Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005 (văn bản mới: bộ luật dân sự năm 2015)

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Luật Giao thông đường bộ 2008

Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (văn bản thay thế: Nghị định 46/2016/NĐ-CP)

Nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính

Thông tư 01/2016/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông.

Nghị định 27/2010/NĐ-CP quy định về việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết

Thông tư 47/2011/TT-BCA hướng dẫn Nghị định 27/2010/NĐ-CP quy định việc huy động lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết do Bộ Công an ban hành

2. Nội dung phân tích:

Cho em hỏi là đối với trường hợp em bị cảnh sát cơ động bắt xe do bạn em chở khi không có bằng lái xe và em ngồi sau không có đội mũ BH thì bị phạt bao nhiêu ạ?

 Khi người điều khiển xe gắn máy không có giấy phép lái xe thì sẽ bị phạt từ 800.000 đồng đến 1.200.00 đồng. Khoản 5 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định như sau:

"Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này." (khoản 7 quy định về xe mô tô có dung tích xi lanh 175 cm3 trở lên)
Với hành vi người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm k khoản 3 Điều 6 nghị định 171/2013/NĐ-CP. Theo đó người vi phạm sẽ bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.
Như vậy, tổng mức phạt trong trường hợp của bạn là từ 900.000 đồng đến 1.400.000 đồng.

Cho Em hỏi Em bị những lỗi sau thì theo luật giao thông đường bộ Em phải nộp Kho bạc bao nhiêu tiền:
1. Người điều khiển xe máy và người ngồi sau ko đội mũ bảo hiểm.
2. Không có bằng lái xe.
3. Không có bảo Hiểm xe.
4. Lạng lách đánh võng trên đường. Mong Luật Sư giải đáp cho em sớm. Em xin cảm ơn!

 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định về những lỗi vi phạm này như sau:

1. Điểm i và điểm k khoản 3 Điều 6 nghị định 171/2013 quy định về hành vi người điều khiển xe mô tô và người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm, mức phạt đối với mỗi lỗi là từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Vậy, khi cả người điều khiển và người ngồi sau đều không đội mũ bảo hiểm thì mức phạt là từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.
2. Với lỗi không có bằng lái xe khi điều khiển xe mô tô thì khoản 5 Điều 21 Nghị định 171 quy định mức phạt là từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng: "5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này." (khoản 7 quy định về xe mô tô có dung tích xi lanh 175 cm3 trở lên)
3. Khi người điều khiển xe mô tô không có bảo hiểm(giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự) thì điểm a khoản 2 điều 21 Nghị định 171 quy định mức phạt là từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng.
4. Đối với hành vi lạng lách đánh bóng trên đường trong, ngoài đô thị thì sẽ bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng (điểm b khoản 7, điều 6 nghị định 171/2013/NĐ-CP
Khi người điều khiển xe vi phạm nhiều lỗi thì mức phạt là tổng mức phạt của các lỗi cộng lại.

Xin chào luật sư, Tôi xin tư vấn về vụ việc như sau: Khi tôi đang điều khiển chiếc xe air blade thì có một chiếc xe máy chạy ngược chiều mất tai lái gây ra tai nạn, nhưng được biết là bên kia không có bằng lái xe. Cả hai đều được chở vào bệnh viện cấp cứu. Tôi thì bị phần mềm nên được cho về nhà điều trị, người kia thì do sợ quá nên hạ canxi phải ở lại bệnh viện ngày hôm sau mới về. Bây giờ bên kia không chịu bồi thường thiệt hại tài sản của tôi. Tôi phải làm thế nào.?

 Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Như vậy, khi bên gây thiệt hại có lỗi, và thực tế có thiệt hại xảy ra thì sẽ phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp này, anh không có hành vi vi phạm luật an toàn giao thông, bên kia đã có hành vi vi phạm và gây ra thiệt hại cho anh. Vậy nên bên kia sẽ phải bồi thường. Điều 605 quy định:

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Khoản 6 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định: tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền của tòa án.
Như vậy, anh được bồi thường toàn bộ các chi phí. Nếu bên kia không chịu bồi thường, thì anh có thể khởi kiện dân sự tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi bên gây thiệt hại đang sinh sống hoặc làm việc, nếu không biết nơi đang sinh sống hoặc làm việc thì là nơi sinh sống hoặc làm việc cuối cùng, nếu không biết nơi sinh sống hoặc làm việc cuối cùng thì anh có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi mình đang sinh sống hoặc làm việc.

Chào luật sư, e có câu hỏi xin luật sư giải đáp giúp em. Em bị cảnh sát giao thông tạm giữ xe máy vì 2 người không đội mũ bảo hiểm,không có bằng lái, không mang chứng minh nhân dân, không có giấy đăng ký mô tô. Em bị tạm giữ xe 5 ngày. Nhưng vì lý do cá nhân nên 1 tháng nay em vẫn chưa lấy xe ra. Vậy cho em hỏi mức phạt của em sẽ hết bao nhiêu tiền . Em xin cảm ơn!

 Theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì những hành hành vi vi phạm của bạn sẽ bị xử phạt như sau:

- Người điều khiển và người ngồi sau không đội mũ bảo hiểm thì mỗi người bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Quy định tại Điểm i, điểm k khoản 3 Điều 6
- Không có giấy phép lái xe xử phạt từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng. Khoản 5 Điều 21
- Lỗi không mang theo chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền thì bị phạt cảnh cáo từ 100.000 đến 200.000 đồng. Điều này được quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 9 nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội.
- Khi không có đăng ký xe thì sẽ bị phạt từ 300.000 đến 400.000 đồng, quy định tại Điểm a khoản 3 điều 17
Điều 75 quy định về việc tạm giữ phương tiện giao thông như sau:


Điều 75. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm
1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 07 (bảy) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:
a) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 10 Điều 5;
b) Điểm b Khoản 5; Điểm b, Điểm e Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 6;
c) Điểm d Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 7;
d) Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 8 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;
đ) Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 16;
e) Khoản 3 Điều 17;
g) Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 19;
h) Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 21.
2. Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc để xác minh tình tiết làm căn cứ ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định tại Khoản 6, Khoản 8 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 của Luật xử lý vi phạm hành chính, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, ngời vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.
3. Khi phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí (nếu có) cho việc sử dụng phương tiện khác thay thế để vận chuyển người, hàng hóa được chở trên phương tiện bị tạm giữ.
Bạn vi phạm khoản 3 Điều 17 nên cảnh sát hoàn toàn có căn cứ để tạm giữ phương tiện của bạn.
Bạn cần mang chứng minh nhân dân, giấy tờ xe hoặc giấy tờ khác có căn cứ để đến nhận lại xe. Bạn phải nộp các khoản tiền bao gồm: tổng mức nộp phạt với các hành vi vi phạm trên, chi phí quản lý, gửi giữ xe từ khi bị tạm giữ đến khi lấy xe, số tiền lãi do nộp quá hạn các khoản trên. Cứ mỗi ngày chậm nộp phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp. (Điều 78 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012). 
Điều 17 Nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 17. Xử lý tang vật, phương tiện hết thời hạn bị tạm giữ
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ít nhất 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 Luật xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Như vậy, sau khi bị tạm giữ xe đến nay là 1 tháng bạn chưa đến lấy lại xe thì bạn vẫn còn thời giạn để đến lấy lại xe.

Cho em hỏi , em điều khiển xe máy vượt tốc độ 50/40 lại không có giấy phép lái xe, không mang giấy đăng kí xe. Vậy em bị phạt bao nhiêu tiền ạ. Hiện tại xe em đang bị giữ, nếu không có giấy phép lái xe có được lấy xe lại không ? Em xin cảm ơn!

Khi người điều khiển xe không có giấy phép lái xe thì sẽ bị phạt từ 800.000 đến 1.200.000 đồng, quy định tại Khoản 5 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Không mang theo đăng ký xe thì sẽ bị phạt từ 80.000 đến 120.000 theo quy định tại Điểm b khoản 2 điều 21 nghị định 171/2013/NĐ-CP
Bạn đã điều khiển xe vượt quá tốc độ cho phép 10km/h nên theo điểm c khoản 3 điều 6 nghị định này thì bạn sẽ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng
Điều 16 Nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu. Theo đó:
"1. Khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ hoặc chuyển tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu, người được giao nhiệm vụ quản lý, bảo quản có trách nhiệm:

a) Kiểm tra quyết định trả lại hoặc quyết định chuyển tang vật, phương tiện đó; kiểm tra Chứng minh nhân dân và giấy tờ khác có liên quan của người đến nhận;

b) Yêu cầu người đến nhận lại tang vật, phương tiện đối chiếu với biên bản tạm giữ để kiểm tra về chủng loại, số lượng, khối lượng, chất lượng, đặc điểm, hiện trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu dưới sự chứng kiến của cán bộ quản lý. Việc giao, nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải được lập thành biên bản;

c) Trường hợp chuyển tang vật, phương tiện đó cho cơ quan điều tra, tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hoặc hội đồng bán đấu giá hoặc cơ quan giám định thì người quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu phải lập biên bản về số lượng, khối lượng, trọng lượng, chủng loại, nhãn hiệu, xuất xứ, tình trạng của tang vật, phương tiện. Biên bản được lập thành hai bản có chữ ký của bên giao và bên nhận, mỗi bên giữ một bản;

d) Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng thì cơ quan đã ra quyết định tịch thu chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp tổ chức chuyển giao cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước."
Khi bạn không có giấy phép lái xe, tức là bạn không đủ điều kiện để điều khiển phương tiện tham gia giao thông, nhưng chiếc xe tài sản của công dân, có giấy đăng ký xe, có chủ sở hữu hợp pháp, cơ quan có thẩm quyền không thể tịch thu chiếc xe. Chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền có thể đến lấy lại xe và phải xuất trình giấy tờ tùy thân và các giấy tờ khác. Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu giao xe cho bạn là người không đủ điều kiện để tham gia giao thông thì chủ sở hữu đó cũng bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm đ khoản 3 điều 30 nghị định 171/2013/NĐ-CP, theo đó chủ phương tiện sẽ bị phạt từ 800.000 đến 1.000.000 đồng. Nếu người điều khiển xe tự ý đi xe thì có thể xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản.

Kính gửi: Văn phòng Luật Minh Khuê Vừa qua em tôi 19 tuổi khi tham gia giao thông (xe máy) tự gây tai nạn cho bản thân không gây hậu quả cho bất cứ ai khác. Hôm đó có uống rượu bia, tai nạn quá nặng và không có ai đi cùng nên xe của em tôi được CSGT đến làm việc chở xe về đồn. Giấy tờ hiện tại của xe đầy đủ bao gồm Đăng ký xe, bảo hiểm xe. Tuy nhiên em tôi không có giấy phép lái xe. Vậy theo quy định của pháp luật thì em tôi bị phạt những lỗi nào và số tiền bao nhiêu? Rất mong nhận được sự tư vấn sớm nhất. Xin cảm ơn!

 Người điều khiển xe đã vi phạm rất nhiều lỗi quy định tại nghị định 171/2013/NĐ-CP, theo đó, các hành vi vi phạm bị xử lý như sau:

- Khoản 5 Điều 21 quy định người điều khiển xe không có giấy phép lái xe thì bị phạt từ 800.000 đến 1.200.000 đồng
- Người điều khiển xe có nồng đồ còn trong người có thể bị phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng nếu nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở; hoặc bị phạt từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng nếu trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.
- Ngoài ra, chủ phương tiện hoặc người có quyền đối với phương tiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về lỗi Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông. quy định tại điểm đ khoản 3 điều 30 nghị định 171/2013/NĐ-CP, theo đó, người giao xe cho em trai bạn có thể bị xử phạt từ 800.000 đến 1.000.000 đồng. Nếu em bạn tự ý lấy xe đi thì có thể bị xử lý hình sự về tội trộm cắp tài sản.

Thưa luật sư cho tôi hỏi về vấn đề như sau: Trên tuyến đường liên xã, em của tôi chạy xe. Công ăn thổi phạt. Nhưng em của tôi đội mũ bảo hiểm đầy đủ, không chạy quá tốc độ. Biểu hiện bình thường, không nồng độ cồn, nhưng không có giấy phép lái xe, Vậy công an xã có quyền dừng xe không.? 
- Em của tôi đậu xe trên lề. Không chạy xe. Nhưng chìa khóa vẫn còn trên xe, máy không nổ. Nhưng CAGT lại dừng lại kiểm tra giấy tờ. Và phạt em của tôi? Vậy có đúng với pháp luật hay không, thưa luật sư? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Về cơ bản thì em của bạn không đủ điều kiện để tham gia giao thông, tuy nhiên việc công an xã tiến hành dừng xe khi người điều khiển xe không có dấu hiệu vi phạm là sai quy định pháp luật. Điều 7 thông tư 47/2011/TT-BCA quy định về nhiệm vụ của lực lượng cảnh sát khác và công an xã như sau: "Lực lượng Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường liên xã, liên thôn thuộc địa bàn quản lý và xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông sau: điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh; đỗ xe ở lòng đường trái quy định; điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả, không có gương chiếu hậu hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luật và các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ như họp chợ dưới lòng đường, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông. Nghiêm cấm việc Công an xã dừng xe, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ."
Như vậy, khi có dấu hiệu các lỗi như trên và họ tham gia kiểm soát trật tự an toàn giao thông theo kế hoạch, nếu không có cảnh sát giao thông đi cùng thì kế hoạch phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì công an xã mới có thể tiến hành dừng phương tiện giao thông và xử lý vi phạm. Trong trường hợp này công an xã đã vượt quá quyền hạn của mình. Lúc này thì chủ phương tiện tham gia giao thông không có nghĩa vụ phải dừng lại và xuất trình giấy tờ do hành vi vượt quá thẩm quyền của công an xã. Bạn có thể khiếu nại đến chính cơ quan đã có hành vi vượt quá quyền hạn này yêu cầu được giải thích và xử lý đúng theo quy định pháp luật.
Luật Giao thông đường bộ quy định về việc phương tiện dừng, đỗ xe như sau:
Điều 18. Dừng, đỗ xe trên đường bộ.
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của phương tiện giao thông trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên, xuống phương tiện, xếp dỡ hàng hóa hoặc thực hiện công việc khác.

 2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của phương tiện giao thông không giới hạn thời gian.

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ.

Điều 19. Dừng, đỗ xe trên đường phố.

Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường phố phải tuân theo quy định tại Điều 18 của Luật này và các quy định sau đây:

1. Phải cho xe dừng, đỗ sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi của mình;bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, hè phố quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho giao thông. Trường hợp đường phố hẹp, phải dừng xe, đỗ xe ở vị trí cách xe ô tô đang đỗ bên kia đường tối thiểu 20 mét.

2. Không được dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện,trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước. Không được để phương tiện giao thông ở lòng đường, hè phố trái quy định.

Nếu em của bạn không vi phạm những quy định trên về dừng, đỗ xe thì có thể chứng minh với người ra quyết định xử phạt với mình.
Nếu cảnh sát giao thông vẫn tiến hành lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính thì bạn có thể viết đơn khiếu nại đến chính người ra quyết định xử phạt mình hoặc thủ trưởng cơ quan ra quyết định xử phạt để yêu cầu giải quyết lại vụ việc.

Thưa luật sư,em có một vấn đề thắc mắc cần luật sư tư vấn giúp như sau: Một lần khi em tham gia giao thông trên đường đang chạy với vận tốc chừng 20-30km\h thì có một chú kia qua đường nhưng không có đèn tính hiệu và trong người có hơi men nữa, xe em bị hư nặng nhưng chú ấy vẫn không bồi thường cho em, công an đến và đưa xe 2 người về đồn, xin cho e hỏi là bây giờ em có chứng minh nhân dân và giấy đăng ký xe nhưng do chị em đứng tên và em không có giấy phép lái xe vậy em có bị phạt không và bị phạt bao nhiêu, mong nhận được sự trợ giúp của luật sư, em xin chân thành cảm ơn!

 Trong trường hợp này thì bạn hoàn toàn không có lỗi trong vụ tai nạn trên, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía bên kia, bạn có thể đối chứng, chứng minh với cơ quan có thẩm quyền. Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."

Như vậy, bên vi phạm sẽ phải bồi thường cho bạn trên nguyên tắc: "Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. "
Còn về vấn đề bạn chưa có bằng lái xe nhưng vẫn điều khiển phương tiện là hành vi vi phạm và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 5 Điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ-CP , mức phạt sẽ từ 800.000 đến 1.200.000 đồng.
Ngoài ra, chị gái bạn cũng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về lỗi "Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông." quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 30 nghị định 171/2013/NĐ-CP, mức phạt sẽ từ 800.000 đến 1.000.000 đồng.

Thưa luật sư, em muốn hỏi câu hỏi với nội dung như sau: vừa qua em bị rơi chiếc ví có chứng minh nhân dân và bằng lái xe. hôm qua em có mang hồ sơ bằng lái để đi làm lại trên đường đi bị công an giao thông bắt và lập biên bản em với hai lỗi là không có đăng kí xe và không có giấy phép lái xe khi em có trình bày là bằng lái bị mất và đang đi làm lại và có đưa hồ sơ gốc cho công an xem nhưng tại sao họ không chấp nhận vậy lỗi của em bị xử phạt như thế nào ạ và họ hẹn em thứ 6 tuần sau đến giải quyết vậy em đến sớm hơn được không ạ, em xin cảm ơn!

 Theo quy định của Luật Giao thông đường bộ 2008 thì một điều kiện của người tham gia giao thông bắt buộc phải có là đủ độ tuổi luật định, có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe do cơ quan có thẩm quyền cấp. Đây là điều kiện bắt buộc phải có khi tham gia giao thông nên kể cả khi bạn bị mất bằng lái và đang trên đường đi cấp lại thì bạn vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 5 Điều 21 nghị định 171/2013/NĐ-CP thì mức phạt của bạn với lỗi không có giấy phép lái xe là từ 800.000 đến 1.200.000 đồng.

Với lỗi không có đăng ký xe thì sẽ bị phạt từ 300.000 đến 400.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 17 nghị định 171/2013/NĐ-CP.
Nếu bạn có vấn đề gì cần giải quyết về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan có thẩm quyền thì bạn hoàn toàn có thể đến yêu cầu giải quyết.

Luật sư cho em hỏi. cảnh sát cơ động thường xuyên đi vào trong đường làng ( thôn thịnh vạn ) bắt lỗi vi phạm không đội mũ bảo hiểm tối ngày hôm nay khoảng 22h ngày 29 tháng 3 cảnh sát cơ động có bắt lỗi em không đội mũ bảo hiểm không mang giấy phép lái xe va đăng ký xe yêu cầu nộp phạt nhanh là 200.000 đồng. vậy em xinh hỏi luật sư cscđ xử phạt như thế có đúng không ạ cscđ và csgt có được quyền bắt người trong đường thôn ( làng) không ạ em cảm ơn!

Theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ thì người người điều khiển phương tiện luôn phải đáp ứng được một số điều kiện bắt buộc khi tham gia giao thông, không ngoại trừ đường trong thôn, làng. Và khi tham gia giao thông, người điều khiển phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Nếu không vẫn bị coi là hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ và phải bị xử lý theo quy định.
Điều 9 nghị định 27/2010/NĐ-CP quy định như sau:


"Điều 9. Nhiệm vụ của Cảnh sát giao thông đường bộ, các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã khi phối hợp tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ
1. Nhiệm vụ của Cảnh sát giao thông đường bộ:
a) Chỉ đạo, điều hành việc tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông;
b) Thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo Kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
c) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
2. Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã:
a) Thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo sự chỉ đạo, điều hành của Cảnh sát giao thông đường bộ và theo Kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
b) Xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền khi tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có Cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng;
c) Thống kê, báo cáo các vụ, việc vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông đường bộ; kết quả công tác tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ theo sự phân công trong Kế hoạch đã được phê duyệt."
Điều này được hướng dẫn tại Thông tư số 47/2011/TT-BCA thì cảnh sát cơ động khi tham gia kiểm soát trật tự an toàn giao thông thì phải theo kế hoạch, nếu không có cảnh sát giao thông đi cùng thì kế hoạch phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Vậy nên, khi lực lượng cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động thực hiện công việc thường xuyên tại đường làng thì bạn có thể yêu cầu hộ đưa ra những giấy tờ liên quan đến kế hoạch tuần tra trật tự, an toàn giao thông tại nơi họ đang làm nhiệm vụ. Nếu họ không có giấy tờ hợp lệ thì họ không có quyền kiểm soát trật tự an toàn giao thông tại đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật giao thông miễn phí trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Giao thông - Công ty luật Minh Khuê