Tuy nhiên do điều kiện phòng ít người huyện không bố trí được nơi làm việc nên có nhập chung về công ty TNHH A. Do công ty A ký kết hợp đồng. Sau khi hết thời gian thử việc tôi được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đến cuối năm 2014 Công ty A chuyển sang công ty Cổ phần theo Quy định của Chính phủ. Lúc này Công ty cổ phần mới ( 83% cổ phần nhà nước ) vẫn tiếp tục ký hợp đồng lao động mới không xác định thời hạn với tôi. Nay Giám đốc Công ty tự ý thay đổi hợp đồng với tôi từ không xác định thời hạn thành có thời hạn 1 năm ( 01/01/2016 đến 31/12/2016) mà không thỏa thuận với tôi cũng như Ban chấp hành công đoàn cơ sở ( tôi không biết gì về việc này). Và đưa cho tôi 1 bản HĐLĐ có xác định tthời hạn 1 năm và bắt tôi ký vào. Sau đó tôi có hỏi trưởng phòng tổ chức hành chính, thì trưởng phòng tổ chức hành chính nói không biêt có gì hỏi thẳng Giám đốc. Khi tôi hỏi giám đốc thì nhận được câu trả lời là 1 vài trường hợp phải ký lại hợp đồng lao động ( nhưng qua tìm hiểu của tôi thì chỉ có những người lao động mới vào làm viêc mới ký lại, còn tất cả các nhân viên có thời hạn HĐLĐ không xác định thời hạn như tôi không thay đổi, 3 nhân sự của phòng tôi do ngân sách sở công thương trả lương thì chỉ có 1 mình tôi thay đổi như vậy ) Như vậy cho tôi hỏi:

1. Doanh nghiệp và Giám đốc làm như vậy là đúng hay sai? Nếu sai thì bị xử lý như thế nào?

2. Tôi có quyền không ký kết hợp đồng lao động mới hay không?

3. Nếu cần phải kiện ra tòa thì thủ tục cần những gì ?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi:   1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

>> Xem thêm:  Điều kiện được đặc cách xét vào biên chế của viên chức?

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Nghị định số 119/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo

Nội dung tư vấn:

Điều 35 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 35. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động

1. Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc về những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

2. Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.

3. Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động thì tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết."

Như vậy, nếu bạn đang ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người sử dụng lao động, hiện tại nếu muốn thay đổi thời hạn hợp đồng thì hai bên phải thỏa thuận được với nhau về vấn đề này. Nếu bạn không đồng ý thì người sử dụng lao động không có quyền tự ý thay đổi hợp đồng của bạn. Việc công ty tự ý thay đổi thời hạn trong hợp đồng lao động của bạn mà không có thỏa thuận với bạn là đã vi phạm quy định của pháp luật. Do công ty đã sai phạm nên bạn có quyền không ký kết hợp đồng lao động mới và trường hợp này bạn có quyền gửi đơn khiếu nại đến Phòng lao động thương binh xã hội hoặc gửi đơn đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi đơn vị đặt trụ sở chính của công ty yêu cầu giải quyết. 

Điều 5 Nghị định 119/2014/NĐ-CP quy định về trình tự khiếu nại như sau:

"Điều 5. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao động; tổ chức, cá nhân dạy nghề; tổ chức, cá nhân đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 15, Khoản 1 Điều 16, Khoản 1 Điều 17 Nghị định này.

2. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 19 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại thực hiện khiếu nại lần hai theo quy định sau đây:

a) Đối với khiếu nại về lao động, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định này;

b) Đối với khiếu nại về dạy nghề, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định này;

c) Đối với khiếu nại về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định này.

3. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 27 Nghị định này thì người khiếu nại có quyền khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại và văn bản liên quan hoặc khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định này."

Về hình thức khiếu nại được quy định tại Điều 6 Nghị định 119/2014/NĐ-CP như sau:

"Điều 6. Hình thức khiếu nại

1. Khiếu nại thực hiện bằng hình thức gửi đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp, được quy định như sau:

a) Khiếu nại bằng hình thức gửi đơn thì trong đơn khiếu nại ghi rõ nội dung sau đây: ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại (nếu có) và yêu cầu giải quyết khiếu nại. Đơn khiếu nại do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại đầy đủ nội dung khiếu nại theo quy định tại Điểm a Khoản này và yêu cầu người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản.

2. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Khiếu nại bằng hình thức gửi đơn thì trong đơn ghi đầy đủ nội dung quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

b) Khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và đề nghị cử người đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại đầy đủ nội dung khiếu nại theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này và yêu cầu người đại diện ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản.

3. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Nghị định này."

Điều 10 Nghị định 119/2014/NĐ-CP quy định:

"Điều 10. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại

2. Quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án:

a) Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong trường hợp sau đây:

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao động; tổ chức, cá nhân dạy nghề; tổ chức, cá nhân đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

- Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 22 Nghị định này;

- Đã hết thời hạn quy định tại Điều 19 Nghị định này mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết.

b) Người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính trong trường hợp sau đây:

Khi không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định tại Điều 30 Nghị định này;

Đã hết thời hạn quy định tại Điều 27 Nghị định này mà khiếu nại lần hai không được giải quyết."

Bạn cũng có quyền khởi kiện vụ án tại Tóa án khi có các căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định 119/2014/NĐ-CP, để yêu cầu giải quyết. Tòa án có thẩm quyền trong trường hợp này là Tòa án nhân dân cấp huyện, nơi đặt trụ sở chính của công ty.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

>> Xem thêm:  Người lao động xin nghỉ việc có phải bồi thường chi phí đào tạo cho công ty không ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.

>> Xem thêm:  Người lao động phải bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không?