1. Hình phạt gây thương tích do phòng vệ chính đáng ?

Thưa Luật Minh Khuê, tôi có trường hợp như sau mong được Luật Minh Khuê tư vấn. Do mâu thuẫn cá nhân mà chồng tôi đã bị anh A đánh đập hành hung. Khi nhìn thấy chồng bị đánh, tôi đã lấy cây gậy gỗ gần nhất đánh vào người anh A. Anh A sau đó đi giám định thương tích và tỷ lệ thương tích là 3%. Nay anh A có làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự gửi lên cơ quan công an.
Vậy mong Luật Minh Khuê tư vấn cho tôi liệu hành vi đánh trả của tôi trong trường hợp này có vi phạm pháp luật không ?
Cảm ơn!

Gây thương tích cho người khác do phòng vệ chính đáng có vi phạm pháp luật không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Về hành vi của bạn, trong trường hợp này cần xác định có phải là hành vi phòng vệ chính đáng hay không. Điều 22 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

"Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này."

Như vậy trong trường hợp này, cần xác định cụ thể một số yếu tố để kết luận hành vi của bạn có phải là phòng vệ chính đáng hay không. Các yếu tố để xác định bao gồm:

- Thứ nhất, lợi ích của người có hành vi chống trả hoặc người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức đang bị xâm phạm. Trong trường hợp này, chồng bạn đang bị xâm phạm về tính mạng, sức khỏe nên yếu tố này có thể coi là thỏa mãn.

- Thứ hai, hành vi chống trả là cần thiết. Để xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không, cần phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại;… Trong trường hợp của bạn, cần xem xét đến phương tiên, vũ khí mà anh A sử dụng để xâm hại sức khỏe của chồng bạn, mức độ thương tích mà anh A gây ra cho chồng bạn,...

- Thứ ba, người bị chống trả là người đang có hành vi xâm hại lợi ích của cá nhân, Nhà nước, cơ quan, tổ chức.

Do chưa đủ dữ liệu để đưa ra kết luận về trường hợp của bạn, chúng tôi xin được chia ra các trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất: Nếu hành vi của bạn thỏa mãn được những yếu tố nêu trên và được kết luận là hành vi phòng vệ chính đáng thì bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh A.

Trường hợp thứ hai: Hành vi của bạn là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Khoản 2 Điều 22 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, khi đó người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 136 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

3. Phạm tội dẫn đến chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm."

Như vậy với hành vi gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tỷ lệ tổn thương cơ thể phải từ 31% trở lên mới đủ đề cấu thành tội phạm. Trong trường hợp của bạn, với hành vi gây thương tích cho người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3% thì cũng chưa đủ để cấu thành tội phạm. Khi đó, bạn sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự cho anh A nếu anh A có yêu cầu.

Trường hợp thứ ba: Hành vi của bạn có khả năng cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

..."

Với hành vi cố ý gây thương tích, nếu tỷ lệ tổn thương là 3% (dưới 11%) thì bạn chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có một trong các yếu tố quy định ở trên. Nếu không có yếu tố nào, việc gây thương tích cho người khác với tỷ lệ tổn thương là 3% có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e Khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng...

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;

b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;

c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau;

d) Gây rối trật tự tại phiên tòa, nơi thi hành án hoặc có hành vi khác gây trở ngại cho hoạt động xét xử, thi hành án;

đ) Gây rối trật tự tại nơi tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế;

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;..."

Bên cạnh đó, tội phạm quy định tại Điều 134 và 136 Bộ Luật hình sự năm 2015 thuộc nhóm những tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Điều này được quy định tại Điều 155 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:

"Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Theo đó, cơ quan điều tra chỉ được quyền khởi tố vụ án hình sự khi người bị hại có yêu cầu khởi tố. Trong trường hợp này, bị hại là anh A và anh A đã gửi đơn yêu cầu. Tuy nhiên, nếu bạn có thể thỏa thuận với anh A và thuyết phục anh A rút yêu cầu thì cơ quan điều tra sẽ phải đình chỉ vụ án. Sau khi anh A rút yêu cầu một cách tự nguyện theo ý chí của mình, thì anh A sẽ không có quyền yêu cầu lại để khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội.

Ngoài ra, anh A cũng có những hành vi xâm phạm đến sức khỏe của chồng bạn, do đó chồng bạn cũng nên đi xác định tỷ lệ tổn thương do hành vi của anh A và tố cáo trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chồng bạn.

>> Xem thêm:  Trẻ em phạm tội dưới 16 tuổi thì phải xử lý như thế nào ? Xử lý hành vi xâm phạm quyền trẻ em ?

2. Tư vấn đòi bồi thường theo bản án pháp luật ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Anh D bị phạt 10 năm tù về tội giết người và bồi thường cho gia đình tôi 50 triệu đồng, cấp dưỡng cho các cháu chưa đến 18 tuổi. Bản án có hiệu lực từ 31/3/2018 nhưng đến nay anh D không chịu bồi thường.
Vậy gia đình tôi phải làm gì để yêu cầu bồi thường? Và anh D có được hưởng đặc xá vào 2/9/2019 này không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: H.L

Tư vấn đòi bồi thường theo bản án pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Phải làm gì để được bồi thường ?

Phần bồi thường 50 triệu và cấp dưỡng cho 2 cháu đến đủ 18 tuổi nằm trong bản án là trách nhiệm dân sự của bị cáo. Theo tinh thần của luật Thi hành án dân sự thì trong khoảng thời gian 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực, người được thi hành án có quyền làm đơn đề nghị cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Như vậy, nếu anh D không chịu bồi thường, bạn có thể làm đơn đến cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án.

Anh D có được hưởng đặc xá vào 2/9/2019 này không ?

Bởi vì vấn đề hưởng khoan hồng hay không phụ thuộc vào các yếu tố nên bạn có thể tham khảo quy định về các điều kiện để được đề nghị đặc xá theo Hướng dẫn số: 91/HD-HĐTVĐX về xét đặc xá năm 2015Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 như sau:

II. ĐIỀU KIỆN ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ ĐẶC XÁ

1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn (gọi là phạm nhân) được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành án phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Cụ thể như sau:
... ... ...
- Phạm nhân bị phạt tù trên bảy năm đến mười năm phải có ít nhất 6 tháng cuối năm 2013, cả năm 2014 và 6 tháng đầu năm 2015 được xếp loại cải tạo từ khá trở lên, thời gian tiếp theo được đánh giá cải tạo tốt;
... ... ...
- Thời gian tiếp theo được tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2015 đến ngày họp của Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

(Theo Quyết định sốt 1269/2002/QĐ-BCA(V26) ngày 17 tháng 12 năm 2002 (hiện nay đã hết hiệu lực) và Thông tư số 40/2011/TT-BCA ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù, định kỳ 3 tháng, 6 tháng và một năm, gồm 4 loại: Tốt, khá, trung bình, kém; thời gian xếp loại quý I vào ngày 25 tháng 02, quý II và 6 tháng đầu năm vào ngày 25 tháng 5, quý III vào ngày 25 tháng 8, quý IV, 6 tháng cuối năm và cả năm vào ngày 25 tháng 11 hàng năm. Đối với phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam do Bộ Quốc phòng quản lý thì theo Quyết định số 251/2003/QĐ-BQP ngày 07 tháng 10 năm 2003 (nay đã hết hiệu lực) và Thông tư số 181/2013/TT-BQP ngày 08 tháng 10 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành tiêu chuẩn thi đua và xếp loại thi đua chấp hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý);

- Những phạm nhân thuộc Khoản 2 Mục II này, so với quy định ở trên còn thiếu 01 quý đầu tiên xếp loại cải tạo khá hoặc tốt (đối với phạm nhân bị phạt tù từ ba năm trở xuống), thiếu 01 kỳ xếp loại 6 tháng cải tạo khá hoặc tốt đầu tiên (đối với phạm nhân bị phạt tù từ trên ba năm đến bảy năm), thiếu 02 kỳ xếp loại 6 tháng cải tạo khá hoặc tốt đầu tiên (đối với phạm nhân bị phạt tù trên bảy năm) mà trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam hoặc ở trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ thì vẫn được xem xét, đề nghị đặc xá nếu có đủ các điều kiện khác.
b) Đã chấp hành án phạt tù ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Thời gian đã chấp hành án phạt tù là thời gian người đó bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù trong trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, không kể thời gian được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ và thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Thời gian được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù (nếu có) được tính để trừ vào phần thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại.
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị kết án 15 (mười lăm) năm tù, bị bắt ngày 31 tháng 8 năm 2007, tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2015, Nguyễn Văn A đã thực sự chấp hành được 08 (tám) năm, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 03 lần, tổng cộng là 02 (hai) năm, thì thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại là 05 (năm) năm.
c) Phạm nhân phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác, trừ những phạm nhân không bị kết án tù về các tội phạm về tham nhũng đã 70 tuổi trở lên hoặc từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên ốm đau hoặc người đang mắc bệnh hiểm nghèo mà bản thân người đó và gia đình không còn khả năng thực hiện.
Phạm nhân là người chưa thành niên phạm tội mà trong bản án, quyết định của Tòa án giao trách nhiệm bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự khác cho bố mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thì phải có đầy đủ tài liệu chứng minh bố, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp đã thực hiện xong bồi thường thiệt hại hoặc nghĩa vụ dân sự mới được xem xét, đề nghị đặc xá.
Những trường hợp sau đây được coi là đã thực hiện xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, tiền truy thu, án phí, nghĩa vụ dân sự khác hoặc chưa thực hiện xong nhưng vẫn được xem xét, đề nghị đặc xá, nếu có đủ các điều kiện khác:
- Phạm nhân được Tòa án quyết định miễn thực hiện hình phạt bổ sung là phạt tiền, tiền truy thu, án phí;
- Phạm nhân được người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại có văn bản đồng ý xóa nợ, không yêu cầu thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự nữa và được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc đó xác nhận;
- Phạm nhân phải chấp hành nghĩa vụ dân sự về cấp dưỡng cho bên bị hại theo định kỳ hàng tháng mà đến khi Hội đồng xét đề nghị đặc xá của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện họp, thân nhân của phạm nhân đã chấp hành đầy đủ, đúng hạn các khoản nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường theo định kỳ mà bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên, được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý vụ việc đó xác nhận;
- Phạm nhân được Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 hoặc Luật Thi hành án dân sự.
2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là một phần tư thời gian và người bị kết án phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đã chấp hành ít nhất là mười hai năm, nếu có đủ các điều kiện khác quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Mục II này, thì được xét, đề nghị đặc xá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành án phạt tù: Là phạm nhân đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm; cứu được tính mạng người khác hoặc tài sản lớn (có giá trị từ ba mươi triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xác nhận.
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sỹ nhân dân, Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; được tặng thưởng một trong các loại Huân chương hoặc được tặng thưởng Huy chương kháng chiến.
c) Có một trong những thân nhân sau đây là liệt sỹ: Bố đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con đẻ, anh, chị, em ruột hoặc bố nuôi, mẹ nuôi, con nuôi hợp pháp.
d) Là con đẻ, con nuôi hợp pháp của “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; con của gia đình được Chủ tịch nước, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng bằng “Gia đình có công với nước”.
đ) Khi phạm tội là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi).
e) Là người từ 70 tuổi trở lên.
g) Là người đang bị mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng.
h) Người từ 60 tuổi trở lên mà thường xuyên ốm đau là người đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện liên tục trong một thời gian dài (từ ba tháng trở lên) hoặc không liên tục nhưng nhiều lần phải nằm điều trị tại bệnh viện (mỗi lần không dưới một tháng), không lao động, không tự phục vụ bản thân được và không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của bệnh viện cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên.
i) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình: Là trường hợp có gia đình đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, không còn tài sản gì đáng kể hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con ốm đau nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà phạm nhân đó là lao động duy nhất trong gia đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình cư trú xác nhận là đúng.
k) Nữ phạm nhân đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đang ở với mẹ trong trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ.
3. Các trường hợp không đề nghị đặc xá
Người có đủ điều kiện quy định tại Mục II này không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác.
c) Trước đó đã được đặc xá.
d) Có từ hai tiền án trở lên: Số tiền án được thể hiện trong bản án.
đ) Phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia.
e) Phạm nhân thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Mục II này có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm hoặc thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Mục II này có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên tám năm.
g) Phạm các tội về ma túy bị phạt tù đến bảy năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù từ trên bảy năm đến mười lăm năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên hai năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên mười lăm năm, tù chung thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm. Đối với trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội về ma túy, thì thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại để xét đặc xá thực hiện theo quy định tại điểm này.
h) Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma túy là các tài liệu có trong hồ sơ phạm nhân như: Bản án; Cáo trạng; các tài liệu của Cơ quan điều tra; kết quả xét nghiệm của cơ quan y tế cấp huyện trở lên; Bản tự khai của phạm nhân có ghi rõ thời gian, số lần đã sử dụng chất ma túy... hoặc phiếu khám sức khỏe của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của phạm nhân thừa nhận là đã sử dụng trái phép các chất ma túy.
i) Đang chấp hành án phạt tù do phạm hai tội: Giết người và cướp tài sản; giết người và cướp giật tài sản; giết người và trộm cắp tài sản; giết người và hiếp dâm; giết người và hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em; cướp giật tài sản và hiếp dâm; cướp giật tài sản và hiếp dâm trẻ em;
trộm cắp tài sản và cướp tài sản; trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản; cướp tài sản và cướp giật tài sản; trộm cắp tài sản và hiếp dâm; trộm cắp tài sản và hiếp dâm trẻ em.
k) Đang chấp hành án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt;
l) Phạm một trong các tội sau đây:
- Giết người có tổ chức (quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự);
- Hiếp dâm có tính chất loạn luân (quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 111 Bộ luật Hình sự);
- Hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 112 Bộ luật Hình sự);
- Cướp tài sản có sử dụng vũ khí (các loại vũ khí được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); cướp tài sản có tổ chức (quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự); cướp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại Điểm g Khoản 2, Điểm c Khoản 3, Điểm c Khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự);

- Cướp giật tài sản có tổ chức (quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự); cướp giật tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại Điểm h Khoản 2, Điểm c Khoản 3, Điểm c Khoản 4 Điều 136 Bộ luật Hình sự);

- Trộm cắp tài sản có tổ chức (quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự); trộm cắp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại Điểm g Khoản 2, Điểm b Khoản 3, Điểm b Khoản 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự);

m) Cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên):
Căn cứ để xác định phạm tội nhiều lần là số lần phạm tội được thể hiện trong Bản án. Riêng trường hợp trộm cắp tài sản nhiều lần, cần lưu ý: Ngoài nêu số lần trộm cắp, trong Bản án còn phải nêu rõ có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần hoặc phần Quyết định của bản án có áp dụng Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, thì mới coi là trộm cắp tài sản nhiều lần.

n) Có một tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục hoặc trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: về ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cố ý gây thương tích có tổ chức (quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự) hoặc có tính chất côn đồ (quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự) hoặc phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người (quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự).

Hy vọng thông tin mà chúng tôi cung cấp có thể giúp ích cho bạn!

>> Xem thêm:  Mức phạt cho tội vì tự vệ vô tình đâm chết người ? Vô ý làm chết người có phải đền mạng ?

3. Vô tình làm người khác bị thương có phải bồi thường không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Cháu tôi chay xe máy kéo xe lôi chở rau, đang đi thi bi người khác đi lấn phân đường tông vào. người kia bị đau vây cháu tôi có phải bồi thường tiền thuốc chữa tri không ?

Luật sư tư vấn:

Người kia đi lấn đường tức là người kia là người đi sai luật vậy rủi ro người đó phải tự chịu, cháu bạn không phải bồi thường.

Thưa luật sư, xin hỏi: Nhà chị tôi ở quê có một cây sấu ở góc vườn, chúng tôi có cãi nhau về nó và nhờ thôn giải quyết. thôn chưa có kết luận gì thì hàng xóm tự tiện sang và leo lên chặt cành sấu,hai bên có cãi nhau và hai vợ chồng hàng xóm dùng gạch ném chị tôi bị thương ở mặt phải khâu 4 mũi đồng thời thâm tím tay,đùi,sau đó hàng xóm có gọi chị tôi bảo sang nhà giải quyết, chị có sang xong họ lại túm tóc chị tôi và ẩu đả lẫn nhau dẫn đến chị tôi có cắn rách một mẩu dái tai của vợ hàng xóm ,hiện nay hàng xóm có đơn gửi công an huyện vậy tôi xin hỏi luật sư là chị tôi có nên cũng làm đơn đè nghị và gủi công an hay không và theo luật pháp thì bên nào sẽ bị xử lý và hình thức ra sao?

=>Chị bạn cũng nên làm đơn trình báo gửi lên cơ quan công an vì chị bạn cũng bị thương. Theo luật pháp cả 2 bên đều cố ý gây thương tích cho người kia nên cả 2 bên phải bồi thường cho nhau và chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Chị hàng xóm dùng gạch làm chị bạn phải khâu 4 mũi ở mặt nên phải bồi thường cho chị bạn. Chị bạn lại cắn rách làm chị hàng xóm bị thương nên phải bồi thường.

Về mức xử phạt cụ thể phải căn cứ vào tỷ lệ thương tật để kết luận. Nhưng người có tham gia đánh nhau khác có thể bi xử ohạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau.

Thưa luật sư, xin hỏi: Một người sinh năm 1991 do vô ý cắm điện trong lúc làm việc làm 1 người bị thương và 1 người chết. Vậy mức xử phạt theo pháp luật là như thế nào ạ?

Bộ luật hình sự năm 2017 quy định:

" Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

1. Người nào vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Em gái tôi và người chồng trước đã chia tay nhau khoảng 5 năm không còn qua lại nữa ai cũng đã có vợ có chồng, nhưng gần nhưng gần đây anh ta đã dùng đá ném tôi gây chấn thương vào cơ thể tôi, tôi có trình báo tại địa phương, nhưng đã 2 tháng không thấy mời lên giải quyết, tôi muốn hỏi thời gian thụ lý đơn tại địa theo qui định là bao lâu và trường hợp trên anh ta có bị xử phạt không?

=> Trường hợp bạn trình báo lên cơ quan công an hay Tòa án thì thời hạn điều tra có thể kéo dài theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự:

"Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.''

Và khi chuẩn bị xét xử thì thời hạn được quy định:

"Điều 227. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày."

Nên việc đã 2 tháng trôi qua mà công an chưa giải quyết thì phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vụ án và xét xem cơ quan điều tra có gia hạn không để xác định đã quá thười hạn hay chưa.

Nếu đúng như bạn trình bày thì anh ta sẽ bị xử phạt và bồi thường vì xâm phạm đến sức khỏe bạn.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hai vợ chồng tôi kéo xe lôi đi bán trái cây.Tới đèn xanh,đỏ tôi dừng lại chờ tới tín hiệu đèn xanh tôi bắt đầu chạy....được 500m có xe khách đi ngược chiều vượt mặt đi qua phần đường bên tôi. Tôi thấy vậy nên lách xe vao bên trông lề...vậy mà xe khách vẫn lao tới và tông vợ chồng tôi..hiện giờ tôi bị gãy 2 xương chậu và xương đòn. Vợ tôi bị chấn thương phần đùi. như vây thì bên xe khách phải bồi thường cho tôi như thế nào?

=> Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng."

Thì người điều khiển xe khách đã phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Mức bồi thường như Điều 590 Bộ luật dân sự chúng tôi đã nêu trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi có cãi nhau và chồng tôi dùng dao cắt cổ tôi vết thương cũng khá sâu và tôi đã chụp ảnh lưu lại nhưng do tôi làm mất thẻ bảo hiểm nên tôi không vào bệnh viện và đã báo công an nếu tôi làm đơn kiện thì có được quy là tội giết người không?

Việc bạn chỉ chụp ảnh lại mà không đi khám có thể làm sai lêch kết quả giám định. Trường hợp này chồng bạn có thể bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc tôi giết người nếu bạn có đủ chứng cứ chứng minh việc anh ấy hành hung bạn và có mục đích giết bạn.

>> Xem thêm:  Mang dao phòng thân có được pháp luật cho phép không ? Dùng dao đâm người khác phạm tội gì ?

4. Bị đâm bất ngờ gây tỷ lệ thương tật trên 31% bị phạt thế nào ?

Thưa luật sư! luật sư cho em hỏi chút ạ. Bạn em đang ngồi trong nhà thì bị 1 đối tượng lẻn vào đâm trộm 3 nhát vào lưng, hung khí là 1 chiếc kéo bằng sắt. Trong camera an ninh thể hiện rất rõ hành động đâm chí mạng hòng lấy đi mạng sống của bạn em. Và đi cấp cứu bác sỹ kết luận bệnh án là bị máu đọng tràn dịch phổi, phải mổ dẫn lưu và điều trị tại bv đồng thời giám định thương tật là trên 32%. Vậy luật sư cho em kẻ gây án có thể bị quy vào tội cố ý giết người không ạ, và khung hình phạt như thế nào ạ ?
Rất mong luật sư trả lời giúp ạ.

Bị đâm bất ngờ gây tỷ lệ thương tật trên 31% bị phạt thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo điều 134 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trlên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này."

Như vậy, hành vi dùng dao đâm bạn của bạn do người có trạng thái tâm lý hoàn toàn bình thường sẽ bị xử phạt từ 02 năm đến 06 năm tù (tùy theo tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ mới có thể xác định được số năm tù mà người thực hiện hành vi phải chịu)

>> Bài viết tham khảo thêm: Mức hình phạt của tội cố ý gây thương tích?

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

5. Đâm người trọng thương có phải ngồi tù không ?

Em trai tôi đâm người trọng thương, đã đền bù. Giờ bên kia kiện lại thì em tôi có bị phạt tù không? (Em tôi đâm người kia lòi ruột, lỗi do người kia thách thức em tôi) ?
Xin cảm ơn Luật sư!
Người gửi: khonghai
Trả lời:

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

"

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy him hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trlên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người tr lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm."

Bên cạnh đó, Điều 135 Bộ Luật Hình sự quy định như sau:

" Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người."

Lý do em bạn thực hiện hành vi này, theo bạn trình bày là sự thách thức từ phía nạn nhân. Tuy nhiên, việc thách thức như vậy không phải là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Vì vậy, trong trường hợp này không áp dụng quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Như vậy, Để xác định hình phạt cụ thể thì còn phải tùy thuộc vào tỷ lệ thương tật của nạn nhân. Việc gia đình bạn đã chủ động bồi thường thiệt hại cho nạn nhân là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là cơ sở để Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho em bạn.

Trên đây là những tư vấn cảu chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Giám định tỷ lệ thương tật khi bị tai nạn giao thông ? Bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn