1. Gia đình tìm mọi cách cưỡng ép ly hôn có phạm luật ?

Thưa Luật sư, cháu và người yêu đã đăng ký kết hôn nhưng gia đình vợ cháu đã ngăn cản và còn áp dụng các biện pháp mạnh để bắt chúng cháu ly hôn trái ý muốn. Vậy bây giờ cháu nên làm gì ?
Cảm ơn!

Gia đình tìm mọi biện pháp để ngăn cản kết hôn và cưỡng ép ly hôn thì nên làm như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình:

"Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

1. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

3. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

4. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình."

Cụ thể tại điểm b, e khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định thì hành vi: "Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn" bị pháp luật nghiêm cấm. Như vậy, không ai có quyền cản trở, cưỡng ép bạn ly hôn ngay cả khi đó là bố mẹ bạn.

Mặt khác, tại Điều 55 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

- Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

- Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì việc bố mẹ vợ đã có nhưng hành vi nhằm cản trở việc kết hôn của 2 bạn và bây giờ dùng biện pháp mạnh để ép hai bạn ly hôn trái ý muốn đây là những hành vi mà Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cấm. Do đó, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp sớm để kịp thời ngăn chặn những hành vi này bởi hôn kết hôn, ly hôn là hành vi thực hiện được thể hiện trên nguyên tắc tự nguyện của 2 bạn chứ không bất kỳ một cá nhân nào khác có quyền ép buộc cản trợ việc kết hôn và ép buộc 2 bạn ly hôn trái ý muốn. Trên đây, là ý kiến tư vấn của công ty Luật Minh Khuê chúng tôi với vấn đề của bạn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Hỏi cha mẹ có quyền ép buộc con cái kết hôn theo ý mình không ?

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

2. Ly hôn ngày hòa giải chồng không đến có được ly hôn không ?

Thưa luật sư. Em có một thắc mắc mong luật sư tư vấn như sau: hiện tại em đã nộp đơn ly hôn đơn phương ra tòa nhưng khi tòa tiến hành hòa giải, tòa triệu tập chồng em tới thì chồng em không tới. Vậy cho em hỏi trong trường hợp này em có được ly hôn không.
- B.T.K.D

Luật sư trả lời:

Khi bạn xin ly hôn đơn phương và được Tòa án thông báo hồ sơ hợp lệ. Tòa sẽ triệu tập vợ chồng bạn đến phiên hòa giải. Nếu chồng bạn với tư cách là bị đơn, không tham gia phiên hòa giải thì Tòa án vẫn mở phiên hòa giải như đã thông báo. Việc bị đơn không tham gia phiên hòa giải rơi vào trường hợp quy định tại khoản 1 – Điều 207 – Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được, đó là: “Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”. Vì vậy, Tòa án sẽ có biên bản không hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

“1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật:

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì Tòa án sẽ triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nếu triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai rồi mà bị đơn không có mặt mà không có lý do chính đáng thì Tòa án vẫn sẽ xét xử vắng mặt họ.

Tại điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa:

“Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.”

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp chồng bạn vắng mặt khi tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì tòa sẽ hoãn phiên xét xử. Nếu tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa sẽ tuyên bố xét xử vắng mặt.

Theo quy định của điều luật trên, chúng ra có các trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, chồng bạn vắng mặt. Lúc này, bị đơn không cần lý do, Tòa án vẫn phải hoãn phiên tòa.

Thời hạn tối đa hoãn phiên tòa là 30 ngày

- Trường hợp 2: Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Có 2 giả thiết như sau:

+ Một là, nếu chồng bạn vắng mặt có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên tòa lần 2. Thời hạn hoãn phiên tòa không quá 30 ngày.

+ Hai là, nếu chồng bạn vắng mặt không có lý do chính đáng, không có đơn xin xét xử vắng mặt hay không có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp vợ/ chồng bạn có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền.

Như vậy, việc chồng bạn vắng mặt, không tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn tiến hành các trình tự, thủ tục giải quyết vụ án đơn phương ly hôn của bạn mà không phụ thuộc vào việc có hay không có sự có mặt của bị đơn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Tư vấn việc khai sinh cho con khi bố mẹ ly hôn ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong được luật sư giải đáp: tôi lấy chồng đã được 4 năm nhưng không đăng kí kết hôn. Hai chúng tôi đã có con gái 2 tuổi nhưng đến giờ chúng tôi chưa làm giấy khai sinh cho cháu. Tôi đã nhắc cho chồng tôi việc đi khai sinh cho con gái nhưng anh ấy không đi. Hiện tại hai vợ chồng chúng tôi muốn chia tay, do tài sản chung của hai vợ chồng không có gì đáng kể.
Vì thế, tôi quyết định bế con về nhà ngoại ở mà không cần mang theo gì cả. Vấn đề ở đây là bây giờ tôi có thể tự mình đi làm giấy khai sinh cho con mà không cần tên bố đứa bé được không? việc làm giấy khai sinh muộn cho con tôi có bị xử phạt không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: H.K

Tư vấn việc khai sinh cho con khi bố mẹ ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc làm giấy khai sinh cho con mà không có tên bố đứa bé.

Theo Điều 13, Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch: Thẩm quyền đăng ký khai sinh

"1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.

2. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.

3. Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó."

Theo Điều 14, Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch: Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh

"Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em."

Theo Điều 15, Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch: Thủ tục đăng ký khai sinh

"1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn

2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn có thể đến Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn nơi cư trú của bạn để đăng kí khai sinh cho con bạn, Giấy khai sinh có thể không có tên bố theo Khoản 3, Điều 15, Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch

Thứ hai, quy định về xử phạt đối với trường hợp đăng kí khai sinh muộn cho con.

Theo Điều 27, Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã: Hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh

"1. Cảnh cáo đối với người có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em mà không thực hiện việc đăng ký đúng thời hạn quy định.

2. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi sửa chữa, tẩy xóa, làm sai lệch nội dung giấy tờ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Làm chứng sai sự thật về việc sinh;

b) Cố ý khai không đúng sự thật về nội dung khai sinh;

c) Sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi làm giả giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi quy định tại Điểm c Khoản 3, Khoản 4 Điều này."

Do trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em theo Điều 14, Văn bản hợp nhất số 8013/VBHN-BTP năm 2013 quy định về đăng kí quản lý hộ tịch. Trong trường hợp của bạn, con gái bạn đã 2 tuổi rồi nhưng chưa được làm Giấy khai sinh. Vì vậy, việc bạn đăng kí khai sinh muộn cho con bạn sẽ bị xử phạt cảnh cáo theo Điều 27, Nghị định 110/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Cách thức làm đơn ly hôn như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi và chồng đăng ký kết hôn vào ngày 19/01/2015, trong quá trình sống chung cũng không phát sinh mâu thuẫn gì nhiều, nhưng mỗi lần giận nhau chúng tôi lại chọn cách im lặng, có nhiều lần nóng giận tôi đều nói đến việc ly hôn (nói cho thỏa mãn cơn tức).

Đến cuối tháng 11/2015, chồng tôi nghiêm túc yêu cầu ly hôn tôi với lí do tôi là người vợ không tốt, không lo được công việc gia đình, hay ghen, vân vân và vân vân...Nói chung tất tần tật gì về tính cách và con người của tôi đều là lí do. Nhưng sau tất cả, tôi phát hiện chồng tôi đã có người phụ nữ khác. Tuy chồng tôi có lúc thừa nhận, sau lại chối bỏ, người phụ nữ kia cũng vậy nhưng tôi khẳng định là có. Tôi không có đủ bằng chứng vì cũng chẳng muốn thu thập, theo dõi. Tôi muốn được tư vấn về làm đơn ly hôn, nhiều người khuyên tôi không nên chủ động viết đơn, vì bây giờ người cần ly hôn nhất là chồng tôi, hơn nữa, việc một người chủ động viết đơn ly hôn cũng sẽ ít nhiều có ảnh hưởng về quyền lợi trong việc ly hôn. Chúng tôi chưa có con chung ?

Nay tôi viết thư này kính mong quý luật sư giúp tôi tư vấn nên làm thế nào để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho mình. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ly hôn ngày hòa giải chồng không đến có được ly hôn không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, ly hôn sẽ có hai trường hợp: Đơn phương ly hôn và Thuận tình ly hôn.

Hai bạn chưa có con, và bạn cũng không cung cấp thông tin là hai bạn có tài sản chung hay không. Nếu hai bạn thỏa thuận được với nhau về vấn đề ly hôn, chia tài sản chung thì hai bạn làm đơn yêu cầu công nhân thuận tình ly hôn có chữ ký của cả hai vợ chồng. Nếu hai bạn không cùng ký vào đơn ly hôn được hoặc không tự thỏa thuận được về vấn đề tài sản chung thì bạn hoặc chồng bạn đều có quyền tự mình làm đơn khởi kiện để đơn phương ly hôn với người còn lại. Bạn nên liên hệ với chồng của chị về vấn đề này.

Việc bạn hoặc chồng chị viết đơn ly hôn không ảnh hưởng đến quyền lợi của mỗi người do đó nếu chị xét thấy tình cảm không còn, hai vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa thì chị có quyền làm đơn ly hôn.

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

“1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”.Theo đó mỗi bên đều có quyền đơn phương nộp đơn ra tòa án để yêu câu giải quyết ly hôn. Tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định các trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Để được tòa án thụ lý đơn ly hôn đơn phương thì cần phải có căn cứ ly hôn, căn cứ ly hôn trong trường hợp này bao gồm:

+ Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được;

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn;

+ Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Như vậy , trong trường hợp này, nếu như một trong hai bên vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì người chồng hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án cho mình ly hôn đơn phương

Tình trạng hôn nhân trầm trọng ở đây được hiểu là :

Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình

Ở đây chồng bạn có hành vi ngoại tình, mà bạn đã phát hiện hay bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo và có khuyên giải nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình thì được xem là trường hợp tính trạng hôn nhân trầm trọng và theo điều 56 luật hôn nhân và gia đình thì tòa án có căn cứ để xét đơn đơn phương ly hôn của chồng bạn trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Ở đây vì chồng bạn có ngoại tình với người phụ nữ khác, tòa án căn cứ vào trường hợp đây có phải tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được để làm căn cứ xét đơn ly hôn. Tòa án sẽ căn cứ vào trường hợp đây có phải tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được để làm căn cứ xét đơn ly hôn và tòa án có thẩm quyền để giải quyết.

Về vấn đề đảm bảo quyền lợi sau khi ly hôn:

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Nếu sau khi bạn và chồng bạn kết hôn, bạn và chồng bạn cùng xây dựng nhà cửa thì ngôi nhà xây sau khi hai bạn kết hôn sẽ là tài sản chung. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng ngôi nhà này chỉ ghi tên bạn hoặc chồng bạn thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 nêu trên.

Đối với tài sản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được hướng dẫn xác định tại Điều 10 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình như sau:

“Điều 10. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng

1. Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình.

2. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.”

Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Trong trường hợp hai bạn không thỏa thuận được việc chia tài sản chung này thì tài sản chung của 2 bạn có thể bị chia đôi nhưng tính các yếu tố theo quy định trên. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân gia đình hướng dẫn một số quy định áp dụng tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia như sau:

- “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

- “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

- “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

- “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?

5. Gây khó khăn về việc chuyển khẩu sau ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho tôi về quyền nuôi con sau ly hôn. Tôi năm nay 22 tuổi, tôi kết hôn và có 1 bé gái 11 tháng tuổi. Do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn nên tôi đã ly hôn và quyền nuôi con thuộc về tôi. Dù tôi nuôi con nhưng anh ta vẫn giữ giấy khai sinh của con tôi mà không giao lại cho tôi, tôi muốn tách khẩu của tôi và con về nhà ngoại mà anh ta và gia đình anh ta cũng gây khó khăn không cho tôi mượn sổ hộ khẩu để tôi chuyển khẩu về. Trước tết chồng tôi có tới bảo đón con về chơi, ăn tết xong anh ta sẽ trả con lại cho tôi, tôi không đồng ý vì con tôi còn nhỏ và vẫn bú mẹ nhưng anh ta vẫn cố tình giành mang con bé đi.
Giờ đã hơn 1 tháng mà anh ta không mang con trả lại cho tôi, tôi có nhắn tin gọi điện thì anh ta bảo tôi phải sang cầu xin nhà anh ta thì anh ta mới cho tôi đón con về. Giờ tôi cần làm gì để tình trạng này không tiếp diễn thêm 1 lần nào nữa, và phải làm sao để có được đầy đủ giấy tờ của con tôi ?
Rất mong được sự tư vấn của luật sư.

Gây khó khăn về việc chuyển khẩu sau ly hôn?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 8 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA:

Người đứng tên chủ hộ có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp cố tình gây khó khăn, không cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo thông tin bạn cung cấp, chồng bạn có hành vi gây khó khăn, cản trở việc chuyển khẩu của bạn và con bạn về nhà ngoại là đang vi phạm quy định trên nên tùy theo tính chất mức độ mà sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, sau khi bản án giải quyết ly hôn có hiệu lực thì Tòa án và Cơ quan thi hành án sẽ đảm bảo quyền nuôi con của bạn. Việc chồng bạn giữ con như vậy là trái pháp luật, và đang không thực hiện đúng bản án của Tòa án. Do vậy, bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án chấm dứt hành vi trái pháp luật của chồng bạn và buộc chồng bạn giao lại con cho mình.

Còn về vấn đề chuyển khẩu, nếu chồng bạn vẫn tiếp tục gây khó khăn, không để bạn và con chuyển khẩu về nhà ông bà ngoại thì bạn có thể khiếu nại tới Cơ quan Công an về quản lý cư trú nơi chồng bạn thường trú để được giải quyết. Điều 39 Luật cư trú quy định như sau:

1. Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về cư trú được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

2. Người nào vi phạm quy định của pháp luật về cư trú thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Theo đó hành vi chồng bạn cản trở quyền tự do cư trú của bạn và con bạn, tùy theo tính chất, mức độ mà sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm thể nào để mở trung tâm cai nghiện ma túy ? Đăng hình ảnh sử dụng ma túy có phạm luật ?