1. Được quyền đơn phương ly hôn khi con dưới 12 tháng tuổi không?

Chào luật sư, Nhờ luật sư tư vấn trường hợp này giúp tôi. Tôi và vợ tôi kết hôn vào năm 2010. Chúng tôi có 2 con chung, 5 tuổi và 10 tháng tuổi. Lúc đầu mới cưới về thì vợ chồng hòa thuận không xảy ra xích mích cãi cọ gì. Tuy nhiên, một vài năm sau giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết, vợ tôi thường cằn nhằn và không quan tam gì tới chồng.

Nay tôi muốn ly hôn để giải thoát cho nhau. Nhưng nhiều người nói tôi không được ly hôn, tôi muốn hỏi luật sư tư vấn giúp tôi. Trường hợp này tôi nộp đơn ly hôn được không? Mức án phí như thế nào?

Cám ơn luật sư.

Luật sư: Lê Minh Trường - Tư vấn ly hon và quyền nuôi con trên VTV3

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014quy định về Ly hôn theo yêu cầu của một bên.

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, theo quy định của pháp luật vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn . Tòa án sẽ cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vị bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cụ thể như sau:

- Vợ chồng có hành vi ngoại tình hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

- Có hành vi bạo lực gia đình, hành vi đánh bài đánh bạc...

- Vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng và thương xuyên cãi cọ xích mích mặc dù đã được bố mẹ, anh em, hàng xóa hòa giải nhiều lần nhưng không được.

Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Tuy nhiên, trường hợp của bạn có vợ đang nuôi con dưới 12 tháng( con 10 tháng tuổi) thì Tòa án sẽ không chấp nhận yêu cầu ly hôn căn cứ theo quy định Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn cách viết đơn đơn phương ly hôn và thủ tục ly hôn đơn phương ?

2. Thủ tục đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con ?

Mong các luật sư giúp tôi. Tôi và chồng kết hôn tháng 7 năm 2014. Sau khi khết hôn vợ chồng thường xuyên cãi vã do anh ta có tính hay chửi người. Anh ta chửi cả tôi và em gái tôi(do e gái ở chung nhà và chúng tôi ở nhà của tôi vì bố mẹ tôi mất sớm tôi nhận nuôi dưỡng e gái út).

Vì a ta thường xuyên đi làm xa nên khi toi mang thai bé đầu a ta đã cho rằng toi ngoại tình và dọa rằng nếu sinh ra k giống a ta thì a ta bóp chết. Vợ chồng k hoà thuận suốt thời gian toi mang thai. Sau khi toi sinh con giống a ta nên a ta không nói gì hết. Sau khi toi sinh dc 3 tháng thì a ta tiếp tục đi làm. Nhưng sẵn thói cờ bạc. Làm dc bao nhiêu chơi bài và lô đề hết gửi về cho mẹ con vài đồng lẻ tiêu. Hết tiền toi hỏi xin thì a ta kêu k có tiền tao gửi về thì c e mày chết đói à. Toi ráng nhịn vì con và ráng khuyên ngăn nhưng nay cảm thấy a ta vẫn chứng nào tật đấy lại thường xuyên chửi vợ. Đỉnh điểm là m5 tết năm ngoái a ta uống rượu say đam tính chửi vợ rồi đập phá đồ dùng trong nhà. Sang năm nay đi làm a ta cũng chơi bài hết. Toi muốn ly hon nhiều lần nhưng a ta k đồng ý dọa phá nhà chém chết con.

Nay toi thật sự quyết tam ly hon để giải thoát cho mình. Nhờ luật sư hướng dẫn thủ tục đơn phương ly hôn và cách phan chia tài sản. Do toi và a ta về ở nhà bố mẹ đẻ toi. Khi về nhà ở a ta k mang gì ngoài 1 xe máy. Nhưng mỗi lần toi nói ly hon thì a ta lại đòi chia tài sản và nói cong a ta làm từ trước tới giờ. Trong khi mọi tài sản hiện có toi đều đứng tên vay ngân hàng để làm. Nếu a ta cũng giành quyền nuôi con thì toi phải làm thế nào. Bởi toi k muốn con được dạy đỗ bởi người cha không tốt và cũng vì con trai toi đã có sẵn tính hung hăng thích ném đồ toi k muốn nó trở nén giống bố.

- Nguyễn Thị Thảo

3. Đơn phương ly hôn thì quyền nuôi con sẽ thuộc về ai mới nhất ?

Chào luật sư, Tôi có vấn đề thắc mắc muốn được luật sư công ty Luật Minh Khuê tư vấn. Tôi và chồng tôi kết hôn với nhau vào năm 2012. Chúng tôi có 1 con chung 2 tuổi. Nay chồng tôi ngoại tình nên muốn ly hôn tôi. Về vấn đề tài sản chung thì tôi không nhắc đến, vấn đề con chung thì chồng tôi cương quyết tự nuôi, còn đưa cháu về để ông bà nội canh chừng, không cho tôi được gặp cháu.
Vậy, trường hợp này chồng tôi làm đơn phương ly hôn thì quyền nuôi con thuộc về ai ?
Cám ơn luật sư đã tư vấn giúp tôi.

Đơn phương ly hôn thì quyền nuôi con sẽ thuộc về ai mới nhất?

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, trường hợp chồng bạn yêu cầu tòa án giải quyết đơn phương ly hôn thì tòa án sẽ giải quyết ly hôn nếu có một trong các căn cứ về vi phạm nghĩa vụ hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ quy định tại Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Theo như thông tin bạn cung cấp, thì con chung của bạn 5 tháng tuổi ( con dưới 36 tháng tuổi), vậy căn cứ quy định tại khoản 3 điều 81 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quyền nuôi con được giao cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom,chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc giữa bạn và chồng bạn có một thỏa thuận khác.

Thủ tục Đơn phương ly hôn bao gồm các giấy tờ sau đây:

+ Đơn xin ly hôn (theo mẫu/mẫu của Tòa án);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân (bản sao chứng thực);

+ Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);

+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm…(bản sao chứng thực).

Sau khi chuẩn bị đầy đủ giấy tờ trên, bạn nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được xem xét giải quyết.

>> Tham khảo ngay: Vợ không đến Tòa giải quyết đơn phương ly hôn thì có giải quyết được không?

4. Đơn phương ly hôn mà vợ cố tình không đến thì làm thế nào?

Chào luật sư. Em có vấn đề muốn được luật sư tư vấn. Em và vợ kết hôn với nhau vào năm 2010. Trong quá trình sống có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết, vợ em có hành vi vi phạm nghĩa vụ hôn nhân, hành vi ngoại tình. Em thỏa thuận không được, nên viết đơn khởi kiện ra tòa. Tuy nhiên, tòa án có giấy triệu tập mà vợ em không đến. Vậy không biết tòa án có giải quyết vấn đề ly hôn của em không?
Cám ơn luật sư tư vấn.

Đơn phương ly hôn mà vợ cố tình không đến thì làm thế nào?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về đương sự trong vụ án dân sự.

1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.

3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

5. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự.

Dựa trên quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và nghĩa vu liên quan. Bạn tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, vợ là bị đơn trong vụ việc dân sự- vụ ly hôn. Do đó, sau khi có đơn khởi kiện của bạn, tòa án sẽ triệu tập vợ bạn để lấy lời khai, hòa giải...vợ bạn phải có mặt theo đúng thời gian trong giấy triệu tập hợp lệ của tòa án.

Ngoài ra, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn dân sự.

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì tòa án có giấy triệu tập hợp lệ mà vợ bạn cố tình không đến, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của tòa án. Như vậy, tòa án sẽ tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, vợ bạn không đến, không có đơn xin xét xử vắng mặt thì tòa án sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa. Tòa án sẽ tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ 2, vợ bạn vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn xét xử vắng mặt, không có người đại diện tham gia, không có đơn phản tố thì tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt vợ bạn. Trường hợp bạn có các căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc vợ mình có hành vi vi phạm nghĩa vụ hôn nhân gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án sẽ cho giải quyết ly hôn.

>> Tham khảo ngay: Thuận tình và đơn phương ly hôn, phương án nào giải quyết nhanh hơn ?

5. Con chung dưới 12 tháng tuổi thì chồng được quyền đơn phương ly hôn không ?

Chào luật sư, Tôi có vấn đề thắc mắc muốn được luật sư công ty Luật Minh Khuê tư vấn. Tôi và chồng kết hôn từ năm 2000. Chúng tôi có 2 con chung, cháu lớn được 6 tuổi, cháu nhỏ hơn 10 tháng tuổi. Tôi thấy gần đây chồng tôi có nhiều biểu hiện lạ, không chăm sóc con cái, thường xuyên vắng mặt tại nhà vào ban đêm.

Tôi nghi ngờ chồng ngoại tình nhưng không có chứng cứ chứng minh, vì tôi bận chăm sóc con nhỏ. Nay chồng tôi đưa đơn khởi kiện ra tòa, đòi ly hôn với tôi. Tôi muốn hỏi liệu con tôi còn nhỏ dại như vậy thì chồng tôi có quyền được ly hôn không, trường hợp ly hôn thì vấn đề con chung sẽ giải quyết thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, thì bạn đan nuôi con nhỏ 10 tháng tuổi và chồng bạn gửi đơn ra tòa yêu cầu giải quyết đơn phương. Vậy trường hợp này chồng bạn không có quyền yêu cầu ly hôn, căn cứ theo khoản 3 Điều 51 luật hôn nhân và gia đình năm 2014: chồng không có quyền yêu cầu tòa án giải quyết khi vợ đang có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trường hợp này tòa án sẽ không giải quyết cho chồng bạn được ly hôn.

Tuy nhiên, pháp luật chỉ hạn chế ly hôn của chồng khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Trường hợp 2 vợ chồng bạn thuận tình ly hôn yêu cầu tòa án giải quyết thì tòa án vẫn thụ lý. Khi đó, quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con cái sẽ được giải quyết như sau:

-Đối với cháu 12 tháng tuổi: Căn cứ khoản 3 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ vào quy định nêu trên thì theo nguyên tắc quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi được giao trực tiếp cho mẹ. Nhưng nếu vợ chồng có thỏa thuận khác về việc nuôi con thì người có quyền trực tiếp nuôi con sẽ theo thỏa thuận của vợ chồng.

-Thứ hai, đối với con 6 tuổi:

Căn cứ khoản 2 Điều 81 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Như vậy, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con cái. Nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, khi đó người không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Tòa án sẽ quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ trên các yếu tố sau đây:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập.... mà mỗi bên dành cho con. Các yếu tố đó có thể dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ...;

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con, điều kiện cho con vui chơi, giải trí...

>> Tham khảo ngay: Trình tự thủ tục đơn phương ly hôn theo quy định mới nhất hiện nay ?

6. Quyền đơn phương ly hôn của vợ chồng ?

Chào luật sư. Tôi có vấn đề bức xúc muốn được luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi và vợ tôi kết hôn vào năm 2000. Chúng tôi có 2 đứa con chung, 1 đứa 6 tuổi, 1 đứa 15 tháng tuổi. Do nhiều bức xúc mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể giải quyết được, tôi cũng không có hành vi đánh đập bạo lực gì vợ tôi. Nhưng sinh đứa thứ 2 được 14 tháng thì vợ tôi bỏ nhà ra đi. Tôi có gọi điện mà cô cũng không chịu về, cương quyết đòi ly hôn đơn phương với tôi, còn bắt tôi phải giao con lại cho cô. Tôi thấy quá vô lý và bức xúc.
Chúng tôi có tài sản chung trong thời kì hôn nhân là khoản nợ chung 200 triệu đồng vay mượn để xây nhà, ngoài ra bố mẹ tôi còn đứng tên vay cho vợ chồng tôi 100 triệu đồng. Tôi muốn hỏi vợ tôi bỏ đi như vậy còn quyền nuôi con hay không. Số nợ đó khi ly hôn chúng tôi sẽ phân chia thế nào ?
Cám ơn luật sư nhiều!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất. Về vấn đề quyền nuôi con chung sau khi ly hôn:

Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, trường hợp này vợ bạn có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn nếu có căn cứ về việc có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Trường hợp vợ bạn làm đơn yêu cầu đơn phương ly hôn, hai bên không thỏa thuận được với nhau về vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng con, thì Tòa án sẽ căn cứ vào độ tuổi của con, căn cứ vào khả năng tài chính và việc chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Mặc dù vợ bạn có hành vi bỏ đi trong thời gian nuôi con nhỏ, nhưng việc này còn xem xét nguyên nhân vì sao cô ấy bỏ đi, không thể vì nguyên nhân này mà tước bỏ quyền nuôi con của vợ bạn.

Theo quy định của pháp luật, thì trường hợp con dưới 36 tháng tuổi, thì quyền nuôi con ưu tiên thuộc về mẹ,trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha, mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Trường hợp này, con bạn được 15 tháng tuổi nên quyền ưu tiên sẽ thuộc về người mẹ, trừ trường hợp bạn có căn cứ chứng minh vợ bạn không đủ các điều kiện nuôi dưỡng con về mặt vật chất và tinh thần. Còn đối với con 6 tuổi, thì quyền nuôi con là ngang nhau dựa vào điều kiện kinh tế, khả năng chăm sóc của mỗi người.

Thứ hai, Về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn:

Căn cứ quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, số tiền 300.000.000 đồng được vay mượn với mục đích xây nhà, đáp ứng nhu cầu của gia đình nên xác định là tài sản chugn của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Với khoản nợ chung này, thì vợ chồng nên tự thỏa thuận với nhau. Trường hợp không thỏa thuận đươc với nhau thì yêu cầu tòa án giải quyết dựa trên các nguyên tắc của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình - Công ty luật Minh Khuê