mức vốn tối thiểu mới được hoạt động. Đó là các ngành nghề tín dụng, bảo lãnh chứng khoán, sổ xố, bảo hiểm: Vì không thể để một doanh nghiệp tự do huy động vốn từ dân cư mà không có công cụ nào kiểm soát năng lực thanh toán, bài học đổ vỡ tín dụng năm 1990 đã cho thấy bài học đau sót khi không có công cụ quản lý tín dụng.Cũng tương tự như vây, khi kinh doanh sổ xố, ít nhất nhà nước phải quản lý được số vốn của DN bằng cơ chế tiền thưởng vì nếu không sẽ gây thiệt hại cho người mua sổ xố trúng thưởng mà không được trả thưởng. Khi một công ty kinh doanh nghề bảo lãnh chứng khoán thì phải có mức vốn nhất định để làm tài sản thế chấp cho hoạt động bảo lãnh của mình. Người mua bảo hiểm sẽ có nguy cơ chịu rủi ro khi DN kinh doanh bảo hiểm không có mức vốn để đảm bảo khả năng thanh toán khoản tiền bảo hiểm cho người mua bảo hiểm.

Như vậy, thực tế cuộc sống đòi hỏi Nhà nước có các quy định pháp luật hợp lý để đảm bảo cân bắng lợi ích của tất cả các chủ thể trong xã hội.

Xuất phát từ những lý lẽ trên, Luật DN 1999 đã không quy định mức vốn pháp định đối với DN, mà để việc quy định  mức vốn pháp định cho các luật chuyên ngành hoặc các pháp lệnh. Thực tế chứng minh quy định của Luật DN là hợp lý, đã tạo điều kiện cho những người nghèo có cơ hội thực hiện được ý tưởng đầu tư của mình, đã cảnh báo cho các chủ nợ để học tự tìm kiếm giải pháp đánh giá an toàn của hoản tín dụng và tránh được việc cơ quan nhà nước tuỳ ý ban hành mức vốn pháp định. Một ví dụ về quy định mức vốn pháp định bất hợp lý đã được điều chỉnh, đó là trường hợp quy định vốn pháp định đối với nghề kinh doanh vàng do không hợp lý , không thực hiện được nên đã bãi bỏ. Bởi vì khi quy định mức vốn pháp định thì: “Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về vốn pháp định, thủ trưởng cơ quan xác nhận vốn pháp định cũng liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác của số vốn được xác nhận khi thành lập DN” (Khoản 3 Điều 5. NĐ 03/2000/NĐ-CP). Quy định này đã đặt các cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc quy định mức vốn pháp định nên không thể tuỳ tiện quy định mức vốn pháp định.

Từ thực tế 5 năm kinh nghiệm thi hành Luật DN đã chứng tỏ quy định trên là hợp lý. Vậy thì vì lẽ gì mà Dự thảo Luật DN thống nhất lại quy định người nước ngoài thành lập DN ở Việt Nam phải có vốn thối thiểu là 100.000 USD. Không nên bắt người nước ngoài chấp hành thứ mà dân ta đã không thừa nhận! Quy định trên tạo sự không bình đẳng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam, vi phạm nguyên tắc của WTO. Vì vậy nên bỏ  những quy định mang tính phân biệt đối xử trong Dự thảo Luật DN thống nhất.

Luật gia Cao Bá Khoát

>> Xem thêm:  Cơ chế trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế

----------------------------------------------

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty