1. Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?

Thưa luật sư, Tôi muốn biết theo quy định của pháp luật hiện nay thì Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ? Cảm ơn!

Công an được giữ phương tiện gây tai nạn giao thông trong bao lâu ?

Luật sư tư vấn luật Giao thông đường bộ trực tuyến  

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì cơ quan công an chỉ có thể giữ phương tiện gây tai nạn trong vòng 7 ngày; trong trường hợp phức tạp có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày. .

Khi người tham gia giao thông gây ra tai nạn sẽ bị công an giữ phương tiện giao thông. Trong nhiều trường hợp, do thiếu hiểu biết pháp luật mà người có phương tiện bị tạm giữ không bảo vệ được quyền lợi của mình công an được quyền giữ phương tiện và quyền lợi của người có phương tiện bị tạm giữ.

Đối với các hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội mà sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định 46/2016/NĐ-CP hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 BLHS năm 2015.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề”.

Như vậy, theo quy định thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 7 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đến thời điểm này là hai tháng kể từ ngày bị tạm giữ và bạn cũng đã đóng phạt xong, bồi thường xong nên việc cơ quan công an giữ xe của bạn là chưa đúng quy định pháp luật.

Trường hợp thời hạn giữ xe đã quá thời hạn theo quy định và bạn đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt hành chính theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cơ quan công an vẫn chưa trả lại xe, thì bạn có thể làm đơn gửi khiếu nại lên cơ quan công an đang giải quyết hồ sơ vụ việc để yêu cầu xem xét, giải quyết việc trả lại xe cho mình theo luật định.

Nếu không được giải quyết đúng thời hạn bạn có quyền khởi kiện hành chính về hành vi hành chính của cơ quan công an tại Tòa án có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính 2015.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.1940 để được giải đáp.

>> Tham khảo thêm:  Bị tai nạn giao thông trên tuyến đường đang thi công kiện ai ?

2. Tư vấn trường hợp tai nạn giao thông gấy chết người ?

2 xe máy điều khiển ngược chiều nhau xảy ra tai nạn giao thông vào khoảng 17h , bên b có chút nồng độ cồn , khi xảy ra tai nạn bên a bỏ đi tự thú , mà không đưa bên b đi bệnh viện, gần 2 tiếng sau bên b được người dân đưa vào bệnh viện , khoảng 20 phút sau bên b chết. Bên b chết vào khoảng 19h30'vậy cho hỏi bên a có phải chịu trách nhiệm hình sự hay chịu trách nhiệm gì không ạ. Nếu như bên a kịp thời đưa bên b đi cấp cứu thì bên b chắc sẽ không xảy ra tình trạng xấu đến vậy ?
Nhờ luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn.
- Trịnh Thảo Nguyên

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

3. Yêu cầu công an dựng lại hiện trường được không ?  

Vu tai nạn giao thông đã xảy ra cách đây 11 tháng, bên gây tai nạn đị xe máy tông vào sau người đi xe đạp. 2 người là người cùng thôn với nhau. Người đi xe máy đồng ý thỏa thuận bồi thường cho người đi xe đạp nên không gọi công an nhưng sau đó bên gây tai nạn lật lọng. Hiện người bị hại sống thực vật nhưng không được quan tâm, vậy nên làm đơn thế nào để nhờ công an dựng lại hiện trường để điều tra.
- Đặng Phước

4. Tai Nạn Giao Thông khi đang làm hợp đồng thử việc tại công ty ? 

THưa luật sư, Anh trai tôi là tài xế đang trong quá trình kí hợp đồng thử việc 6 tháng với cty x. Trong quá trình chở hàng cho cty ở ngoại thành thành phố , thì xe vấp phải ổ voi nên dẫn tới việc bị mất lái và mất phanh dẫn đến vụ việc là đâm vào một em học sinh đang đi học về ( lúc đó hộp đen trong xe ô tô là 45km/h ). 
Sau khi xảy ra tai nạn anh trai tôi đã kịp thời gọi xe taxi và tri hô người dân đến để đưa người bị hại đến bv gần nhất. Trong quá trình người bệnh đang điều trị tại bệnh viện thì vì hoàn cảnh khó khăn nhà đơn chiếc nên a trai tôi có xin nghỉ làm ở cty để chăm sóc người bệnh nhưng không được cty đó chấp nhận. Hơn thế nữa a trai tôi còn nhận được thông báo là vụ việc gây tai nạn vừa qua a trai tôi phải chịu hoàn toàn trách nhiệm , về phía cty thì không liên quan gì , còn tiền bảo hiểm xe thì cty sẽ được nhận toàn bộ và ko chi trả cho a trai tôi. Từ lúc nhân viên của cty mình gây tai nạn thì cty đó chưa hề có 1 lần nào tiếp xúc với ng bị tai nạn hay người nhà cả vậy qua đây tôi cũng xin nhờ quí luật sư tư vấn giúp cho a trai của tôi liệu xem a trai của tôi có bị truy tố trách nhiệm hình sự hay mức phí bồi thường ai sẽ chịu.
- Hồ Quang

5. Xử lý thế nào khi tai nạn giao thông do lỗi của cả hai bên ?

Thưa Luật sư, con tôi điều khiển xe may đi trên phần đường theo quy định, đến ngã ba thì có người băng qua đường trong tình trạng say rượu va 2 xe máy đụng vào nhau, nhưng con tôi chưa có bằng lái, và khoảng cách nơi gây tai nạn với ngã ba giao nhau khoang 10m, như vậy sẽ xử lý như thế nào? Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

Xử lý thế nào khi tai nạn giao thông do lỗi của cả hai bên ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường tai nạn giao thông, gọi số: 1900.1940

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Điều 8, Luật giao thông đường bộ 2008  quy định các hành vi bị nghiêm cấm như sau :

"8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.".

Như vậy, trong trường hợp này, con bạn có lỗi vì tham gia giao thông không có giấy phép lái xe. Người băng qua đường kia có lỗi hay không phụ thuộc vào nồng độ cồn đo được tại thời điểm đó. Nếu trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở thì người đó cũng có lỗi trong việc gây ra tai nạn. 

Nếu cả 2 bên đều có lỗi trong việc gây ra tai nạn cho nên trách nhiệm dân sự thì 2 bên chịu trách nhiệm theo quy định tại điều 623 Bộ luật dân sự 2005 cụ thể :

"Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.".

Mặt khác nếu cả hai bên đều có lỗi thì cũng cần tuân theo quy định tại điều 617 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể là :

"Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.".

Trong trường hợp này, trách nhiệm dân sự sẽ tuân theo các quy định trên đây.

Về trách nhiệm hành chính :

- Con bạn điều khiển xe mô tô không có bằng lái do đó, theo khoản 5 điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt  thì "5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này.".

- Hai thanh niên kia uống rượu bia điều khiển xe mô tô, do đó, theo điều 6, Nghị định này thì họ có thể bị xử phạt hành chính như sau: 

Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máu (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (điểm b, khoản 5, Điều 6). Nếu nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng ( theo điểm e, khoản 6, điều 6). 

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng, nếu người điều khiển gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng (điểm b, c khoản 10 Điều 6).

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.1940.

>> Tham khảo thêm nội dung:  Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

6. Nhận lại phương tiện bị tạm giữ sau tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khê, em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Bố em vừa rồi điều khiển xe máy & trên đường có va chạm với xe oto, bố em bị ngã & chẩn đoán là bị nứt xương sườn số 04. Trong quá trình đó, công an có tạm giữ xe của 2 bên, bên điều khiển oto có cầm giấy, Đề nghị gia đình em ký xác nhận để có thể lấy xe oto do công an đang tạm giữ & bồi thường tạm thời 1 triệu đồng cho gia đình em (do mẹ em đề nghị được hỗ trợ vì lúc đó bố em phải nhập viện cấp cứu). Trong thời gian nhập viện, bên điều khiển ô tô liên tục gọi điện, yêu cầu ký giấy xác nhận từ bên bố em để được nhận xe, gia đình em có đề nghị đợi bố xuất viện sẽ lên công an làm thủ tục. Đến ngày bố em xuất viện, vì vẫn bị ảnh hưởng từ tai nạn nên việc di chuyển vẫn còn khó khăn, vì thế mẹ em thay mặt bố lên làm biên bản thỏa thuận để nhận xe từ 2 bên.
Nhưng công an đã trả xe cho bên phía ô tô & không đồng ý cho mẹ em làm thủ tục nhận lại xe, mà yêu cầu bố em phải trực tiếp lên. Tuy nhiên, việc di chuyển của bố em vẫn chưa được tốt. Vậy, luật sư cho em hỏi: 1/ Xe mô tô bố em điều khiển là xe được mua lại (có giấy tờ xe do chủ sở hữu xe cũ), bố em không phải là người trực tiếp đứng tên sở hữu xe thì có thể nhận lại xe được không? 2/ Việc công an không cho mẹ em trực tiếp làm thủ tục nhận xe mà yêu cầu bố em trực tiếp đến gặp thì có đúng không? Và vì bố em di chuyển còn khó khăn nên vẫn chưa đến công an làm việc, vậy trong thời gian công an tạm giữ xe, bố em có phải chi trả cho việc tạm giữ phương tiện này không? Khi lên làm việc bố em có được nhận lại xe ngay không? 3/ Khi tai nạn xảy ra, bố em được chuyển đi cấp cứu, mẹ em đến công an làm thủ tục, công an chỉ khăng khăng nói bố em say & gây ra tai nạn, vậy làm sao để có thể chứng minh lời nói của công an là không có căn cứ?
Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê! Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư! Người gửi: Thanh Tâm

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.1940

 

Trả lời 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Quyết định 18/2007/QĐ-BCA(C11)

Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

Thông tư liên tịch Quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 26/2014/TTLT-BYT-BCA

Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành

2. Nội dung tư vấn:

1/ Xe mô tô bố bạn điều khiển là xe được mua lại (có giấy tờ xe do chủ sở hữu xe cũ), bố em không phải là người trực tiếp đứng tên sở hữu xe thì có thể nhận lại xe được không?

Để có thể nhận lại xe, bố bạn cần có các giấy tờ chứng minh mình là chủ sở hữu xe. Có hai cách giải quyết như sau:

Bố bạn cần phải xuất trình Giấy đăng ký xe (chưa sang tên bạn), chứng từ chuyển nhượng của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển nhượng của người bán cuối cùng, để chứng minh hiện tại bạn là chủ xe. Đồng thời, bạn cũng cần phải tiến hành thủ tục sang tên đổi chủ, như vậy mới có đủ căn cứ để cảnh sát giao thông trả xe cho bố bạn. Trong trường hợp bố bạn không có giấy tờ chuyển nhượng thì bạn cần phải liên hệ với người đứng tên trong Giấy đăng ký xe để xác nhận việc đã bán xe cho bạn. 

Trong trường hợp bạn không có giấy tờ chuyển nhượng thì bạn cũng có thể làm thủ tục sang tên đổi chủ theo quy định tại Điều 24 Thông tư 15/2014/TT-BCA. Sau đó, xin nhận lại xe.

2/ Việc công an không cho mẹ em trực tiếp làm thủ tục nhận xe mà yêu cầu bố em trực tiếp đến gặp thì có đúng không? Và vì bố bạn di chuyển còn khó khăn nên vẫn chưa đến công an làm việc, vậy trong thời gian công an tạm giữ xe, bố bạn có phải chi trả cho việc tạm giữ phương tiện này không?

Điều 17 Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ (Ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11)ngày 05 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công an) quy định như sau:

  “1. Mời các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn, hình thức giải quyết. Cho các bên liên quan phát biểu ý kiến của họ. Mọi ý kiến đều được ghi vào biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông và có chữ ký của các bên liên quan đến tai nạn giao thông.

2. Lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định hoặc đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Sau khi cá nhân bị xử phạt thực hiện xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cán bộ thụ lý lập biên bản trả lại phương tiện giao thông (nếu phương tiện còn đang bị tạm giữ), đồ vật và các giấy tờ đã tạm giữ cho người bị xử phạt; thu biên lai tiền phạt ghim vào góc bên trái quyết định xử phạt, lưu trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông.

4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường:

- Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính;

- Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự.”

Theo thông tin bạn cung cấp, công an kết luận bố bạn say và gây tai nạn, nên bố bạn cần phải thực hiện xong quyết đinh xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 3 Điều 17 Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ (Ban hành kèm theo Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11)ngày 05 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công an) rồi mới có thể nhận lại xe.

Như vậy, việc công an không cho mẹ em trực tiếp làm thủ tục nhận xe mà yêu cầu bố em trực tiếp đến gặp là đúng.

Nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính có quy định như sau:

Điều 9. Trách nhiệm trong quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu

“1. Người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

2. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện.”

Căn cứ theo quy định này thì cơ quan thụ lý vụ việc của bố bạn sẽ có trách nhiệm quản lý, bảo quản, theo đó bố bạn sẽ không phải trả phí cho việc tạm giữ phương tiện này.

3/ Khi tai nạn xảy ra, bố em được chuyển đi cấp cứu, mẹ em đến công an làm thủ tục, công an chỉ khăng khăng nói bố bạn say và gây ra tai nạn, vậy làm sao để có thể chứng minh lời nói của công an là không có căn cứ? 

Điều 3 Thông tư liên tịch Quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 26/2014/TTLT-BYT-BCA quy định : 

"Những trường hợp xét nghiệm nồng độ cồn trong máu

1. Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gây tai nạn hoặc bị tai nạn giao thông được sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân (sau đây viết tắt là cán bộ Công an) đang làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn trong máu.

2. Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có liên quan đến vụ tai nạn giao thông được cán bộ Công an đang làm nhiệm vụ điều tra, giải quyết tai nạn giao thông yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn trong máu.

3. Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có dấu hiệu sử dụng chất có cồn được cán bộ Công an đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn trong máu.

4. Người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ bị tai nạn giao thông được đưa đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được bác sĩ chỉ định xét nghiệm nồng độ cồn trong máu."

Điều 5 của Thông tư này quy định:

"Quy trình xét nghiệm nồng độ cồn trong máu

1. Cơ sở y tế được xét nghiệm nồng độ cồn trong máu (sau đây viết tắt là cơ sở xét nghiệm) tiếp nhận người được xét nghiệm quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch này, kiểm tra phiếu xét nghiệm theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này và chuyển đến cán bộ thực hiện xét nghiệm. Trường hợp người được xét nghiệm quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 3 Thông tư liên tịch này thì phải có thêm phiếu yêu cầu xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của cán bộ Công an theo mẫu số 02 ban hành kèm Thông tư liên tịch này.

2. Cán bộ xét nghiệm thực hiện xét nghiệm theo đúng quy trình xét nghiệm nồng độ cồn trong máu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.

3. Cơ sở xét nghiệm cung cấp kết quả xét nghiệm theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này cho cán bộ, cơ quan Công an đã yêu cầu xét nghiệm, sau đó thông báo kết quả xét nghiệm cho người xét nghiệm theo quy định về hồ sơ bệnh án; cung cấp cho Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân trong trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật (nếu có yêu cầu) và lưu kết quả xét nghiệm theo quy định."

Để chứng minh bố bạn say và gây tai nạn, công an cần phải đưa ra được kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bố bạn theo đúng quy trình quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch Quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 26/2014/TTLT-BYT-BCA. Trong trường hợp không đưa ra được kết quả xét nghiệm này thì việc công an nói bố bạn say và gây tai nạn là không có căn cứ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư tư vấn luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê