Người gửi : Lương Văn Thế

Luật sư trả lời:Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Luật sư tư vấn pháp luật của công ty Luật Minh Khuê, sau thời gian nghiên cứu nội dung câu hỏi của bạn cùng với các quy định của pháp luật Luật sư xin trả lời bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Nghị định 46/2016/NĐ-CP năm 2016

Luật giao thông đường bộ năm 2008

2.Nội dung tư vấn

Thứ nhất: Từ thông tin mà bạn cung cấp thì chưa thể khẳng định ai đúng ai sai trong vụ tai nạn này vì còn phải có kết luận điều tra của cơ quan công an giao thông về vụ tai nạn như thế nào đã. Vì thực tế người điều khiển xe máy mà có nồng độ cồn nhưng vẫn có khả năng kiểm soát phương tiện nhưng khi va chạm lỗi là do người khác nhưng kết luận điều tra nếu không được điều tra chính xác thì lỗi vi phạm thường là người có nồng độ cồn phải gánh chịu nên người có nồng độ cồn sẽ bất lợi hơn khi sảy ra tai nạn giao thông.

Căn cứ theo Khoản 6 và Khoản 7 Điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP năm 2016 quy định tùy vào mức độ vi phạm về nồng độ cồn mà có mức xử phạt tương ứng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng hoặc từ 3.000.000 đến 4.000.000 đồng tùy vào mức vi phạm.

"Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy( kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ.

6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.

8. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ theo quy định trên 20km/h;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililit máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở."

Đối với trường hợp xe máy của B không có phanh thì cũng không đúng quy định pháp luật giao thông về an toàn đối với phương tiện tham gia giao thông. Vì căn cứ theo Điều 53. Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới thì xe của b không đạt yêu cầu.

"Điều 53. Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới.

1. Xe ô tô đúng kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường sau đây:

a) Có đủ hệ thống hãm có hiệu lực;

b) Có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực;

c) Tay lái của xe ô tô ở bên trái của xe; trường hợp xe ô tô của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam thực hiện theo quy định của Chính phủ;

d) Có đủ đèn chiếu sáng gần và xa, đèn soi biển số, đèn báo hãm, đèn tín hiệu;

đ) Có bánh lốp đúng kích cỡ và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại xe;

e) Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển;

g) Kính chắn gió, kính cửa là loại kính an toàn;

h) Có còi với âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

i) Có đủ bộ phận giảm thanh, giảm khói và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm khí thải, tiếng ồn theo quy chuẩn môi trường;

k) Các kết cấu phải đủ độ bền và bảo đảm tính năng vận hành ổn định.

2. Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy đúng kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, h, i và k khoản 1 Điều này.

3. Xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

4. Chính phủ quy định niên hạn sử dụng đối với xe cơ giới.

5. Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ mộ trường của xe cơ giới được phép tham gia giao thông, trừ xe cơ giới của quân đội, công an sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh."

Vậy nên trong trường hợp A và B tham gia giao thông cả hai bên đều có hành vi vi phạm an toàn giao thông nhưng để chứng minh ai là người có lỗi trong vụ tai nạn giao thông Luật sư không thể biết được, như đã nói từ đầu thì để biết ai đúng ai sai thì phụ thuộc vào kết quả điều tra của cơ quan công an giao thông mới có thể kết luận được.

Thứ hai: Trường hợp sảy ra tai nạn nếu chưa có thiệt hại gì lớn hai bên có thể thỏa thuận với nhau để xử lý hài hòa giữa hai bên. Nếu hai bên không thỏa thuận được và có thiệt hại lớn, nghiêm trọng đến sức khỏe, tài sản thì có thể nhờ đến sự can thiệp và làm việc của cơ quan công an điều tra.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê