Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

 

Giải đáp vướng mắc về luật ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung phân tích:

>> Xem thêm:  Giám hộ là gì ? Các điều kiện giám hộ ?

1. Thực tế chế định giám hộ có những vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện:

Thực tiễn thực hiện việc giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự.
Điều 58 Bộ luật Dân sự đã xác định rõ hai đối tượng được giám hộ là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu và người mất năng lực hành vi dân sự.
Theo chúng tôi, việc pháp luật đặc vấn đề giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự là cần thiết, bởi vì đây là yếu tố pháp lý then chốt để các cá nhân, tổ chức trong xã hội cùng có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ những người có điều kiện khó khăn khi bị mất năng lực hành vi dân sự. Nhưng để xác định người như thế nào được coi là mất năng lực hành vi dân sự thì chúng ta phải quay lại Điều 22 của Bộ luật Dân sự. Điều luật này qui định: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.
Nội dung qui định trên cho thấy, một người bị bệnh tâm thần hay mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mới chỉ là điều kiện cần, chứ chưa phải là điều kiện đủ để xác định người đó đã mất năng lực hành vi dân sự, mà pháp luật chỉ thừa nhận việc giám hộ cho những người này khi có kết luận của Toà án là họ đã mất năng lực hành vi dân sự. Theo chúng tôi, pháp luật qui định là rõ ràng, nhưng so với thực tiễn và đặc biệt là đối với hoàn cảnh kinh tế và điều kiện xã hội của những gia đình có người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến không nhận thức được hành vi thì những qui định về thủ tục trên gây cho họ rất nhiều khó khăn, nhiều người không có khả năng về chi phí cũng như về thời gian thực hiện các bước theo luật định nên phần nào chế định giám hộ cho người bị mất năng lực hành vi dân sự không có giá trị nhiều trong thực tiễn áp dụng.
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc Toà án căn cứ vào kết quả giám định của cơ quan có thẩm quyền để tuyên bố hoặc không tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự là việc làm mang tính hình thức, nặng về sự công nhận giá trị của kết luận giám định, chưa thể hiện được tính pháp lý cần thiết của Toà án. Do vậy, theo chúng tôi pháp luật qui định thủ tục tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của Toà án là không cần thiết, gây trở ngại, phiền hà cho nhân dân. Do vậy, chúng tôi mạnh dạng đề nghị sửa lại Điều 22 của BLDS như sau: “Khi có kết luận của tổ chức giám định xác định một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì họ đương nhiên được xem là mất năng lực hành vi dân sự”. Nếu làm được điều này thì chế định giám hộ đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện dễ dàng, thuận tiện và có lợi hơn cho nhân dân.

Khó khăn khi cử người giám hộ theo Điều 63 Bộ luật Dân sự.

Điều 63 BLDS qui định: “Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ”.
Điều luật xác định chủ thể chịu trách nhiệm cử người giám hộ là Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ. Theo Luật cư trú thì nơi cư trú có thể là nơi có hộ khẩu thường trú, nơi người đó thường xuyên sinh sống, nơi tạm trú...
Điều vướng mắc thứ nhất phát sinh là một người có hộ khẩu ở nơi khác nhưng cư trú ở nơi khác thì thẩm quyền cử người giám hộ thuộc chính quyền địa phương nào?
Điều vướng mắc thứ hai phát sinh là nơi người cần được cử người giám hộ sinh sống lại không phải là nơi cư trú của anh, chị, em....bà con họ hàng họ. Do vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã không biết cơ sở nào để cử người giám hộ, hay cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết vụ việc liên quan cũng không xác định được ai là người giám hộ trong trường hợp này.
Do vậy, để khắc phục được khuyết điểm trên, theo chúng tôi, Điều 63 của BLDS cần được sửa lại như sau: “Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có hoặc không xác định được nơi đang cư trú của người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được giám hộ đang cư trú có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ”.
"Điều 58. Giám hộ  

1. Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).

2. Người được giám hộ bao gồm:

>> Xem thêm:  Có được mua tài sản của người mà mình đang giám hộ ?

a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;

b) Người mất năng lực hành vi dân sự. 

3. Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều này phải có người giám hộ.

4. Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 61 hoặc khoản 3 Điều 62 của Bộ luật này."

2. Dự thảo bộ luật dân sự có những sửa đổi đáng chú ý gì về chế định giám hộ

Chế định giám hộ được quy định từ Điều 58 đến Điều 78 của Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) (sau đây gọi là Dự thảo BLDS). So với BLDS năm 2005, Dự thảo BLDS đã sửa đổi 16 điều, bổ sung 5 điều, nhằm bảo đảm tốt nhất lợi ích của người cần được giám hộ, tôn trọng quyền tự quyết, tự thỏa thuận trong việc cử người giám hộ, bảo đảm tính minh bạch, công khai trong áp dụng chế độ giám hộ:

- Về người được giám hộ: Dự thảo BLDS bổ sung nội dung quy định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng có quyền được giám hộ. Đó là những người do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhưng chưa mất năng lực hành vi dân sự, như người bị khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, người bị bệnh nặng, người cao tuổi dẫn đến khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Đây là quy định mới so với BLDS hiện hành, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người có hạn chế, khiếm khuyết về thể chất, tinh thần. Việc giám hộ cho những người này được thực hiện theo yêu cầu của chính họ, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.

- Về người giám hộ: Dự thảo BLDS quy định cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện thì được làm người giám hộ; bổ sung quy định về điều kiện để pháp nhân có thể làm người giám hộ, gồm: có năng lực pháp luật dân sự, có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Người giám hộ được xác định theo sự thỏa thuận của người thân thích của người cần được giám hộ, trường hợp không có thỏa thuận thì người giám hộ được cử trong số những người thân thích hoặc cá nhân, pháp nhân khác và ưu tiên cho người sống cùng hoặc đang trực tiếp chăm sóc người cần được giám hộ nếu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người được giám hộ. Đặc biệt, Dự thảo BLDS quy định người thành niên được lựa chọn người giám hộ cho mình trước khi lâm vào tình trạng cần được giám hộ, việc chọn giám hộ phải bằng văn bản có công chứng và người được chọn đồng ý làm người giám hộ. Quy định này thể hiện sự tôn trọng ý chí của người giám hộ và người được giám hộ, nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích của người được giám hộ, vì người được chọn luôn là người có điều kiện quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc được bản thân người được giám hộ tin tưởng, tín nhiệm.

Về quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Dự thảo BLDS quy định người giám hộ thực hiện và tạo điều kiện để người khác quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người được giám hộ; yêu cầu người thân thích của người được giám hộ thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo Luật hôn nhân và gia đình; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện, bảo vệ các quyền, lợi ích của người được giám hộ, yêu cầu các chủ thể khác tôn trọng, tạo điều kiện để mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người giám hộ... Dự thảo đã bổ sung quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của người thân thích không phải là người giám hộ phải thực hiện nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ người được giám hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Người giám hộ phải tạo điều kiện để người thân thích của người cần được giám hộ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người được giám hộ. Điều này góp phần giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thương yêu nhau của những người trong gia đình.

Nhằm đảm bảo việc giám hộ được thực hiện công khai, minh bạch, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ, dự thảo BLDS quy định: Việc giám hộ phải được giám sát theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người giám sát phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có điều kiện thực tế để thực hiện được quyền, nghĩa vụ về giám sát, không có quyền, lợi ích liên quan đến người giám hộ và người được giám hộ. Việc giám hộ, giám sát phải được đăng ký theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

>> Xem thêm:  Việc cử người giám sát giám hộ như thế nào ?

UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có thẩm quyền cử người giám hộ, người giám sát. Tranh chấp về việc cử người giám hộ, người giám sát, tranh chấp về việc giám hộ, giám sát việc giám hộ do Tòa án giải quyết.

3. Theo đó đây là thủ tục bắt buộc theo bộ luật tố tụng dân sự, vì vậy với bất kỳ đối tượng nào khi tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đều tiến hành theo quy trình, thục tục theo quy định của pháp luật quy định. Như vậy dựa vào các trình tự thủ tục đó sẽ xác định rõ được căn cứ để tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự với 1 người một cách chính xác nhất, theo thì thủ tục này không hề rườm rà.

Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định (Điều 22 Bộ luật Dân sự).

Thủ tục tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự tiến hành theo trình tự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Khi gửi đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, người gửi đơn phải gửi kèm theo đơn là kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (Điều 319 Bộ luật Tố tụng dân sự).

- Sau khi Tòa án ra Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì người được tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự sẽ được giám hộ. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên được quy định tại Điều 62 Bộ luật Dân sự:

+ Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

+ Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

+ Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định nêu trên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ (Điều 63 Bộ luật Dân sự). Thủ tục cử người giám hộ thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 64 Bộ luật Dân sự:

+ Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc đòi tiền thuốc men,chi phí ăn uống và tiền phụ cấp?

+ Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.

Căn cứ vào các quy định nêu trên: Để cử người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự thì cần phải có Quyết định của Tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự; và để yêu cầu Tòa án ra Quyết định này thì đương nhiên phải có chứng cứ để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, như: kết luận của cơ quan chuyên môn hoặc các chứng cứ khác để chứng minh.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email  hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký việc giám hộ giữa công dân Việt Nam với nhau