Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Nội dung tư vấn:

Xin chào anh! E có mua 1 mảnh đất của ông A và đã làm hết thủ tục sang tên. Vấn đề là: Trước đây mảnh đất đó Ông B đã sang tên từ 1 người Khác ( bà A), do bà A vay tiền nhưng k có khả năng chi trả. Ông B muon lấy lại tiền cho Vay nên đã bán mảnh đất đó cho e với giá = số tiền bà A vay. ( Sự việc này bà A k biết). Nếu sau này bà A biết thì có vấn đề gì ảnh hưởng tới em k.? Em xin cảm ơn. Đã gửi từ iPhone của tôi

 Trường hợp này cần xác định hợp đồng vay tiền của bà A có tài sản thế chấp là quyền sử dụng miếng đất không, việc thế chấp có thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, được đăng ký giao dịch bảo đảm hay chưa. Nếu đáp ứng được điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thế chấp thì khi đến thời hạn thanh toán mà bà A không có khả năng chi trả, tài sản này bị xử lý như sau:

"Điều 721. Xử lý quyền sử dụng đất đã thế chấp

Khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp quyền sử dụng đất mà bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì quyền sử dụng đất đã thế chấp được xử lý theo thoả thuận; nếu không có thỏa thuận hoặc không xử lý được theo thoả thuận thì bên nhận thế chấp có quyền khởi kiện tại Toà án."

>> Xem thêm:  Sổ đỏ không chính chủ có mang đi cầm cố được không ? Cầm cố thẻ sinh viên, xe máy có hợp pháp ?

Theo đó, ông B có thể thực hiện thủ tục sang nhượng quyền sử dụng miếng đất nếu ông B và bà A đã có thỏa thuận về việc này. 

Còn nếu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng miếng đất không đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực thì hợp đồng này được xem là vô hiệu. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 như sau:

"Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Và yêu cầu về hình thức của giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất là phải có đăng ký về giao dịch bảo đảm. 

Trường hợp hợp đồng vô hiệu thì ông B không có quyền sử dụng miếng đất nên không thể chuyển nhượng cho bạn. 

>> Xem thêm:  Cầm cố sổ đỏ để vay tiền có được không ? Sổ đỏ có thể là tài sản cầm cố không ?

Em cho người quen trong xóm vay tổng cộng 120 triệu nhưng chỉ làm giấy 100 triệu. Hai bên có trao đổi qua tin nhắn. Trong tin nhắn có lưu lại bên chị đó ghi rỏ ràng thừa nhận nợ em 100 triệu Vậy nếu kiện ra tòa thì em có lấy được toàn bộ tiền hay không. Hay chỉ lấy được 100 triệu. Nếu bên vay không còn khả năng chi trả thì em có bị mất số tiền đó hay không.

 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về việc xác định chứng cứ như sau:

"Điều 95. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó."

Theo đó, tin nhắn được coi là tài liệu đọc được nên nó phải đáp ứng quy định tại Khoản 1 Điều này để trở thành chứng cứ. 

Về việc kiện đòi lại tài sản, nếu bạn chứng minh được cho bên kia vay 120 triệu thì có thể kiện ra Tòa yêu cầu bên đó hoàn trả cho bạn số tiền. Trường hợp bên kia không còn bất cứ tài sản gì để chi trả thì bạn có thể yêu cầu áp dụng biện pháp thi hành án là trừ vào thu nhập của bên kia theo căn cứ tại Điều 78 Luật Thi hành án Dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau:

"Điều 78. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

>> Xem thêm:  Cầm đồ và cầm cố các vấn đề pháp lý liên quan ? Mạo danh cắm xe người khác có phạm tội ?

b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này."

Cách đây hơn 20 nam mẹ tôi co vay tiền cua chủ hàng sô tiên hon 40tr.thang 7/1994 đã trả 10tr và có giây trả nợ.sau đó me tôi đã trả dần cho chi T nguoi cung chung von lam an voi bà chủ cua hàng.có giây tờ xac nhận đã trả hiêt tiên nhung do thoi gian khá lâu và ngi đã trả hiet là xong nen me tôi da lam mât giay tờ.nhung vân có nguoi hàng xom lam chung da trả hiet no.den nay bà chu hàng lại quay lại và cam theo giay no den nha toi doi no.con chị T thi khang khang la mẹ toi chua trả tien.gio gđ tôi pải lam the nào.neu đua ra phap luat thi gia đình tôi co se nhu the nao???

Khoản 5 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định:

"Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa."

Theo đó, lời khai của người hàng xóm nếu đáp ứng được điều kiện trên thì sẽ được coi là chứng cứ cho việc mẹ bạn đã hoàn trả hết nợ. Ngoài ra, bạn cũng có thể thu thập thêm các chứng cứ khác để chứng minh cho việc này trong trường hợp có tranh chấp, khiếu kiện xảy ra.

Chào Luật Sư Minh Khuê, em mua nhà giấy tờ tay và rất nhiều hộ cũng mua giấy tờ tay trên 1miếng đất, sau khi mua xong 1 thời gian thì được biết bà chủ đất có cầm sổ đỏ để vay ngan hàng Nam Á, từ năm 2010 là 600tr, và hôm qua em có nhận được thông báo của ngân hàng về vấn đề bả chủ vay tiền ngân hàng va những hô có liên quan đến tài sản đảm bảo, lãi và gốc lên đến 1tỷ 3 rồi,mà giờ bà chủ cũng đã bỏ trốn thì cho em hỏi trường hợp như vậy những hộ đang sinh sống sẽ bị như thế nào nếu ngân hang mún thu giữ để giải quyết. Em xin cám ơn Luật Sư và em mong nhận được hồi đáp của Luật Sư.

Giao dịch liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giao dịch bắt buộc phải được công chứng, chứng thực, do đó nếu giấy tờ này chỉ viết tay thì vẫn chưa đảm bảo phát sinh hiệu lực, hợp đồng chuyển nhượng này sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật, các bên thực hiện hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. 

Hiện tại bà chủ đã bỏ trốn nên bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:

"Điều 140*. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

C) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Tái phạm nguy hiểm;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng.

>> Xem thêm:  Phân tích bảo lãnh và thế chấp.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

cho tôi được hỏi về nội dung như sau , tôi có nhờ một giáo viên tiểu học chạy việc công chức cho tôi tôi đã giao số tiền một chăm triệu đồng cho cô giáo này , trong khi giao tiền tôi có ghi hình và viết giấy vay tiền kèm theo đó là giấy nhận tiền để chậy viêc công chức ,tính từ thời điểm đó tới nay đã đươc hơn 3 tháng ,nhưng cô giáo này không lo được viêc cho tôi ,tôi đã đòi phải hoàn chả lại số tiền đó cho tôi ,nhưng cô giáo này đã hẹn tôi rất nhiều lần nhưng lại không hoàn chả cho tôi .Toi thấy cô giáo này muốn chiếm đoạt số tiền đó của tôi ,vậy tôi xin đươc hỏi ý kiến luật sư là trong trường hợp này của tôi nếu kiện da công an thi cô giáo này sẽ bị sử lý như thế nào ,tôi xin chân thành cảm ơn ! Được gửi từ máy tính bảng Samsung.

Trong trường hợp này giao dịch vay tiền của bạn sẽ bị vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005:
"Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu."

>> Xem thêm:  Có thể đính chính thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng ?

Theo đó, bên kia có nghĩa vụ trả lại số tiền bạn đã đưa. Tuy nhiên, vì bạn đưa số tiền này với mục đích chạy việc nên bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

"Điều 289. Tội đưa hối lộ

1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

A) Có tổ chức;

B) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

C) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

D) Phạm tội nhiều lần;

Đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

A) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

A) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ."

Về người nhận tiền chạy việc cho bạn, người này có thể bị truy cứu về tội nhận hối lộ theo quy định tại Điều 279 Bộ luật Hình sự:

>> Xem thêm:  Cho bạn mượn sổ đỏ để cầm cố vay tiền làm ăn phải làm thế nào để đòi lại?

"Điều 279. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Gây hậu quả nghiêm trọng;

B) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

C) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Có tổ chức;

B) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

C) Phạm tội nhiều lần;

D) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

Đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

E) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

G) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

A) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

A) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

>> Xem thêm:  Phân biệt thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ở với thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Dân sự - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn hồ sơ và thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ?