Tôi giả thiết các trưòng hợp sau:

- Đã bị tạm giữ GPLX khi lập Biên bản vi phạm. Quyết định tước quyền sử dụng GPLX có thời hạn được lập khi nào? có quy định về thời hiệu ban hành quyết định tước GPLX hay không? Thời hạn tước quyền sử dụng GPLX tính từ khi nào? ( từ ngày lập biên bản hay từ ngày ra quyết định tướpc quyền sử dụng GPLX)?

- Nếu lúc lập Biên bản vi phạm chưa bị tạm giữ GPLX, đến lúc đi xử lý mới mang GPLX đến. Vậy lúc đó mới ra quyết định tước GPLX hay sao?

- Văn bản nào quy định về thời hạn việc tước quyền sử dụng GPLX?

Kính mong sự quan tam giúp đỡ của Luật sư. Xin cám ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi! Về vấn đề này chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

- Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012.

Nội dung tư vấn:

Về thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép lái xe, bạn có thể tham khảo tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, trong đó sẽ quy định cụ thể trường hợp nào sẽ bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe và thời gian tước quyền sử dụng trong trường hợp đó là bao lâu. Thời hạn tước giấy phép lái xe là mức trung bình của khung thời gian tước giấy phép đó, nếu như có tình tiết giảm nhẹ thì chỉ giảm đến mức tối thiểu của khung thời gian tước hoặc nếu có tình tiết tăng nặng thì cũng chỉ tăng đến mức tối đa của khung thời gian tước.

Về thời điểm bắt đầu tính thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép lái xe được quy định tại Khoản 3 Điều 77 Nghị định 46/2016 như sau:

a) Trường hợp tại thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà người có thẩm quyền xử phạt đã tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức vi phạm thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề là thời điểm quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành;

b) Trường hợp tại thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà người có thẩm quyền xử phạt chưa tạm giữ được giấy phép, chứng chỉ hành nghề của cá nhân, tổ chức vi phạm thì người có thẩm quyền xử phạt vẫn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định đối với hành vi vi phạm. Trong nội dung quyết định xử phạt phải ghi rõ thời điểm bắt đầu tính hiệu lực thi hành của hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề là kể từ thời điểm mà người vi phạm xuất trình giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho người có thẩm quyền xử phạt tạm giữ;

c) Khi tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tước theo quy định tại Điểm b) Khoản này và thi trả giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tước quyền sử dụng theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khỏa này, người có thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản và lưu hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quy định trên, thời điểm bắt đầu tính thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép là thời điểm quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành. Trường hợp đã tạm giữ giấy phép thì thời hạn bắt đầu tính sẽ là ngày ra quyết định xử phạt hành chính. Còn trường hợp chưa tạm giữ giấy phép thì ngày bắt đầu tính sẽ là ngày mà người vi phạm giao giấy phép lái xe cho người có thẩm quyền xử phạt tạm giữ.

Về quy định về thời hiệu ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 như sau:

Điều 66. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm đã lập biên bản, thời hạn ra quyết định có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày và áp dụng đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi đối với trường hợp mà bạn cung cấp. Việc tư vấn của chúng tôi dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành. Nếu như có vấn đề gì thắc mắc hoặc cần giải đáp, vui lòng liên hệ đến hotline 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp miễn phí.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật trực tuyến