1. Quy định mới về mức phạt đi xe máy chở 3 người ?

Thưa luật sư, cho tôi hỏi tôi đi xe máy và chở ba người phía sau xe thì tôi sẽ bị phạt bao nhiêu tiền? Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

Quy định mới về mức phạt đi xe máy chở 3 người năm 2018

Luật sư tư vấn mức xử phạt theo luật Giao thông, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất là xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chở ba khi đi xe máy theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 6 Nghị định số: 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định như sau:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản
2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h, Điểm m Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm e Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Điểm a Khoản 8; Điểm d Khoản 9 Điều này;
b) Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt;
c) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”;
d) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;
đ) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;
e) Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;
g) Sử dụng đèn chiếu xa khi tránh xe đi ngược chiều;
h) Chở người ngồi trên xe sử dụng ô (dù);
i) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm d Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này.
2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;
b) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên;
c) Không sử dụng đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;
d) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;
đ) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;
e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;
g) Xe được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu ưu tiên không đúng quy định hoặc sử dụng thiết bị phát tín hiệu ưu tiên mà không có Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc có Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp nhưng không còn giá trị sử dụng theo quy định;
h) Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe.
3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;
b) Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;
c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;
d) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông;
đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 03 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;
e) Bấm còi, rú ga (nẹt pô) liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;
g) Xe không được quyền ưu tiên lắp đặt, sử dụng thiết bị phát tín hiệu của xe được quyền ưu tiên;
h) Dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; đỗ xe tại nơi có biển “Cấm đỗ xe” hoặc biển “Cấm dừng xe và đỗ xe”; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định này;
i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;
k) Chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
m) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;
n) Người ngồi phía sau vòng tay qua người ngồi trước để điều khiển xe, trừ trường hợp chở trẻ em ngồi phía trước;
o) Người đang điều khiển xe sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính.
4. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức);
b) Chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe;
c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;
d) Dừng xe, đỗ xe trên cầu;
đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép;
e) Điều khiển xe có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 7 Điều này;
g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà;
h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;
i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;
k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;
l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế;
m) Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.
Như vậy, về xử phạt vi phạm hành chính theo hình phạt chính của hành vi chở ba khi đi xe máy này của bạn là phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng.
- Thứ hai là ngoài hình phạt chính, bạn còn bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điểm b khoản 12 của Điều này như sau:
12. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu thiết bị phát tín hiệu ưu tiên lắp đặt, sử dụng trái quy định;
b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm m Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Khoản 6; Điểm a Khoản 7; Điểm a Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng;
c) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 7; Khoản 9 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi quy định tại Khoản 9 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng, tịch thu phương tiện. Thực hiện hành vi quy định tại một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h, Điểm m, Điểm n, Điểm o Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm m Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 5;
d) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 8; Khoản 10 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng.

Theo đó, bạn còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng. Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Học sinh chở ba gây tai nạn sẽ bị xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: bạn em chở em và 1 người nữa tức là chở 3 người do trời khuya và đã đâm chết 1 người đi bộ, cả 3 bọn em đều là hs lớp 12 và chưa có bằng và giấy phép. vậy luật sư hãy cho biết là mức xử phạt đối với người điều khiển là như thế nào và 2 người ngồi sau có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không thưa luật sư?

Học sinh chở ba gây tai nạn?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất. về trường hợp xử phạt vi phạm đối với người điều khiển xe:

Căn cứ Điều 12 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 12. Tuổi chịu rách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Căn cứ Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Căn cứ Điều Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao:

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 của Quốc hội quy định về quy tắc an toàn giao thông đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy:

Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

1. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

a) Chở người bệnh đi cấp cứu;

b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Trẻ em dưới 14 tuổi.

Như vậy trong trường hợp này bạn là học sinh lớp 12 thì tức là bạn đã đủ 16 tuôi nên bạn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tuy nhiên bạn không phân tích rõ tình huống của mình là nguyên nhân gây ra tai nạn là gì, có phải bạn vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường bộ hay không nên chưa có cơ sở khẳng định bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).Nhưng bạn có nêu ra trường hợp bạn chở người 03 người nếu không thuộc trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu đó là nguyên nhân trực tiếp gây ra làm chết một người nên trong trường hợp này bạn vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại cho tính mạng người khác nên bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Thứ hai về việc hai người bạn của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Theo quy định của pháp luật thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra với người có hành vi vi phạm. Trường hợp của bạn, vì người trực tiếp thực hiện hành vi tức là người thực hành là bạn, vì bạn điều khiển xe, còn hai người bạn chỉ người phía sau nếu thuộc trường hợp đồng phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 khi hành vi của bạn cũng bị truy cứu theo Điều luật này:

Căn cứ Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Nếu không thuộc trường hợp trên thì họ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với theo quy định tại điểm l khoản 3 Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

Ngoài ra còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 610 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Mức bồi thường tai nạn giao thông ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Khi nào xe máy được "kẹp" ba ? mức phạt như thế nào khi chở ba người tham gia giao thông ?

Thưa luật sư, chiều hôm qua tôi có đi đón các con của mình sau giờ tan học. Tôi chở hai con ngồi sau nhưng đã bị công an giao thông phạt tiền về việc chở quá số người quy định. Tôi làm như vậy có phải là sai không?
Cảm ơn luật sư!

Khi nào xe máy được

Mức xử phạt lỗi chở quá số người quy định, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo khoản 1 điều 30 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định:

Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy

1. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

a) Chở người bệnh đi cấp cứu;

b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Trẻ em dưới 14 tuổi.

Do chị chưa cung cấp đầy đủ thông tin chở hai con là bao nhiêu tuổi. Nên được chia làm hai trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Hai con của chị dưới 14 tuổi thì trong trường hợp này pháp luật hoàn toàn cho phép theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 30 luật giao thông đường bộ

- Trường hợp 2: Hai con của chị đã trên 14 tuổi thì không thuộc điều kiện cho phép người điều khiển xe máy được chở tối đa hai người. Trong trường hợp này mức xử phạt được quy định như sau:

Căn cứ theo điểm l khoản 3 điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP là:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

l) Chở theo 02 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Vi phạm giao thông: Lỗi chở ba khi đi xe gắn máy ?

Thưa luật sư! Luật sư cho con hỏi hiện tại chở ba bằng xe gắn máy nhưng có một trẻ em dưới 14t có bị phạt không ạ? Nếu có vậy thì chở ở độ tuổi nào mới không bị phạt ạ?

-Nhu Le

Trả lời:

Tại điều 30 Bộ luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

1. Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừ những trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:

a) Chở người bệnh đi cấp cứu;

b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Trẻ em dưới 14 tuổi.

Như vậy trong trường hợp của bạn thì việc chở 3 bằng xe gắn máy nhưng có 1 trẻ em dưới 14 tuổi sẽ không bị phạt.

5. Tư vấn pháp luật giao thông về điều khiển xe máy không đúng làn đường quy định ?

Thưa luật sư, Luật sư cho e hỏi là Em điều khiển xe máy không đúng làn đường quy định nhưng chưa gây tai nạn gì cả thì CSGT tước GPLX của e 3 tháng là có đúng không ạ???
-Diễm Hương Trần

Trả lời:

Theo quy định tại điểm G Khoản 4 điều 6 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định:

4. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc Điều khiển xe đi trên hè phố, trừ trường hợp Điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà;

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 15 Luật xử lí vi phạm hành chính năm 2012 quy định:

Điều 15,. Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính

1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.”

Như vậy trong trường hợp của bạn thì CSGT chỉ có thể lập biên bản xử phạt hành chính phạt tiền từ 300.000 đến 400.000 .CSGT không có quyền tước GPLX của bạn 3 tháng, vì thế bạn có quyền khiếu nại tới trụ sở Đội, Trạm cảnh sát giao thông nơi người lập biên bản công tác để khiếu nại.

6. Vi phạm giao thông đường bộ ?

Cháu cũng gặp trường hợp như nhiều người khác cụ thể là cháu đang đi ở đường quốc lộ 2B ,sau đó đi vào vòng xuyến và vẫn đi trên đường quốc lộ 2B ,nhưng khi qua vòng xuyến, thì bị công an giao thông thổi còi và ra tín hiệu tấp vào lề đường ,sau khi dừng lại thì anh công an nói cháu không xi nhan và bảo kiểm tra giấy tờ xe .chú cho cháu hỏi cháu đi như vậy có sai luật giao thông hay không và phải đi như thế nào mới là đúng Cháu cũng xin chia xẻ khi vào anh công an bảo lỗi của cháu phạt 300 có muốn bị phạt không và cháu bảo là không ạ sau đó anh công an bảo thế thì đưa tiền mặt cũng được như vậy thì cháu nên phản ứng thế nào mong chú tư vấn cho cháu ?

Cảm ơn chú ạ !

-Nguyễn Thị Ảnh

Trả lời:

Khoản 1 điều 15 Bộ luật giao thông đường bộ năm 2008 có quy định:

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

Căn cứ vào quy định trên và đối chiếu với trường hợp của bạn, khi rẽ trái tại ngã tư có vòng xuyến bạn có hai lần chuyển hướng nên phải thực hiện hai lần tín hiệu báo rẽ, lần một khi vào vòng xuyến bạn phải thực hiện tín hiệu báo rẽ sang trái và lần hai khi ra khỏi vòng xuyến bạn phải thực hiện tín hiệu báo rẽ sang phải.Việc bật tín hiệu báo rẽ ở đây nhằm thông báo hướng rẽ của bạn và đảm bảo an toàn cho người phía sau.

Như vậy theo quan điểm của chúng tôi,việc công an yêu cầu bạn dừng xe và báo lỗi về việc dùng tín hiệu báo rẽ như trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này hành vi của bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP như sau:

4. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp Điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức)

Từ quy định trên lỗi của bạn bị xử lí 300.000 đồng là đúng, quan điểm của chúng tôi là bạn nên tuân thủ đúng quy định của pháp luật là đề nghị anh công an lập biên bản để bạn nộp phạt hành chính cho vi phạm của mình.

7. Vi phạm giao thông: Lỗi chuyển hướng không có tín hiệu rẽ ?

Thưa luật sư, Cho cháu hỏi . c bị vi phạm giao thông : chuyển hướng không có tín hiệu báo rẽ. căn cứ vào nghị định nào để xử phạt ạ ? và bị phạt bao nhiêu tiền ạ ? cháu cám ơn nhiều ạ !
-Thuan Le Duc

Trả lời:

Theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông như sau:

4. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp Điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức)

Khoản 1 điều 15 Bộ luật giao thông đường bộ năm 2008 có quy định:

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

Như vậy căn cứ vào Bộ luật giao thông đường bộ năm 2008 và nghị định số 46/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông để xử phạt và trường hợp vi phạm sẽ bị phạt từ 300.000 đến 400.000 đồng.

8. Vi phạm giao thông đường bộ: Lỗi không đội mũ bảo hiểm ?

Thưa luật sư, Em bị giao thông còi từ tối hôm trước. em không đội mũ bảo hiểm không có giấy phép lái xe không có bảo hiểm. nghe điện thoại khi tham gia giao thông. và giao thông đã lập biên bản và hẹn e 7 ngày sau lên nộp tiền và lấy lại xe. E muốn hỏi là e có thể lên nộp phạt và lấy xe trước thời hạn 7 ngày được không. vì xe e đi làm hàng ngày nên rất cần ạ. xe máy thưa luật xư

-Dankuppi

Trả lời:

Khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính như sau:

1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Theo quy định trên, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bạn là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Do đó, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bị lập biên bản, cảnh sát giao thông có thể ra quyết định xử phạt hành chính bất cứ lúc nào. Vì vậy, bạn có thể liên hệ trực tiếp với cảnh sát giao thông để được nộp phạt sớm.

Ngoài ra trong trường hợp cảnh sát giao thông không chấp nhận việc ra quyết định xử phạt sớm hơn thời gian trong giấy hẹn, bạn có thể đến nộp phạt chậm mà không vi phạm pháp luật vì theo quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

Theo như quy định trên, bạn có thời hạn 10 ngày để thực hiện quyết định xử phạt hành chính. Như vậy nếu ngày cảnh sát giao thông hẹn bạn lên giải quyết (ngày ra quyết định xử phạt) mà bạn có việc bận không thể đến đúng hẹn, bạn có thể lên nộp phạt trong thời hạn 10 ngày sau đó mà không vi phạm pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê